Bùn Quỷ Thực - Chương 22: Lò Luyện Trấn Yểm Cuối Làng

Tiếng chuông đồng rỉ sét vẫn buông từng nhịp khô khốc giữa màn sương núi. Mỗi lần gió bấc quét qua hẻm đá, thanh âm ấy lại vang lên đứt quãng, lẫn vào…

Nội dung chương

Tiếng chuông đồng rỉ sét vẫn buông từng nhịp khô khốc giữa màn sương núi.

Mỗi lần gió bấc quét qua hẻm đá, thanh âm ấy lại vang lên đứt quãng, lẫn vào tiếng nước róc rách chảy ngầm dưới những tảng đá vôi tai mèo.

Đất dưới chân tôi xốp và nhão, phủ đầy lá trúc mục rữa lâu ngày bốc lên thứ mùi chua nồng của xác thực vật.

Cứ đi được chừng mươi bước dọc theo lối mòn dốc đứng, tôi lại bắt gặp một thân trúc già có buộc sợi chỉ đỏ đã ngả sang màu xám xịt.

Đầu mút của những sợi chỉ ấy đều thắt một nút gút hình chân rết bảy múi, dấu tích chỉ đường đặc trưng của dòng họ Hương Bà mà tôi từng thấy trên mảnh vải bọc hài nhi ở vũng lầy Bồ Tầm.

Con đường mòn gập ghềnh vắt qua eo núi hẹp, mở ra một thung lũng đá sâu hun hút.

Nằm lọt thỏm ngay dưới chân vách đá dựng đứng là một căn nhà sàn ba gian cũ kỹ. Mái nhà lợp bằng nhiều lớp vỏ cây sam rừng xếp chồng lên nhau,

phủ đầy rêu xanh thẫm và những bụi dương xỉ rũ xuống lòa xòa. Bốn bề vách núi đá vôi xám xịt ôm trọn lấy căn nhà, chắn hết mọi ngọn gió lớn, biến nơi đây thành một cái hốc tối tăm và ẩm thấp đến rợn cả gáy.

Tôi đứng lại ở bờ dốc, giơ cao chiếc đèn pin để quan sát.

Khắp các hàng cột gỗ bên ngoài hiên nhà đều giăng chằng chịt những dải bùa chu sa.

Mực đỏ trên giấy bản đã phai nhạt vì sương núi qua nhiều năm tháng, mép giấy rách tơi tả bay phất phơ trong gió đêm.

Dưới gầm sàn cao ngang ngực người lớn, hàng chục bó rễ ngải cứu phơi khô được treo ngược thành từng hàng dài sát nhau, tỏa ra mùi hăng nồng át đi phần nào hơi ẩm của rãnh nước ngầm chảy qua móng đá.

Cứ cách ba bó rễ thảo mộc lại có một chùm chuông gió kết bằng đốt xương thú rừng xâu chỉ đỏ, chạm vào nhau phát ra những tiếng lách cách khô khốc mỗi khi có luồng khí lạnh lùa qua.

Mùi bùn tanh nồng nặc mà tôi ngửi thấy dưới bến phà hình như bắt nguồn từ chính khe nứt phía sau vách đá của căn nhà này.

Tôi bước chầm chậm qua khoảng sân nhỏ rải đầy sỏi vụn, bước chân cố ý giẫm mạnh để tạo ra tiếng động báo trước. Khi mũi giày tôi chạm vào bậc thang gỗ đầu tiên dẫn lên sàn nhà, tiếng chuông xương thú dưới gầm sàn đột ngột im bặt.

Gió núi ngừng thổi.

Không gian chung quanh chìm vào một sự im lặng kỳ dị, chỉ còn tiếng giọt nước nhỏ tong tỏng từ mái hiên xuống phiến đá kê chân.

Tôi hít một hơi sâu, cất tiếng gọi vào gian nhà tối om:

- Có ai ở nhà không? Tôi từ Lĩnh Nam lặn lội đến đây tìm người nhà họ Hương.

Lời vừa dứt, một tiếng "tách" đanh gọn vang lên từ sau cánh cửa liếp hé mở.

