Bùn Quỷ Thực - Chương 25: Đêm Đầu Tiên Trong Động Quỷ
Gió bấc từ khe núi Thần Khê gầm rít liên hồi bên ngoài vách ván, thúc từng luồng hơi lạnh buốt giá xuyên qua các khe hở của căn nhà sàn. Canh hai vừa…
Nội dung chương
Gió bấc từ khe núi Thần Khê gầm rít liên hồi bên ngoài vách ván, thúc từng luồng hơi lạnh buốt giá xuyên qua các khe hở của căn nhà sàn. Canh hai vừa điểm. Đêm thứ hai trên triền núi Tương Tây chìm ngập trong thứ bóng tối sền sệt, ẩm ướt và nặng trĩu sương muối.
Chiêu Lam mang theo một cây đèn bão bằng đồng, chao đèn đã ám muội khói đen. Cô bước đến góc buồng tối,
cúi người nhấc bổng then gỗ nghiến to bản cài ngang cánh cửa ngầm trên mặt sàn đá. Cánh cửa nặng trịch mở ra, phát ra tiếng cọt kẹt rợn cả gáy của những khớp gỗ lâu ngày không vận động, để lộ một miệng hầm vuông vức dẫn thẳng xuống lòng đất tối om.
Một luồng hơi đất ẩm mục, nồng nặc mùi rêu đá lẫn hơi lạnh buốt thấu xương lập tức từ dưới miệng hầm ùa lên, táp thẳng vào mặt tôi.
- Đi theo tôi. Cẩn thận từng bước chân, vách đá dưới này rất trơn
- Chiêu Lam nói nhỏ, giọng cô thấp và đanh, vang vọng một cách khô khốc.
Tôi siết chặt chiếc túi gấm chứa bột chu sa bên thắt lưng, bước từng bước lần theo những bậc đá dốc đứng gọt đẽo thô sơ. Bậc đá hẹp đến mức lòng bàn chân tôi chỉ đặt vừa một nửa,
hai bên vách đá vôi sần sùi rỉ nước róc rách, phủ đầy lớp rêu mốc đen kịt nhờn nhẫy. Càng xuống sâu, tiếng gió gầm rít trên mặt đất càng nhỏ dần, nhường chỗ cho tiếng nước nhỏ giọt đều đặn và tiếng hơi thở nặng nề của chính tôi.
Căn hầm nằm sâu dưới nền đá của ngôi nhà sàn, thực chất là một khoang hang ngầm tự nhiên ăn sâu vào lòng núi đá vôi. Không gian dưới này rộng chừng ba trượng,
trần hang nhấp nhô những cột thạch nhũ buông thõng xuống như hàm răng của loài dã thú khổng lồ. Bốn bề vách đá lạnh ngắt, đọng từng giọt nước trong vắt phản chiếu ánh sáng tù mù từ cây đèn bão trên tay Chiêu Lam.
Ngay chính giữa căn hầm đá là một bệ đá phẳng hình bát giác.
Đặt trên bệ đá ấy là một chiếc lò đồng ba chân cỡ lớn, lớp gỉ đồng xanh xám bám dày quanh thân lò.
Ba chiếc chân lò được đúc uốn lượn theo hình móng vuốt của loài quỷ dữ cắm sâu xuống mặt đá, chung quanh thân lò chạm nổi những phù điêu mặt quỷ dữ tợn với hai mắt trợn trừng, miệng há hốc để lộ những chiếc răng nanh nhọn hoắt.
Đây là Lò Trầm Dẫn Hồn do cố nội tôi mang từ Lĩnh Nam về vào cuối mùa đông năm 1937. Chiêu Lam đặt cây đèn bão xuống một góc bệ đá.
Nàng phủi nhẹ lớp bụi xám bám trên miệng lò. Nó từng được dùng để đốt trầm trấn áp linh thức của những người chết đói trước khi người ta đào hố chôn chung họ bên bờ sông. Đêm nay, tôi dùng nó để giúp cậu soi kiếp.
