Bùn Quỷ Thực - Chương 28: Thầy Pháp Sư Dòng Họ Thẩm
Gió từ các rặng núi Tương Tây thổi tràn qua vách lán, rít lên từng hồi buốt lạnh qua những khe hở của tấm liếp tre già. Căn gác trọ ở rìa thị trấn mục…
Nội dung chương
Gió từ các rặng núi Tương Tây thổi tràn qua vách lán, rít lên từng hồi buốt lạnh qua những khe hở của tấm liếp tre già. Căn gác trọ ở rìa thị trấn mục nát đến mức mỗi bước chân người đi ở tầng dưới đều làm cho tấm sàn gỗ mỏng mảnh run lên bần bật.
Đã quá canh ba, bóng tối bao trùm lấy bốn bề tịch mịch. Tôi nằm ép mình trên chiếc chiếu cói mốc thếch,
hai mắt mở trừng trừng nhìn lên xà nhà đen đúa vì bồ hóng. Dù đã cuộn tròn trong chiếc chăn bông chắp vá nặng trịch mùi ẩm mốc, cái lạnh từ mặt sàn vẫn thấm qua lưng áo, buốt ran từng tấc thịt.
Vết bớt màu xám tro trên mu bàn tay phải lúc này lại bắt đầu phát tác.
Nó không đau đớn dữ dội, mà nhói buốt âm ỉ, từng đợt co giật nhè nhẹ dưới biểu bì giống như có một loài trùng bọ vô hình đang gặm nhấm huyết quản.
Cơn cồn cào kỳ dị dưới đáy dạ dày sau bữa cơm ban ngày vẫn chưa hề tan biến.
Cuống họng tôi khô rát, đắng ngắt, nhưng khi hít thở sâu, khoang mũi vẫn phảng phất mùi bùn non ngâm nước phù sa đáy sông, thứ mùi tanh nồng đầy mê hoặc mà Nguyệt Lăng đã nghiêm khắc cảnh báo.
Tôi trở mình quay mặt vào vách ván nứa, cố nhắm mắt để dỗ giấc ngủ.
Sột... soạt...
Âm thanh rất khẽ vang lên ngay sát bên tai tôi. Nó phát ra từ mặt ngoài của vách ván, ngay chỗ tôi vừa áp đầu vào.
Tôi nín thở, nằm bất động.
Sột... soạt... rẹt...
Đó là tiếng móng tay cào cấu lên lớp gỗ mục. Từng vệt cào dài,
sắc nhọn, kéo lê chầm chậm từ chân vách ngược lên mép mái hiên. Xen lẫn giữa những tiếng cào xé rợn cả gáy ấy là tiếng thở phì phò ngắt quãng, nặng nề và ẩm ướt như hơi thở của kẻ chết đuối vừa ngoi lên khỏi mặt nước.
Căn gác trọ này nằm cheo leo trên sườn dốc đá, bên ngoài vách nứa là một khoảng không sâu hoắm nhìn xuống lòng vực đầy cỏ dại, tuyệt đối không có lối đi hay bậc thang nào để người sống có thể đứng tựa lưng vào đó cào vách.
Tôi nuốt một ngụm nước bọt đặc quánh, cả người cứng đờ. Máu trong cơ thể dồn lên thái dương đập thình thịch. Tiếng cào cấu mỗi lúc một dày đặc hơn,
không dừng lại ở một chỗ mà bắt đầu lan rộng ra khắp bốn bề vách gỗ. Dưới gầm sàn nứa ọp ẹp cũng bắt đầu có tiếng lục cục, tiếng những ngón tay khô khốc lần mò bấu víu vào từng thanh giát tre, tìm kiếm kẽ hở để chui vào bên trong.
Vết bớt xám trên tay tôi lại giật thót một nhịp,
tỏa ra luồng hơi lạnh ngắt. Thứ bên ngoài vách ván hình như ngửi thấy mùi vị của giọt bùn non đang ẩn náu dưới da thịt tôi. Chúng bị thu hút bởi tà khí của đầm lầy Bồ Tầm, kéo đến vây kín căn nhà trọ mục nát này giữa đêm hôm thanh vắng.
Bất thần, từ phía đầu con hẻm hun hút bên ngoài dãy trọ rộ lên một âm thanh xé toạc màn đêm.
Keng! Chát!
Tiếng kim loại va chạm giòn giã, khô khốc và chát chúa vang lên, đập tan bầu không khí quánh đặc của tử khí.