Một mũi tên nỏ bọc sắt nhọn hoắt lao xé gió, cắm phập vào cột gỗ ngay sát mang tai tôi chưa đầy nửa tấc. Đuôi tên buộc lông chim ó vẫn còn run rẩy bần bật,

phát ra tiếng vo ve ghê người. Cùng lúc đó, bóng người từ sau cánh cửa liếp bước nhanh ra ngoài hành lang gỗ. Đầu ngọn nỏ thứ hai trên tay người nọ đã kéo căng dây, đầu mũi tên sắt bóng loáng chĩa thẳng vào giữa ngực tôi.

Đứng trước mặt tôi là một cô gái trẻ trạc ngoài đôi mươi.

Cô mặc bộ quần áo chẽn bằng vải chàm sẫm màu của người miền núi, ống tay áo và gấu quần đều được bó chặt bằng những dải vải gai bện chỉ đỏ.

Mái tóc đen nhánh của cô búi cao gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ đào mài nhẵn.

Cổ tay cô đeo một chiếc vòng bạc bản dày có khắc những đường phù chú ngoằn ngoèo giống hệt hoa văn trên mảnh bùa chu sa tôi nhặt được.

Đôi mắt cô gái sắc lạnh, con ngươi đen láy không hề chớp, chiếu thẳng vào mặt tôi với vẻ cảnh giác cao độ.

- Lùi lại ba bước

- Giọng cô gái vang lên gãy gọn, lạnh buốt như nước suối đầu nguồn - Bước thêm nửa bước nữa, mũi tên này sẽ găm thủng cuống họng anh.

Tôi từ từ giơ hai tay lên ngang vai để lộ lòng bàn tay trống không, thân mình đứng yên trên bậc thang gỗ:

- Tôi không mang theo hung khí. Tôi không có ác ý.

Miệng lưỡi kẻ sống hay nói lời xảo trá, còn xác chết trôi sông thì không biết nói năng. Cô gái nhíu mày,

ngón tay trỏ vẫn đặt chặt trên lẫy nỏ - Nửa đêm nửa hôm mò vào khe núi Thần Khê, anh là phường trộm mộ muốn đào bới xới lộn đồ chôn theo người chết, hay là kẻ đã nuốt phải bùn sống rồi bị quỷ đói dẫn xác đến đây nộp mạng?

Nhìn ánh mắt đằng đằng sát khí của cô,

tôi biết chỉ cần một cử động bất thường thì mũi tên kia sẽ lập tức rời dây. Dòng họ phù thủy trấn yểm ở chốn thâm sơn cùng cốc này ắt hẳn đã quen sống trong cảnh đề phòng mối hiểm nguy từ những thứ trồi lên từ lòng đất.

- Tôi đến từ bờ Tây Giang, thị trấn Vọng Ngưu Đôn

- Tôi nói chậm rãi, cố giữ giọng thật bình tĩnh - Tôi mang theo vật này từ tay một người họ Hương giao lại trước lúc vũng lầy Bồ Tầm sụt lún.

Dứt lời, tôi dùng hai ngón tay cẩn thận thò vào túi áo khoác ngực, rút ra chiếc túi gấm nhỏ màu đỏ đã sờn rách mép. Bên trong chiếc túi ấy là nắm tro tàn của đám bùa chu sa cùng mảnh giấy bản bị cháy xém ghi ba chữ "Thần Khê Động".

Tôi giơ chiếc túi gấm về phía trước bằng một tay.

Đôi mắt cô gái dao động khi nhìn thấy hoa văn thêu hình cành dâu gai trên miệng túi gấm. Cô bước lại gần mép sàn gỗ một bước, đầu nỏ vẫn giữ nguyên hướng nhắm, nhưng ánh mắt đã chăm chú ghim chặt vào nút thắt chỉ đỏ nối miệng túi.

- Đưa cho tôi xem

- Cô gái ra lệnh.

Tôi cẩn thận bước lên thêm hai bậc thang, đặt chiếc túi gấm xuống mặt sàn gỗ rồi lập tức lùi lại ba bước như lời cô dặn.

Cô gái khom người, tay trái nhanh như cắt chộp lấy chiếc túi gấm mang lên trước mặt. Ngón tay thon dài của cô lướt qua đường chỉ khâu mép túi,

rồi lật mở mảnh giấy bản cháy xém bên trong ra soi dưới ánh trăng mờ. Nhìn thấy ba chữ "Thần Khê Động" nét bút sắc nhọn như dao khắc cùng vết máu khô thấm trên giấy, bờ môi cô khẽ mím chặt lại.