Tôi bước lại gần, ngắm nhìn chiếc lò đồng cổ quái:
- Soi kiếp? Tôi sẽ nhìn thấy những gì dưới đáy lò này?
Chiêu Lam không trả lời ngay. Cô ngồi quỳ trên tấm nệm cói trải sẵn bên bệ đá,
mở chiếc hộp gỗ mun mang theo bên người. Bên trong hộp xếp ngay ngắn từng thỏi trầm hương màu đen nhánh, dài chừng nửa đốt ngón tay, bề mặt rỉ ra những giọt dầu bóng loáng cùng vài lá bùa giấy màu vàng viết bằng chu sa tươi.
- Cậu mang giác quan bẩm sinh nghe được tiếng kêu của người cõi âm,
lại từng nuốt phải khí độc của vũng lầy Bồ Tầm. Chiêu Lam vừa xếp những mẩu than gỗ nghiến đã ủ ấm vào lòng lò. Nàng vừa chậm rãi giải thích: Mối liên kết giữa cậu và thực thể Quỷ Thực Nê đã hình thành. Nếu không nhìn thấy tận cùng căn nguyên sinh ra thứ oán niệm ấy,
cậu sẽ vĩnh viễn bị nó bám đuổi, tâm trí cậu sẽ dần bị tiếng gào đòi ăn ăn mòn cho đến lúc phát điên. Lò trầm này dẫn lối cho linh thức của cậu đi ngược dòng thời gian, quay trở về thời khắc mọi tai ương bắt đầu hình thành.
Cô lấy đá lửa gõ mạnh vài nhịp. Tia lửa bén vào mớ bùi nhùi khô,
thổi bùng lên ngọn lửa nhỏ nhen nhóm lớp than gỗ bên trong lò. Khi than hồng bắt đầu tỏa ra ánh đỏ rực rỡ và hơi nóng gay gắt, Chiêu Lam cầm kẹp đồng gắp từng thỏi trầm đen nhánh thả vào giữa đống than.
Xèo... xèo...
Từng tiếng nổ lách tách vang lên khi dầu trầm tiếp xúc với nhiệt độ cao. Ngay sau đó,
cô thả tiếp một lá bùa màu vàng vào lòng lò. Tro giấy bốc cháy cuồn cuộn, một làn khói màu xám lam đậm đặc từ miệng lò há hốc của những hình phù điêu quỷ thần bắt đầu tuôn trào ra ngoài.
Khói trầm hương dày đặc nhanh chóng bao phủ bệ đá rồi lan khắp gian hầm chật hẹp. Mùi hương trầm không thanh khiết,
ngọt ngào như những loại hương đốt nơi cửa chùa, mà mang một mùi ngai ngái, nồng gắt, phảng phất vị đắng chát của thảo dược rừng sâu hòa cùng vị tanh tanh của bùn đất ủ lâu năm.
Khói xộc thẳng vào mũi, chọc sâu vào cuống họng khiến tôi ho sặc sụa, nước mắt chảy giàn giụa. Hai hốc mắt cay xè như bị xát ớt bột.
- Đừng nhắm mắt, cũng đừng nín thở
- Giọng Chiêu Lam trầm trầm vang lên giữa màn khói mờ ảo - Hít sâu luồng khí này vào lồng ngực. Để mùi vị của cái chết năm ba mươi bảy dẫn đường cho cậu. Giữ chặt túi chu sa,
dù thấy bất cứ điều gì cũng tuyệt đối không được bước chân ra khỏi ranh giới bệ đá này.
Tôi cắn chặt răng, nuốt xuống cơn buồn nôn đang dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng,
cố gắng hít vào một hơi thật sâu. Luồng khói trầm nóng rực tràn vào khí quản, chạy dọc xuống phổi như một dòng than đỏ rực. Đầu óc tôi bắt đầu quay cuồng dữ dội, bốn bề vách đá hình như nghiêng ngả, chao đảo.
Tiếng giọt nước róc rách trong hang ngầm tắt lịm. Ánh lửa đỏ của than hồng trong lò biến sắc, chuyển dần sang một màu xám tro hoang lạnh.
