Bùn Quỷ Thực - Chương 20: Nén Nhang Trên Mộ Không Tên
Mưa phùn bắt đầu giăng kín vạt trúc vàng bao quanh đầm Bồ Tầm khi canh ba vừa điểm. Hạt mưa mảnh như sợi cước, buốt buốt và dính nhớp, mang theo hơi lạnh…
Nội dung chương
Mưa phùn bắt đầu giăng kín vạt trúc vàng bao quanh đầm Bồ Tầm khi canh ba vừa điểm. Hạt mưa mảnh như sợi cước, buốt buốt và dính nhớp, mang theo hơi lạnh thấu xương của đợt gió mùa muộn màng tràn qua thung lũng Lĩnh Nam.
Tôi ngồi thu mình dưới một hốc đá phủ đầy rêu xanh ngay bìa rừng trúc, bật ngọn đèn pin nhỏ cài trên ngực áo.
Cuốn sổ tay bọc vải gai đã sờn rách bốn góc được kê cẩn thận trên đầu gối.
Suốt mười đêm lặn lội khắp thôn Vọng Ngưu Đôn và vùng phụ cận, ngòi bút của tôi đã vội vã ghi lại từng mảnh vỡ của một quá khứ tang thương. Từng mảnh là: nồi cám mực của Trần Lão Lực. Vành nón rách nát của cô Ba Cửu. Đống tro lạnh nơi chái bếp mụ Cả Lý. Tiếng thét đòi cơm của thằng Tiểu Mã. Bát canh cỏ đắng chát của cụ bà Bảy. Chiếc xe kéo chở xác người của bác phu bùn, nắm lúa lép của kẻ bỏ quê, manh chiếu rách nơi ngưỡng cửa miếu Thổ Địa của mẹ con Thị Miên, và ván cờ dang dở bên gốc gạo gai cổ thụ.
Từng câu chuyện,
từng cái tên gắn liền với trận đói năm 1937 hiện lên rành rọt trên trang giấy ố vàng. Chúng không còn là những dòng ghi chép dân gian đơn thuần, mà đã trở thành những vết thương chưa lành của vùng đất này, một vết thương bị giấu kín dưới bùn lầy suốt mấy mươi năm.
Cây bút máy trên tay tôi bỗng run rẩy. Giọt mực đen rơi xuống trang giấy,
loang ra thành một chấm tròn sẫm màu như thể giọt máu khô. Rừng trúc đêm nay im ắng một cách dị thường, không có tiếng ếch nhái kêu ran nơi vũng nước đọng, cũng chẳng có tiếng vỗ cánh của đàn vạc ăn đêm quen thuộc.
Cơn gió bấc thình lình đổi hướng.
Gió từ phương Bắc xa xôi dội về đột ngột, mang theo luồng khí lạnh căm căm cắt da cắt thịt. Hàng ngàn cây trúc vàng chen chúc nhau bên bờ đầm Bồ Tầm bắt đầu lay động dữ dội. Thân trúc già cọ xát vào nhau tạo nên những âm thanh ken két chói tai,
đanh gãy và khô khốc, gợi nhớ đến tiếng va đập của hàng vạn mảnh xương sườn dưới đáy huyệt mộ tập thể.
Lá trúc khô rụng rào rào xuống mặt đất ẩm ướt. Mùi bùn sình từ lòng đầm Bồ Tầm bốc lên nồng nặc hơn bao giờ hết,
quyện chặt với mùi thối rữa của rễ cây mục và mùi tanh tưởi của dòng nước chết. Cổ họng tôi nghẹn lại, một vị lợ lợ tanh nồng dâng lên nơi đầu lưỡi.
Giác quan thứ sáu của tôi bắt đầu phát tác dữ dội, giật thót từng hồi dọc sống lưng. Dưới màng nhĩ, tiếng ù ù trầm đục nổi lên, ban đầu chỉ như tiếng gió rít qua những khe rỗng của thân trúc, nhưng càng lúc âm thanh ấy càng trở nên rõ ràng và sắc nhọn.
Đó là tiếng khóc.
Tiếng khóc không phát ra từ một gốc trúc cụ thể, mà rỉ ra từ khắp bốn phương tám hướng,
trồi lên từ lòng đất nhão nhoét, trượt dọc theo những lóng trúc trơn tuột vì nước mưa. Hàng trăm âm thanh than khóc, rên rỉ, ai oán của những con người đã bỏ mạng trong thảm cảnh năm Đinh Sửu đồng loạt hòa vào nhau, xé toạc màn đêm tĩnh mịch.
- Đói quá... Mẹ ơi, con đói cào ruột rách gan rồi...
- Cho tôi xin một ngụm nước cháo... Một hạt tấm thôi cũng được...
- Bùn... Bùn nuốt mất chân tao rồi... Cứu với...