- Nút thắt chân rết bảy múi này... là thủ pháp của bà cố tôi

- Cô gái lẩm bẩm, giọng nói chùng xuống đôi chút nhưng vẻ cảnh giác vẫn không hề suy giảm - Mảnh bùa này bị đốt bằng ngọn lửa nghịch hành của bùa hộ mệnh. Người giao vật này cho anh... bà ấy còn đứng vững trên mặt đất không?

- Lúc mảnh đất quanh gốc gạo gai sụp đổ, bà ấy đã vung hết nắm bùa chu sa cuối cùng để chặn sóng bùn đen dâng lên

- Tôi đáp thành thật - Khói xám tan đi thì bóng hình bà ấy cũng biến mất giữa màn mưa phùn. Bà ấy chỉ kịp dặn tôi phải tìm về Thần Khê Động trước khi mạch oán khí ở Tương Tây bùng phát.

Cô gái im lặng hồi lâu. Cô cất mảnh bùa vào túi áo chẽn, buông tay hạ cây nỏ săn xuống bên hông, nhưng vẫn không lùi bước:

- Tôi tên Chiêu Lam. Bà cố tôi bỏ xứ Lĩnh Nam mà đi đã mấy mươi năm, chưa từng gửi tin tức gì về lại hẻm núi này. Anh mang được vật của bà ấy về đây, tôi tạm tin lời anh. Nhưng quy củ của đất Thần Khê thì không thể bỏ.

Chiêu Lam rút từ thắt lưng ra một chiếc gương đồng nhỏ cỡ lòng bàn tay và một nhúm bột màu trắng ngà. Cô bước xuống hai bậc thang, đứng đối diện tôi cách một sải tay.

- Ngửa mặt lên, nhìn thẳng vào mặt gương

- Cô gái gằn giọng.

Tôi làm theo lời cô, ngước nhìn vào mặt gương đồng mờ đục. Chiêu Lam giơ chiếc gương sát vào mặt tôi,

ngón tay cô bất thần đưa lên vạch mi mắt dưới của tôi ra quan sát thật kỹ. Con ngươi trong gương phản chiếu ánh sáng đùng đục, lòng trắng mắt tôi vẫn còn vài tia máu đỏ do thức trắng nhiều đêm đường trường, nhưng không hề có những đốm đen li ti hình hạt cát.

Tiếp đó, Chiêu Lam cúi sát người lại gần, ghé mũi ngửi hơi thở của tôi.

Hành động của cô đột ngột và dứt khoát đến mức tôi cảm nhận rõ luồng gió lạnh từ tà áo chàm của cô phả vào mặt. Sau khi ngửi thấy mùi khói thuốc lá thông thường và mùi lương khô chua loãng, vẻ căng thẳng trên gương mặt Chiêu Lam mới giãn ra đôi phần.

- May cho anh là trong mắt chưa có bùn đọng, hơi thở cũng chưa bốc mùi rêu thối của đáy mồ

- Chiêu Lam nói, giọng bớt đi vẻ cay nghiệt - Nếu trong họng anh có mùi bùn non,

tôi đã bắn xuyên trán anh từ lúc anh vừa bước chân lên cầu thang rồi. Những kẻ đã lỡ nuốt phải một ngụm bùn quỷ thì dù còn đi đứng nói cười được, bên trong cũng chỉ là cái vỏ rỗng bị tà linh điều khiển mà thôi.

Cô gái xoay người bước ngược lên sàn gỗ, lấy một nắm bột vôi trắng rắc thành một vệt dài vắt ngang bậu cửa ra vào.

- Bước qua vệt vôi này rồi vào nhà. Giày dép cởi bỏ lại ngoài bậc thềm, không được mang một hạt đất nào ở sườn núi vào gian giữa.

Tôi cởi đôi giày bệt bết dính bùn đất ẩm ướt để ngoài góc hiên, chỉ mang đôi tất len mỏng bước qua lằn vôi trắng tiến vào trong.

Bên trong căn nhà sàn rộng rãi nhưng trống trải đến lạ lùng. Không có bàn ghế chạm trổ hay đồ đạc đắt tiền, gian giữa chỉ đặt một bếp lửa hình vuông khoét sâu xuống mặt sàn gỗ,

xung quanh kè bằng những phiến đá xám phẳng phiu. Trên bếp, một ấm nước bằng gang đang sôi lục bục, tỏa ra làn khói mỏng mang mùi lá ngải cứu khô đắng nghét. Khói thuốc quyện vào không gian mù mịt, bám vào từng thanh xà nhà đen bóng bồ hóng.