Không gian chung quanh tôi kéo dãn ra vô tận. Vách đá vôi xám xịt biến mất, thay vào đó là một khoảng trời xám ngoét, đùng đục như mắt người chết, treo lơ lửng trên những dải mây chì nặng trĩu.
Gió rít qua tai tôi từng hồi căm phẫn, mang theo cái lạnh thấu xương của mùa đông năm 1937 bên bờ sông Tây Giang.
Tôi nhận ra mình đang đứng giữa một bãi bùn lầy hoang tàn trải dài ngút tầm mắt. Đất đai khô cằn,
nứt toác ra thành những đường rãnh sâu hoắm như mai rùa, không có lấy một cọng cỏ xanh, một nhành lá khô còn sót lại trên những thân cây trơ trụi bị bóc sạch vỏ. Bầu không khí quánh đặc mùi hôi thối của xác động vật chết khô và mùi tử khí của con người.
Đó chính là vũng lầy Bồ Tầm thời tao loạn.
Phía trước tôi, một cảnh tượng kinh hoàng hiển hiện rõ mồn một từng chi tiết.
Hàng trăm con người gầy gò chỉ còn da bọc xương đang lê lết trên mặt bùn nứt nẻ. Thân hình họ khẳng khiu như những nhánh củi khô,
mắt hõm sâu vào sọ não, xương sườn nhô ra từng nấc rõ rệt dưới lớp da mỏng dính xám xịt. Những ngón tay của họ trơ xương, móng tay gãy vụn, tứa máu bầm đen vì điên cuồng bới móc từng tảng đất ẩm dưới đáy lòng đầm.
Đất... bùn trắng đây rồi...
Bùn non dưới rễ lau... ăn được... ăn vào là no...
Những tiếng thì thào khàn đặc, the thé của đàn ông, đàn bà và cả những đứa trẻ yếu ớt vang lên rợn cả gáy giữa đồng hoang. Họ không còn giữ được nhân dạng của người sống. Họ tranh cướp nhau từng nắm bùn màu xám trắng vừa móc được từ lòng đất sâu.
Một người đàn ông trung niên rách rưới vồ lấy một tảng bùn dẻo quánh dính đầy rễ cây mục nát. Ông ta không hề do dự, nhét trọn tảng bùn ấy vào miệng,
nhai ngấu nghiến. Tiếng răng va vào đất cát côm cốp ghê rợn vang lên giữa không gian tịch mịch. Bùn đất dính đầy khóe môi, trào ra hai bên mép, nhưng người đàn ông vẫn trừng mắt, dùng hai tay bóp chặt cổ họng mình để ép tảng bùn khô khốc trôi tuột xuống dạ dày.
Bên cạnh ông ta, một người đàn bà đang ôm chặt một đứa bé chừng ba tuổi. Đứa bé đói lả,
khóc không thành tiếng, đôi môi khô nẻ rỉ máu. Người mẹ quệt một nhúm bùn trắng nhão nhoét từ hốc đất dưới chân, nhét từng chút một vào cái miệng bé xíu đang há hốc của đứa con. Đứa trẻ nuốt lấy nuốt để thứ bùn đất tanh tưởi ấy như nuốt dòng sữa mẹ ngọt ngào.
Tôi đứng chôn chân giữa ảo cảnh, toàn thân run rẩy vì kinh hoàng và đau xót. Mùi tanh lợm của đất bùn thối rữa xộc thẳng vào khứu giác tôi, chân thực đến mức ruột gan tôi quặn thắt lại từng cơn.
Đó là Quỷ Thực Nê nguyên bản. Đó là thứ mà người ta gọi là đất Quan Âm trong những năm tháng đói kém cùng cực nhất của lịch sử Lĩnh Nam. Khi lúa gạo cạn kiệt,
rễ cây, vỏ tràm, chuột đồng hay cào cào đều bị ăn sạch, người ta chỉ còn biết tìm đến thứ bùn dẻo màu trắng nằm sâu dưới đáy các đầm lầy để lấp đầy dạ dày đang cào xé từng giờ.
