Bùn Quỷ Thực - Chương 26: Lưỡi Dao Bạc Của Chiêu Lam

Mưa phùn rả rích đập vào mái ngói âm dương, tạo nên những tiếng lộp độp rời rạc giữa đêm muộn nơi triền dốc Tương Tây. Hơi lạnh buốt giá từ khe núi Thần…

Nội dung chương

Mưa phùn rả rích đập vào mái ngói âm dương, tạo nên những tiếng lộp độp rời rạc giữa đêm muộn nơi triền dốc Tương Tây. Hơi lạnh buốt giá từ khe núi Thần Khê thổi thốc qua các khe ván gỗ, mang theo mùi lá mục và ẩm ướt của rừng già.

Sau khi kéo tôi thoát khỏi miệng rãnh nứt dưới hầm đá, Thẩm Nguyệt Lăng không để tôi nghỉ lại gian ngoài. Nàng cầm cây đèn dầu leo lét, xoay người đẩy then cài của một cánh cửa gỗ hẹp nằm khuất sau bức bình phong phủ đầy bụi bặm.

- Đi theo tôi

- Nguyệt Lăng cất giọng trầm thấp, bàn tay nàng vẫn còn dính vài vệt tro đen sau trận hỗn loạn dưới lòng đất - Cậu cần nhìn thấy tận mắt thứ này thì mới hiểu nổi rốt cuộc bản thân đang đối đầu với cái gì.

Tôi bước thấp bước cao theo sau nàng, bắp chân phải vẫn còn tê dại sau cú giật kinh hoàng ban nãy. Cánh cửa gỗ nặng nề khép lại sau lưng chúng tôi với một tiếng cọt kẹt khô khốc, chặn đứng tiếng gió rít ngoài hiên.

Căn buồng kín này không có lấy một ô cửa sổ. Không gian bên trong chật hẹp,

tối tăm, ngột ngạt bởi mùi khói ngải cứu khô xông lâu ngày quyện chặt với một thứ mùi tanh lờ lợ rất khó tả. Đó là mùi bùn ao tù ứ đọng nhiều năm, pha lẫn mùi kim loại gỉ sét nồng gắt.

Dọc theo hai bên vách nứa là những chiếc giá gỗ mun mục xỉn bày la liệt các vật dụng trừ tà cổ xưa của dòng họ Thẩm. Những xấp bùa giấy vàng úa rách mép,

chuỗi đồng xu gỉ xanh, dao khắc gỗ đào cùng hàng chục chiếc hũ sành dán kín bằng vải đỏ nằm im lìm trong bóng tối.

Ánh sáng từ ngọn đèn dầu trên tay Nguyệt Lăng hắt lên bục gỗ vuông vức đặt ở chính giữa gian phòng. Trên mặt bục phủ một tấm vải điều đã ngả màu nâu sẫm, bốn góc chèn bằng bốn thỏi chì nặng trịch.

Ở trung tâm tấm vải điều là một chiếc hũ đồng cổ cao chừng một gang tay. Thân hũ xỉn màu xanh rêu, bề mặt loang lổ những vệt gỉ sét ăn sâu vào kim loại. Miệng hũ được bịt kín bằng một lớp da thuộc dày,

chằng chịt bởi hàng chục vòng chỉ ngũ sắc đan cài phức tạp. Phía trên lớp chỉ, người ta dán đè lên ba đạo bùa chu sa viết bằng chữ triện cổ. Nét chu sa đỏ tươi trên giấy bùa đã phai nhạt, chuyển sang màu vàng xỉn của lá khô úa tàn theo năm tháng.

Nguyệt Lăng đặt cây đèn dầu lên chiếc đôn gỗ cạnh bục, rồi quay sang nhìn tôi. Đôi mắt nàng phản chiếu ánh lửa lập lòe, nghiêm nghị và lạnh lùng:

- Đây là vật trấn yểm do bà cố tôi mang từ bờ Tây Giang về từ sáu mươi năm trước. Trong căn nhà sàn này có hàng trăm thứ bùa chú, nhưng chiếc hũ đồng này là thứ duy nhất tuyệt đối không được để chạm vào ánh mặt trời.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt, lồng ngực vẫn còn nhói buốt sau những ảo ảnh kinh hoàng về nạn đói năm 1937. Mùi bùn tanh từ chiếc hũ đồng tỏa ra mỗi lúc một rõ rệt, đặc quánh lại trong bầu không khí ngột ngạt của căn buồng.