Chiêu Lam ngồi xuống bên bếp lửa, chỉ tay về phía chiếc đôn gỗ đối diện:

- Ngồi đi. Uống một bát nước ngải cho ấm tỳ vị. Khí ẩm của núi đá Tương Tây này độc lắm, người vùng xuôi lên đây không quen rất dễ bị cảm hàn nhập vào xương.

Tôi ngồi xuống đôn gỗ, đón lấy chiếc bát sành sứt mép chứa thứ nước màu nâu sẫm mà cô rót ra từ ấm gang. Nước ngải cứu đắng ngắt nơi đầu lưỡi,

nhưng khi nuốt xuống cổ họng lại bốc lên một luồng hơi nóng lan tỏa khắp lồng ngực, xua tan cái lạnh buốt thấu xương tích tụ suốt dọc đường vượt sông Đà Giang.

- Lúc ở bến phà, lão chèo đò Thẩm Lão Hán có nhắc đến đụn đất sống trong hũ đồng của nhà cô

- Tôi đặt bát nước xuống mặt đá, nhìn thẳng vào gương mặt gầy guộc của Chiêu Lam - Vũng lầy Bồ Tầm dưới xuôi đã bắt đầu nuốt người. Đám bùn đen ấy rốt cuộc có liên hệ gì với hẻm núi này?

Nghe tôi nhắc đến "đụn đất sống", bàn tay Chiêu Lam đang gắp than bỗng khựng lại. Cô gác que cời than bằng sắt lên miệng lò, ánh mắt nhìn trừng trừng vào ngọn lửa đỏ rực đang cháy lép bép.

- Lão Thẩm chỉ biết một mà không biết mười

- Chiêu Lam chậm rãi nói, giọng trầm đục - Năm Đinh Sửu một chín ba bảy, nạn đói tràn qua khắp vùng Lĩnh Nam sang tận mé nam Hồ Nam này.

Người chết đói nằm la liệt vệ đường, cỏ cây rễ rác bị bới tung lên ăn sạch.

Đến khi không còn gì bỏ vào mồm, người ta bắt đầu đào bới đất sét trắng dưới lòng đầm lầy lên để nuốt.

Đất sét nhét đầy dạ dày không tiêu hóa được, trương phềnh lên làm nứt ruột mà chết.

Hàng ngàn oan hồn đói khát chết trong uất ức, oán khí tụ lại không tan, hòa lẫn vào mạch nước ngầm sinh ra Quỷ Thực Nê.

Cô gái hít một hơi dài, khói ngải cứu bảng lảng quanh gương mặt nghiêm nghị:

- Đám bùn quỷ đó không có hình hài cố định. Chúng là tập hợp của những cơn đói cồn cào triền miên. Nơi nào có người chết đói, nơi đó bùn quỷ trỗi dậy, biến xác thịt con người thành bùn đất để tiếp tục gieo rắc tai ương. Năm đó,

các bậc trưởng bối của họ Hương chúng tôi đã phải dùng đến đại trận trấn yểm dọc theo bờ Tây Giang để gom giữ tà linh ấy lại. Nhưng sức người có hạn, không ai có thể tiêu diệt hoàn toàn một thứ sinh ra từ ký ức đói khổ tập thể của muôn dân.

- Nghĩa là pháp thuật của Hương Bà năm xưa chỉ là kế sách tạm thời?

-

- Tôi hỏi dồn.

- Đúng vậy

- Chiêu Lam gật đầu, ánh mắt nặng trĩu - Họ Hương chỉ có thể phong ấn và chia tách nguồn cội của nó ra làm nhiều phần.

Phần thân xác bùn lầy bị ép nằm im dưới lòng vũng lầy Bồ Tầm bên bờ sông Lĩnh Nam, còn cội rễ oán niệm sâu nặng nhất bị chuyển dời về hẻm núi Thần Khê này, nhốt vào một chiếc hũ đồng rèn bằng lửa ngải cứu.

Bà cố tôi nhận phần ở lại Lĩnh Nam canh chừng vũng lầy, còn nhánh của tôi thì lui về ẩn tích nơi khe đá Tương Tây này để trấn giữ cái hũ ấy.