Nhưng đất đá không phải thức ăn của loài người.
Cảnh tượng tiếp theo trước mắt tôi chuyển sang một vùng đất trũng gần bờ sông. Hàng chục người nằm la liệt bên những hố đào dở, bụng họ trương phình lên to lớn bất thường, căng bóng như quả bóng da chực nổ tung, trong khi tay chân lại khẳng khiu teo tóp như que củi.
Tiếng rên xiết thảm thiết vang vọng khắp cánh đồng. Đất bùn tích tụ lại trong dạ dày, không thể tiêu hóa,
vón lại thành từng khối cứng ngắc chặn đứng đường ruột của họ. Họ quằn quại trong cơn đau đớn cùng cực, hai tay cào xé rách toạc da bụng, nôn ra từng búng máu tươi lẫn đất cát xám xịt trước khi trút hơi thở cuối cùng trong sự no giả tạo đầy bi kịch.
Máu của họ chảy tràn ra đất, thấm sâu vào lòng đầm Bồ Tầm.
Hàng trăm, hàng nghìn sinh mạng ngã xuống trong cơn đói khát cùng cực, chết đi với chiếc bụng chứa đầy bùn non. Nỗi oán hận đối với số phận nghiệt ngã, nỗi thèm khát được một lần no nê trọn vẹn,
cùng sự tuyệt vọng tột cùng trước cái chết đã không tan biến vào hư không. Chúng ngấm vào từng hạt đất, từng thớ bùn đáy ao tù, hòa quyện với dòng máu tanh tưởi của những kẻ tha hương để rồi ngưng đọng lại suốt sáu mươi năm.
Lớp bùn lầy hấp thụ toàn bộ oán niệm ấy, dần dần biến đổi tính chất, trở thành một thực thể sống quái dị, đói khát và độc ác mang tên Quỷ Thực Nê.
Bản chất của quỷ bùn được phơi bày trần trụi trước mắt tôi. Chúng vốn sinh ra từ cõi giới xa lạ nào khác. Chúng chính là ký ức bi thảm,
là nỗi đau đớn và cơn đói vĩnh hằng của những con người bằng xương bằng thịt năm 1937 bị chôn vùi dưới lớp bùn lầy, không được siêu thoát, không có lấy một tấm bia mộ đề tên.
Nước mắt tôi trào ra từ lúc nào không hay, nóng hổi lăn dài trên gò má lạnh ngắt. Sự ghê tởm đối với thứ quỷ vật bấy lâu nay bỗng nhường chỗ cho một nỗi bi thương nghẹn ngào, buốt nhói tận tâm can.
Giữa màn sương mù xám xịt của ảo cảnh, tôi thấy dòng người chết đói bắt đầu tản ra, nhạt nhòa dần trong gió lạnh.
Nhưng ở góc xa xa, ngay dưới chân một cột đá lớn chạm trổ hoa văn đình làng Vọng Ngưu Đôn, có một bóng người nhỏ thó vẫn ngồi bất động.
Tôi dồn hết sức lực nhìn qua làn sương mỏng. Đó là một đứa trẻ trạc bảy, tám tuổi, mình trần trùng trục, da bọc lấy bộ xương sườn gồ ghề. Cậu bé ôm chặt lấy cái bụng trương phình căng cứng vì chứa đầy bùn đất,
cuộn tròn thân thể dưới chân cột đá rêu phong. Khuôn mặt cậu bé lem luốc bùn non, nhưng đôi mắt sâu hoắm lại mở to, nhìn chòng chọc về phía tôi xuyên qua không gian và thời gian.
Gương mặt gầy gò, hốc hác của đứa trẻ ấy mang những đường nét kỳ lạ, vừa non nớt vừa khắc khổ. Đôi mắt trũng sâu ấy như găm thẳng vào thần thức tôi, khắc ghi một vết hằn không thể xóa nhòa.