- Trong đó chứa cái gì?

-

- Tôi hỏi, giọng khàn đặc.

- Đất sống

- Nguyệt Lăng đáp gọn lỏn, hai chữ thốt ra nặng trĩu - Thứ mà người ta gọi là Quỷ Thực Nê.

Nàng rút từ thắt lưng ra một con dao găm nhỏ bằng bạc,

lưỡi dao sáng loáng phản chiếu ánh đèn dầu. Nàng bước tới trước bục gỗ, quỳ một chân xuống sàn nhà rồi lẩm nhẩm niệm một đoạn khẩu quyết ngắn bằng tiếng địa phương Tương Tây. Giọng nàng rì rầm, trầm bổng kỳ dị giữa tiếng mưa rơi rả rích bên ngoài vách gỗ.

Khi dứt lời chú, Nguyệt Lăng cẩn thận đưa mũi dao bạc luồn vào dưới lớp chỉ ngũ sắc.

Phựt... phựt...

Từng sợi chỉ đứt đoạn rơi xuống tấm vải điều. Mỗi lần một sợi chỉ ngũ sắc đứt đi,

chiếc hũ đồng lại phát ra một âm thanh rung nhẹ, tựa hồ kim loại bên trong đang chịu một áp lực vô hình chực chờ bùng nổ. Ba đạo bùa chu sa ngả vàng từ từ bung ra, lớp sáp ong niêm phong quanh miệng hũ nứt toác thành những mảnh vụn xám xịt.

Nguyệt Lăng dùng đầu ngón tay lột bỏ lớp da thuộc bịt miệng hũ.

Một luồng khí lạnh buốt lập tức tràn ra từ lòng hũ đồng. Đi kèm với luồng khí lạnh đó là mùi tanh tưởi mục rữa nồng nặc đến mức khiến tôi phải lùi lại nửa bước,

đưa tay áo lên bịt chặt mũi. Đó là thứ mùi xú uế của xác chết thối rữa dưới đáy bùn lầy, trộn lẫn vị tanh nồng của huyết nham và cặn bã đáy sông.

- Lại đây nhìn cho kỹ

- Nguyệt Lăng không quay đầu lại, cất tiếng thúc giục - Xem tận mắt để nhớ lấy hình dạng của thứ đang muốn nuốt chửng linh hồn cậu.

Tôi nén cơn buồn nôn đang dâng lên cổ họng, bước từng bước nặng nề đến cạnh bục gỗ. Tôi cúi người xuống, rọi ánh mắt vào sâu bên trong miệng hũ đồng.

Dưới đáy hũ sâu hoắm, một đụn bùn đen quánh nằm cuộn tròn trên nền kim loại lạnh ngắt. Thứ bùn ấy không hề khô ráo hay vón cục sau hơn nửa thế kỷ bị giam cầm trong bóng tối. Nó bóng nhẫy, sền sệt, đen kịt như mực tàu đặc sánh pha lẫn dầu hỏa.

Và nó đang chuyển động.

Tôi rùng mình lùi lại một bước, hai mắt trừng trừng nhìn vào miệng hũ. Đụn bùn đen dưới đáy hũ từ từ dâng lên rồi lại xẹp xuống,

co bóp từng nhịp đều đặn và chậm rãi. Nhịp điệu co thắt ấy chính xác và nhịp nhàng hệt như một quả tim sống bằng thịt của loài động vật bị moi ra khỏi lồng ngực nhưng vẫn tiếp tục đập thoi thóp trên bàn mổ.

Trên bề mặt nhẵn bóng của đụn bùn, những bọt khí nhỏ li ti màu xám đục liên tục sủi lên rồi vỡ toang,

giải phóng ra từng đợt hơi lạnh ẩm mục. Mỗi lần khối bùn co bóp, những đường vân kỳ lạ lại hiện rõ trên bề mặt nó, ngoằn ngoèo như thể những đường gân máu tím bầm đang đập dưới lớp da mỏng.