Những tiếng nấc nghẹn ngào chen lẫn tiếng gào thét tuyệt vọng dội thẳng vào hai tai tôi. Âm hưởng của vạn quỷ dạ thoại u uất và bi thương đến tột cùng. Trong bóng tối lờ mờ của vạt trúc vàng,
những vệt sáng lân tinh xanh lét bắt đầu le lói hiện ra. Ban đầu chúng chỉ nhỏ như những con đom đóm lập lòe sát mặt đất, rồi nhanh chóng bùng lên, trôi bồng bềnh lơ lửng giữa những thân trúc cao vút.
Ánh sáng ma quái chập chờn rọi rõ những hình bóng nhợt nhạt đang quẩn quanh khắp vạt rừng.
Tôi nhìn thấy bóng lưng còng rạp của cụ bà Bảy đang lần mò dưới đất tìm từng cọng cỏ dại.
thấy dáng dấp gầy trơ xương của bác phu bùn đang gồng mình kéo chiếc xe chở đầy đất sét. thấy bóng dáng mụ Cả Lý ngồi bó gối bên đống tro tàn, Bàn tay khô khốc cào cấu vào khoảng không.
Hàng chục, rồi hàng trăm bóng ma đói khát lướt qua lướt lại, miệng không ngừng mấp máy cầu xin một mẩu thức ăn thừa.
Mặt đất dưới chân tôi khẽ rung chuyển.
Những tiếng lục bục nổi lên liên tiếp từ lòng vũng lầy Bồ Tầm. Lớp bùn non đen ngòm không còn nằm yên dưới đáy rãnh nước mà bắt đầu cuộn trào thành từng đợt sóng nhớp nháp. Bùn đặc sền sệt dâng cao,
trườn qua các mép cỏ khô, bò lan trên mặt đất như thể một bầy rắn khổng lồ mang màu sắc của tử khí. Đi đến đâu, thứ bùn ấy nuốt chửng từng búi rễ trúc, bóp nghẹt sự sống của những chồi non vừa nhú.
Cây cối ngả nghiêng răng rắc khi lớp đất thịt bị sình lầy lấn át và xói mòn. Tôi vội vàng đứng bật dậy, lưng ép chặt vào vách đá phía sau. Bàn chân tôi vừa lùi lại nửa bước thì lớp bùn nhão đã tràn tới mép giày,
lạnh buốt và nặng trĩu. Mùi tanh tưởi xộc thẳng vào mũi khiến tôi nôn nao, cảm giác như thứ sình lầy này đang sống, đang thở, đang thèm khát nuốt trọn mọi sinh linh bước vào lãnh địa của nó.
Giữa biển âm thanh hỗn loạn của tiếng khóc than và tiếng gầm gừ của bùn lầy, ánh mắt tôi hướng về phía gò đất cao nằm sát mép nước đầm Bồ Tầm.
Trên đỉnh gò, qua làn khói xám mờ ảo do bùn đất bốc lên, một bóng người đứng sừng sững ngược chiều gió. Dáng người nhỏ nhắn, khoác chiếc áo chàm đã bạc màu, mái tóc hoa râm búi chặt sau gáy. Đó là Hương Bà.
Bà cụ đứng bất động giữa trận cuồng phong, vạt áo chàm bay phần phật trong gió bấc. Hai tay bà chắp lại trước ngực, môi lẩm nhẩm những câu chú ngữ cổ xưa bằng thứ ngôn ngữ Lĩnh Nam ríu rít mà tôi không thể hiểu hết. Dưới chân bà,
bùn đen dâng lên đến tận bắp chân nhưng hình như không thể chạm vào gấu quần của bà, tựa hồ có một bức tường vô hình ngăn cách giữa bà và thứ sình lầy ma quái.
Bỗng nhiên, Hương Bà vung mạnh cánh tay phải lên không trung.
Một nắm bùa chu sa màu đỏ rực bay vút ra từ bàn tay gầy guộc của bà. Những mảnh giấy bản thau màu máu lượn vòng giữa cơn mưa phùn buốt giá, phát ra những tia lửa lách tách rồi cắm phập xuống các vết nứt đang toác rộng trên mặt đất.
Oanh!
Một tiếng nổ trầm đục vang lên dưới lòng đất. Nơi những lá bùa chu sa ghim xuống, ánh sáng đỏ tươi bùng cháy dữ dội, thiêu đốt lớp bùn đen đang trườn tới. Bùn non gặp phải lửa bùa lập tức sủi bọt trắng xóa,
phát ra những tiếng kêu xèo xèo ghê rợn giống như mỡ lợn rơi vào chảo than hồng. Đợt sóng bùn khổng lồ tạm thời bị ghìm giữ, chững lại trong gang tấc trước miệng hốc đá nơi tôi đứng.