Đó chính là nét mặt của ông lão A Ngưu ở đình Vọng Ngưu Đôn khi còn thơ ấu.
Bùng!
Một tiếng nổ trầm đục đột ngột vang lên xé toạc không gian ảo cảnh. Chiếc lò đồng ba chân trước mặt tôi bỗng bốc lên một ngọn lửa màu xanh lục lét, cao vút đến tận trần hang đá vôi.
Ảo ảnh năm 1937 vỡ vụn ra thành trăm mảnh. Tôi giật mình choàng tỉnh, cả cơ thể run rẩy dữ dội, hai chân quỳ sụp xuống mặt nệm cói ẩm ướt trên bệ đá. Hơi nóng và mùi trầm hương nồng gắt lại ập vào giác quan.
Chiêu Lam đứng bật dậy, hai tay cô nắm chặt con dao găm trừ tà, mắt trừng trừng nhìn vào ngọn lửa xanh ma quái đang nhảy múa điên cuồng trong lòng lò đồng:
- Cậu đã thấy những gì?
Tôi thở dốc, lồng ngực đau nhói như bị búa tạ nện vào, miệng lắp bắp:
- Đất... họ ăn đất Quan Âm để chết... Quỷ Thực Nê... chính là họ...
Ngọn lửa màu xanh lét trong lò không hề có dấu hiệu lụi tàn mà ngày càng bốc cao dữ dội. Tàn tro từ trong lò bị luồng khí lốc cuốn tung lên không trung, xoay tròn mù mịt giữa căn hầm đá. Những hạt tro xám bay lượn,
kết tụ lại trên không trung tạo thành hình ảnh một đầm lầy mênh mông đang sủi bọt ùng ục, từng đụn bùn đen quánh trồi lên sụp xuống như một nồi cháo sôi khổng lồ. Tiếng gào khóc xin ăn lại dội về bên tai tôi, râm ran và dồn dập hơn bao giờ hết.
- Nguy rồi!
-
- Chiêu Lam biến sắc, giọng cô run lên
- Ký ức trong lò trầm đã kích động tà khí còn sót lại trong hang ngầm!
Lời cô vừa dứt, ngọn lửa màu xanh lục trong lò đồng đột ngột phụt tắt.
Phụt!
Một tiếng rít the thé vang lên,
toàn bộ căn hầm đá lập tức chìm vào bóng tối đen đặc như mực. Cây đèn bão ở góc bệ đá tắt ngấm, ngay cả những đốm than hồng trong lò cũng biến mất không còn một tia lửa. Bóng tối lạnh lẽo, tuyệt đối bao trùm lấy chúng tôi, quánh đặc đến mức nghẹt thở.
Rắc... rắc... ầm!
Một âm thanh rạn nứt chói tai vang lên ngay dưới chân tôi. Nền đá xanh dày dặn của bệ đá bát giác bỗng nứt toác ra một đường rãnh dài chừng nửa sải tay.
Từ dưới rãnh nứt đen ngòm ấy, không khí ẩm mục biến mất, thay vào đó là một luồng khí lạnh ngắt như băng tuyết cùng mùi bùn thối rữa nồng nặc bốc lên ngùn ngụt.
Chưa kịp để tôi định thần lùi lại, một dòng bùn đen sền sệt, nhớp nháp và lạnh buốt như bàn tay người chết từ dưới khe nứt trào vọt lên mặt đá.
Thứ bùn sống ấy uốn lượn như một bầy rắn độc, nhanh như chớp quấn chặt lấy cổ chân phải của tôi. Lực siết mạnh đến mức lớp vải quần thô rách toạc ra, cái lạnh buốt thấu xương lập tức phong tỏa toàn bộ mạch máu ở bắp chân tôi.
Kéo nó xuống... đói quá... cho một miếng...
Tiếng rít khàn đặc vang lên ngay dưới mắt cá chân tôi, và rồi dòng bùn đen dùng một lực kéo kinh hoàng giật mạnh cả cơ thể tôi lao thẳng xuống miệng khe nứt đang mở rộng dưới nền đá lạnh.