Một luồng ớn lạnh chạy dọc từ thắt lưng lên đến đỉnh đầu tôi. Giác quan thứ sáu bẩm sinh bỗng nhiên bị kích động dữ dội, mạch máu ở thái dương tôi giật giật đau nhói.

Bên tai tôi, tiếng mưa phùn ngoài mái hiên hoàn toàn lùi xa. Thay vào đó, những thanh âm kỳ quái bắt đầu vang lên từ chính lòng chiếc hũ đồng xỉn màu.

Ban đầu, nó chỉ là những tiếng lạo xạo rất khẽ, như tiếng dế cào rách đất ẩm trong đêm vắng. Nhưng chỉ vài nhịp thở sau, âm thanh ấy biến đổi thành những tiếng rên rỉ nghẹn ngào, ai oán và đứt quãng.

Đói quá... cho tôi xin một miếng...

Mẹ ơi... con đói lả ruột rồi...

Đất... bùn dưới chân ngọt lắm... cắn một miếng đi...

Hàng chục giọng nói chen chúc nhau, chồng chéo lên nhau,

gào khóc thảm thiết bằng thổ âm Lĩnh Nam xưa cũ từ những năm 1937. Âm thanh the thé của đàn bà, tiếng khàn đặc của đàn ông, tiếng rấm rứt non nớt của trẻ con bị bỏ đói, tất cả hòa quyện thành một khúc ca tang tóc cuồn cuộn dội thẳng vào màng nhĩ tôi.

Đầu tôi đau buốt như bị hàng trăm cây kim bạc đâm thấu vào xương sọ. Cơn thèm ăn đất ẩm từng bị đè nén dưới hầm đá bỗng chốc rạo rực trỗi dậy nơi cuống họng. Vị bùn tanh nồng lúc này bỗng biến đổi,

phảng phất vị bùi béo ngọt lịm của một thứ cao lương mỹ vị chưa từng nếm trải.

Tay tôi run rẩy, bất giác đưa lên ngực áo, nơi giấu túi bột chu sa mà Chiêu Lam từng trao cho. Bàn chân tôi như muốn bước tới,

hai mắt dán chặt vào đụn bùn đang co bóp dưới đáy hũ. Đụn bùn hình như cảm nhận được ánh nhìn của tôi, nó phập phồng nhanh hơn, trườn dần lên thành hũ đồng trơn nhẵn như một con sâu nhớp nháp.

- Tỉnh lại ngay!

-

- Tiếng quát của Thẩm Nguyệt Lăng vang lên sắc lẹm bên tai tôi.

Bàn tay nàng giáng mạnh một cái tát vào má trái tôi. Cơn đau rát bất ngờ kéo giật thần thức tôi quay trở lại thực tại.

Tôi lảo đảo lùi lại phía sau, lưng đập mạnh vào mép giá gỗ mun, làm vài ống tre chứa bùa rơi xuống sàn phát ra tiếng lạch cạch khô khốc. Mồ hôi lạnh vã ra như tắm, nhỏ tong tòng xuống cằm.

Đụn bùn đen trong hũ lúc này đã trườn lên tới nửa thân hũ,

ngọ nguậy dữ dội như một sinh vật sống đang khát máu. Nó dâng cao thành một cái vòi nhầy nhụa, ngóc đầu lên hướng thẳng về phía tôi, liên tục sủi bọt ùng ục. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc cả gian buồng, lấn át hoàn toàn mùi khói ngải cứu.

Không chút chần chừ, Nguyệt Lăng thọc tay vào chiếc túi vải đeo bên hông, bốc ra một nhúm bột chu sa đỏ tươi rực rỡ. Nàng quát lớn một tiếng trầm đục rồi vung tay rắc thẳng nhúm bột khoáng vào trong miệng hũ đồng.

Xèo... xèo... xèo!

Bột chu sa đỏ rực vừa chạm vào bề mặt đụn bùn đen, một phản ứng dữ dội lập tức bùng nổ. Âm thanh xèo xèo vang lên rợn cả gáy như thể người ta đổ nước lạnh vào chảo mỡ đang sôi sùng sục.