Gian nhà sàn chìm vào im lặng. Chỉ có tiếng que than nổ lách tách trong bếp lửa và tiếng gió rít qua những khe ván hẹp.

Tôi nhìn quanh gian phòng tối, nơi bóng tối hình như đang dồn nén lại ở các góc nhà. Ánh lửa bập bùng hắt lên vách nứa những hình thù méo mó, chập chờn.

- Nhưng tại sao sau ngần ấy năm yên ổn, vũng lầy dưới xuôi lại phát tác dữ dội như vậy?

-

- Tôi cất tiếng hỏi tiếp.

Chiêu Lam ngước nhìn lên những thanh xà nhà đen kịt, giọng nói lạnh tanh:

- Bùa chú của dòng họ chúng tôi dựa vào khí mạch của đất trời.

Cứ tròn một giáp sáu mươi năm, cọc gỗ mục nát, bùa chu sa tan biến theo mưa nắng, phong ấn sẽ tự động suy yếu đi một lần.

Năm nay chính là hạn kỳ sáu mươi năm lần thứ hai kể từ ngày lập trận trấn yểm.

Không riêng gì vũng lầy Bồ Tầm đâu.

Suốt mấy tháng qua, mạch nước ngầm dưới khe núi Thần Khê này đã bắt đầu đổi màu.

Bùn đất khắp nơi đang cựa quậy, chúng ngửi thấy mùi sinh khí của trần gian và đang tìm cách xé toạc lớp phong ấn cũ kỹ để trồi lên.

Lời của Chiêu Lam vừa dứt, một âm thanh lạ lùng bỗng vang lên từ bên dưới sàn gỗ.

Cọt... kẹt...

Đó là tiếng ma sát nặng nề của các thanh dầm gỗ chịu lực bên dưới căn nhà. Tiếng kêu không giống như gỗ co ngót vì nhiệt độ ban đêm, mà nghe như có vật gì đó trơn nhẫy, to lớn và ướt sũng đang chầm chậm trườn qua các trụ đá đỡ sàn nhà.

Chiêu Lam lập tức im bặt. Bàn tay cô vươn nhanh ra chụp lấy chuôi dao găm cài bên hông, toàn thân căng cứng như dây cung.

Tôi nín thở, lắng tai nghe ngóng.

Tiếng cọt kẹt mỗi lúc một rõ rệt hơn,

dịch chuyển từ mép gầm sàn phía vách núi đá dần dần tiến vào ngay bên dưới vị trí bếp lửa chúng tôi đang ngồi. Đi kèm với tiếng cọ xát ấy là mùi tanh nồng nặc của bùn thối rữa, xộc qua những khe hở giữa các tấm ván sàn xông thẳng vào mũi.

Mùi tanh này giống hệt thứ mùi bốc lên từ vũng lầy Bồ Tầm vào đêm mưa lũ.

Đôi mắt Chiêu Lam ghim chặt xuống sàn nhà ngay dưới chân tôi.

Tôi hạ tầm mắt nhìn theo hướng cô đang quan sát.

Trên nền gỗ sam xám xịt đã mài nhẵn qua nhiều thế hệ, một khe nứt nhỏ dài chừng hai tấc bỗng nhiên rung rinh khe khẽ. Rồi từ trong kẽ hở tối tăm ấy, một thứ dịch bùn đen nhánh, quánh đặc và ướt rượt bắt đầu từ từ đùn lên.

Nó không chảy loang lổ như nước bẩn thông thường.

Khối bùn đen ấy đặc sệt như mỡ đặc, trồi lên từng chút một, sôi ùng ục những bọt khí nhỏ li ti. Trước sự chứng kiến sững sờ của tôi và Chiêu Lam, lớp bùn non uốn lượn, tự nén lại trên mặt ván gỗ rồi định hình thành một vết lõm rõ rệt.

Đó là hình dáng một bàn chân trẻ con trần trụi.

Năm ngón chân bằng bùn đen bóng in hằn sâu hoắm trên nền gỗ, từng ngón co quắp lại như đang cố bấu víu lấy mặt sàn để ngoi lên. Vệt bùn hình bàn chân ấy dừng lại một nhịp,

rồi từ đầu ngón chân cái, một vệt bùn đen thứ hai lại tiếp tục trườn tới, in tiếp một dấu chân nhỏ hơn, hướng thẳng từng tấc một về phía gót chân trần của tôi.

Chương khác

Xem thêm