Nhưng thân hình của Hương Bà trên đỉnh gò đất cũng chao đảo dữ dội. Làn khói xám quanh bà bắt đầu mỏng dần, để lộ gương mặt nhợt nhạt, mệt mỏi cùng đôi mắt trũng sâu vì hao tổn nguyên khí.
Bà cụ không quay đầu lại nhìn tôi, nhưng giọng nói đanh thép, vang rền của bà thình lình dội thẳng vào tâm thức tôi, rõ mồn một từng câu từng chữ giữa tiếng gào thét của bầy vong đói:
- Tô Triều Hành! Cậu nghe cho rõ đây! Vũng lầy Bồ Tầm này chỉ là một nhánh rẽ nhỏ nhoi nơi hạ lưu mà thôi!
Tiếng thét của bà át cả tiếng gió bấc gầm rú:
- Đám bùn quỷ này không sinh ra từ mảnh đất Vọng Ngưu Đôn!
Cội nguồn của bầy Quỷ Thực Nê đang cựa mình thức giấc nằm tận vùng núi sâu Tương Tây bên kia biên giới Hồ Nam!
Nơi đó mới là cội rễ của đại trận trấn yểm năm Đinh Sửu!
Nếu không phá được lò luyện oán khí ở Tương Tây, toàn bộ vùng duyên hải Lĩnh Nam này sớm muộn gì cũng biến thành một cái đầm thây người ngập ngụa bùn đen!
Lời cảnh báo của Hương Bà như một tiếng sét xé toạc bóng tối vây bủa xung quanh tôi. Đoàn người áo đỏ năm xưa,
những xác chết đói bị chôn vùi có chủ đích, hoa văn chữ Phạn ngược trên tấm tã lót của đứa trẻ sơ sinh, và ván cờ bùn dang dở bên gốc gạo gai. Tất cả manh mối đều trỏ về một hướng duy nhất: vùng rừng núi hiểm trở của đất Hồ Nam.
Gió bấc lại gầm lên một tiếng điên cuồng.
Hình bóng của Hương Bà trên đỉnh gò đất mờ dần rồi tan biến vào màn mưa phùn dày đặc,
như thể một ảo ảnh được sinh ra từ chính oán khí của rừng trúc. Cùng lúc đó, nắm bùa chu sa cắm dưới đất bắt đầu lụi tàn trước sức ép khủng khiếp của lớp bùn đen đang cuồn cuộn dâng trở lại.
Một mảnh bùa đỏ rực bị gió cuốn bay vút qua không trung, lao thẳng về phía tôi rồi ghim chặt vào thân một cây trúc vàng ngay cạnh hốc đá.
Trên nền giấy bản màu đỏ thẩm loang lổ vết cháy xém, một vệt mực đen ngoằn ngoèo lộ ra rõ nét. Đó là hình vẽ một nhánh sông uốn lượn kẹp giữa hai dãy núi cao ngút ngàn,
bên cạnh có ghi ba chữ cổ sắc nhọn: "Thần Khê Động". Mảnh bùa này chính là chỉ dẫn địa lý cụ thể nhất, một lời mách bảo không lời buộc tôi phải rời bỏ mảnh đất Lĩnh Nam ẩm ướt này để dấn thân vào chốn rừng thiêng nước độc phương Bắc.
Đúng lúc tôi toan vươn tay giật lấy mảnh bùa trên thân trúc, mặt đất dưới chân tôi bỗng phát ra một tiếng rắc kinh hoàng.
Đá tảng nứt toác.
Mảng đất thịt nâng đỡ hốc đá sụp đổ hoàn toàn dưới sức nặng của lớp bùn nhão. Một hố sâu thăm thẳm mở toạc ra ngay dưới gót giày tôi, bên dưới ngập ngụa một thứ bùn đen quánh đặc đang sôi sục ùng ục, phả lên mùi xú uế tanh tưởi nồng nặc.
Trọng lực kéo cả cơ thể tôi rơi thẳng xuống miệng vực tối tăm.
Không khí xung quanh bị xé rách bởi tiếng gào thét man dại của hàng trăm oan hồn đang chực chờ nuốt chửng một kẻ sống sót. Trong tích tắc ngàn cân treo sợi tóc, tôi dồn hết sức bình sinh, nghiêng người vung tay chộp lấy thân cây trúc vàng trước mặt.
Ngón tay tôi chạm vào mặt giấy thô ráp của mảnh bùa chu sa đang bốc cháy đỏ rực. Hơi nóng từ ngọn lửa thiêng cắn rách da thịt,
nhưng tôi vẫn siết chặt lấy nó giữa lúc bùn đen lạnh buốt từ dưới đáy vực trào lên, cuốn phăng đôi chân tôi vào vòng xoáy tăm tối của vũng lầy Bồ Tầm.