Khói trắng khét lẹt bốc lên nghi ngút từ miệng hũ. Đụn bùn đen quằn quại,

giãy giụa điên cuồng bên trong lòng kim loại, phát ra những tiếng rít the thé ghê rợn chẳng khác nào tiếng lợn bị chọc tiết. Những hạt bột chu sa đỏ tươi bám chặt vào thân bùn, đốt cháy lớp màng nhầy nhụa của nó thành những mảng vảy đen khô cứng.

Nhịp co bóp phập phồng của khối bùn bỗng chốc rối loạn, co giật từng chập rồi xẹp dúm lại. Nó trượt tuột từ thành hũ xuống đáy, co rúm thành một cục đen ngòm, nhỏ thó, run rẩy yếu ớt dưới làn khói trắng nồng nặc mùi lưu huỳnh và tanh tưởi.

Nguyệt Lăng nhanh tay chộp lấy miếng da thuộc, chụp mạnh lên miệng hũ đồng rồi siết chặt sợi dây gai quanh cổ hũ để ngăn chặn hoàn toàn tà khí thoát ra ngoài. Nàng thở hắt ra một hơi dài, trán lấm tấm mồ hôi hột.

Gian phòng kín rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở. Ngoài hiên, mưa phùn vẫn rơi rả rích trên mái ngói, tiếng gió rít qua khe nứa lúc này nghe xa xăm và hoang vắng lạ thường.

Tôi ngồi bệt xuống sàn gỗ lạnh ngắt,

hai tay ôm lấy đầu gối, lồng ngực phập phồng hít từng ngụm không khí khét lẹt. Tai tôi vẫn còn văng vẳng những tiếng gào xin ăn bằng thổ âm vùng Tây Giang, những âm thanh của người chết cách đây gần một thế kỷ vẫn không chịu tan biến.

- Cậu thấy rõ rồi chứ?

-

- Nguyệt Lăng lấy vạt áo lau những giọt mồ hôi trên trán, giọng nàng vẫn còn run run vì căng thẳng

- Nó không phải là một nắm đất vô tri. Nó sống. Nó có hơi thở, có nhịp đập, và trên hết, nó mang theo cơn đói vĩnh hằng của những kẻ chết thảm năm 1937.

Tôi ngước mắt nhìn nàng, giọng lắp bắp:

- Làm sao... làm sao một nắm bùn lại có thể sống được như thế? Nó tồn tại bằng cách nào suốt sáu mươi năm qua trong chiếc hũ đồng này?

Nguyệt Lăng bước tới chiếc đôn gỗ, khêu bấc đèn dầu cho ngọn lửa cháy đượm hơn một chút. Ánh sáng vàng nhạt tỏa ra, xua bớt bóng tối dày đặc đang bao trùm lấy góc phòng.

- Nó sống bằng oán khí - Nàng trầm giọng giải thích,

ngón tay mân mê lưỡi dao bạc đã xỉn màu. Khi hàng vạn con người chết đói nằm xuống ven bờ sông Tây Giang, thịt nát xương tan hòa lẫn vào lớp phù sa đáy nước. Oán niệm của họ không tan biến mà kết tụ lại trong bùn đất. Thứ bùn đó hấp thụ sinh khí của người sống, ăn mòn linh hồn của những kẻ yếu bóng vía để nuôi dưỡng sự tồn tại của chính nó.

Nàng dừng lại, nhìn chòng chọc vào chiếc hũ đồng bị bịt kín:

- Mẩu bùn đen nằm trong chiếc hũ này chỉ là một phần rất nhỏ, một mẩu vụn vặt bị tách rời ra từ vũng lầy Bồ Tầm ở thị trấn Vọng Ngưu Đôn năm xưa. Bà cố tôi đã dùng đủ mọi thuật pháp của dòng họ Thẩm,

phong ấn nó qua ba tầng bùa chu sa và chỉ ngũ sắc, vậy mà qua bao nhiêu năm tháng, nó vẫn chưa bao giờ thực sự chết đi. Nó chỉ ngủ say khi bị chu sa khắc chế, và chỉ cần ngửi thấy hơi người sống, nó lại cựa quậy thức giấc.

Lời nói của Nguyệt Lăng như một tảng đá ngàn cân đè nặng lên ngực tôi. Một mảnh bùn nhỏ xíu bằng nắm tay trong chiếc hũ đồng này đã có sức mạnh quấy nhiễu tâm trí tôi đến mức suýt phát điên,

phát ra tiếng đập phập phồng như một quả tim sống. Vậy thì toàn bộ vũng lầy Bồ Tầm rộng mênh mông ngút ngàn ở bờ Tây Giang, nơi chôn vùi hàng vạn nạn nhân của nạn đói năm đó, rốt cuộc là thứ gì?

Một suy nghĩ ớn lạnh vụt qua đầu khiến toàn thân tôi sởn gai ốc.

Toàn bộ đầm lầy Bồ Tầm ở Vọng Ngưu Đôn, từ lớp bùn đáy đen ngòm cho đến những bụi cỏ năn rậm rạp, thực chất không phải là một vùng đất hoang tàn vô tri. Toàn bộ vùng lầy ấy chính là một thực thể sống khổng lồ,

một con quái vật bùn đất khổng lồ đang nằm phục dưới lòng đất Lĩnh Nam, thở bằng hơi thở của hàng vạn oan hồn và không ngừng mở rộng cơn đói khát qua từng năm tháng.

- Chúng ta không thể quay lại Vọng Ngưu Đôn bằng cách thông thường

- Tôi thì thầm, bàn tay siết chặt lại - Nơi đó... nơi đó là một cái bẫy sống.

- Đúng vậy

- Nguyệt Lăng gật đầu, ánh mắt nặng trĩu âu lo - Đó là lý do tại sao tôi phải đưa cậu tới đây,

cho cậu thấy thứ này trước khi quá muộn. Nếu không hiểu rõ bản chất của bùn quỷ, một khi cậu bước chân trở lại bờ đầm Bồ Tầm, cậu sẽ bị nó nuốt trọn cả thể xác lẫn linh hồn mà không hề hay biết.

Nàng cúi xuống, bắt đầu nhặt nhạnh những sợi chỉ ngũ sắc đứt đoạn rơi vãi trên tấm vải điều để chuẩn bị dọn dẹp.

Tôi chống tay xuống sàn định đứng dậy để phụ giúp nàng, nhưng khi bàn tay vừa nhấc lên khỏi mặt gỗ, một cảm giác nhói buốt đột ngột ập đến ở mu bàn tay phải. Cơn buốt giá buốt thấu tận xương tủy, như thể có một mảnh băng nhọn hoắt găm thẳng vào da thịt.

Tôi giật mình đưa bàn tay lên ngang tầm mắt để nhìn.

Ở chính giữa mu bàn tay phải của tôi,

một giọt bùn đen đặc quánh bằng hạt đỗ xanh đang bám chặt vào lớp da. Có lẽ trong lúc đụn bùn giãy giụa điên cuồng vì bị bột chu sa thiêu đốt ban nãy, một tia bùn nhỏ đã bắn tung tóe ra ngoài và rơi trúng tay tôi mà tôi không hề hay biết.

Tôi vội vàng lấy vạt áo vải thô chà mạnh lên mu bàn tay nhằm lau sạch thứ uế vật đó.

Thế nhưng, lớp vải thô chà xát đến mức rát bỏng cả da thịt mà giọt bùn đen vẫn không hề trôi đi. Nó không dính vào mặt vải, mà bắt đầu loãng ra, nhớp nháp và lạnh ngắt.

Ngay trước mắt tôi,

giọt bùn đen quánh ấy từ từ chìm dần xuống, thẩm thấu xuyên qua lỗ chân lông, lặn sâu vào dưới lớp biểu bì như một giọt mực tàu thấm vào trang giấy xuyến chỉ. Làn da quanh vết thương tái nhợt đi, mạch máu dưới da co rút lại thành một màu tím sẫm.

Chỉ trong vài nhịp thở ngắn ngủi, giọt bùn đen đã biến mất hoàn toàn trên bề mặt da. Thay vào đó, nơi giọt bùn vừa lặn xuống hiện lên một vết bớt tròn trịa màu xám tro, phẳng lì và lạnh toát, in hằn vĩnh viễn vào sâu trong thớ thịt của tôi.

Chương khác

Xem thêm