Âm vang của chiếc chiêng đồng nứt mép dội vào các vách đá hoa cương dựng đứng quanh thung lũng,
tạo thành những đợt sóng âm trầm đục, dồn dập truyền đi trong sương giá. Ngay sau nhịp chiêng đầu tiên, một giọng xướng lễ khàn đặc cất lên, âm điệu nửa như tụng niệm, nửa như quát tháo bằng tiếng địa phương cổ của miền sơn cước:
- Hồn ai nấy giữ, phách ai nấy về! Đường dương có lối, cõi quỷ có lề! Kẻ đói ăn tro, kẻ thác ăn đất! Trả lại trần gian, lui gót về rừng!
Tiếng xướng vừa dứt, nhịp chiêng lại giáng xuống dồn dập ba tiếng liên tiếp:
Keng! Keng! Boong!
Tiếng móng tay cào sột soạt ngoài vách ván nứa đột ngột khựng lại. Tiếng thở phì phò bên ngoài biến thành những tiếng rít the thé, đầy vẻ bực bội và sợ hãi.
Bị thôi thúc bởi sự tò mò lẫn nỗi hoang mang, tôi cẩn trọng chống tay ngồi dậy trên mặt sàn nứa, cố gắng không tạo ra bất kỳ tiếng cót két nào. Tôi bò rạp người lại gần mép cửa sổ gác trọ, ghé một bên mắt nhìn qua khe liếp tre bị rách một mảng nhỏ.
Gió lạnh lùa qua khe hở tạt thẳng vào mặt làm mắt tôi cay xè.
Phía dưới con hẻm dốc lát đá xanh gồ ghề, sương đêm đang cuộn lại từng dải trắng đục lững lờ trôi sát mặt đất. Giữa màn sương xám ngắt ấy, một đốm lửa đỏ quạch bừng lên, rồi hai đốm, ba đốm tiếp tục bốc cháy.
Đó là một đoàn người làm lễ tiễn hồn đang chậm rãi tiến vào hẻm núi.
Đi đầu là sáu người đàn ông mặc áo gai thô màu trắng ngà, trên đầu thắt dải khăn tang rủ dài xuống tận bờ vai. Tay họ giơ cao những ngọn đuốc tẩm dầu mù u đỏ rực. Lửa mù u cháy phừng phực, tàn lửa nổ lách tách,
bốc lên những cuộn khói đen kịt mang theo mùi khét nồng đặc trưng của dầu thực vật quyện với mùi nhựa thông. Ánh lửa bập bùng soi rõ những gương mặt hốc hác, lạnh tanh không chút biểu cảm, ánh mắt đờ đẫn nhìn thẳng về phía trước theo từng bước chân cất lên đều đặn.
Phía sau những người cầm đuốc, hai người phụ nữ trùm khăn đen rải tiền giấy ra hai bên đường. Từng xấp giấy bản mỏng dính cắt hình đồng tiền bay lả tả trong gió đêm, rơi rụng trên những phiến đá trơn tuột phủ đầy rêu ẩm.
Dẫn đầu toàn bộ đoàn người ấy là một bóng hình cao gầy, khoác chiếc áo cộc màu chàm vá chằng vá đụp. Lão thợ khâm liệm già của thị trấn.
Lão bước những bước dài, chân đi dép rơm bện chặt, một tay cầm chiếc chiêng đồng thau đã xỉn màu mốc thếch,
tay kia vung một chiếc chày gỗ bọc vải điều đỏ chót. Mỗi lần bước qua một ngã ba hoặc trước cửa một mái nhà sàn, lão lại vung tay giáng mạnh chày vào mặt chiêng, miệng không ngừng lầm rầm tụng niệm bài kinh tiễn vong.
Ánh đuốc dầu mù u quét qua vách tường và gầm mái hiên của dãy nhà trọ nơi tôi đang ẩn náu.
Dưới ánh lửa đỏ rực chập chờn, tôi kinh hãi trông thấy những hình thù dị dạng đang bám chặt trên bờ tường đá và rui mè bằng gỗ mục.
Đó không phải là bóng người thật, mà là những bóng đen mờ ảo, gầy trơ xương, các khớp xương tay chân dài ngoằng vặn vẹo một cách quái đản.
Chúng bu bám lúc nhúc quanh mái hiên, chúc đầu xuống dưới vách nứa, chiếc mồm ngoác rộng lộ ra những hàm răng sắc nhọn lởm chởm.
Đầu ngón tay của chúng nhọn hoắt như móc sắt, vẫn còn đang ghim sâu vào thớ gỗ nứa của căn phòng tôi nằm.
Những bóng ma đói khát này rõ ràng đã bám theo mùi oán niệm của bùn non trên tay tôi suốt từ bờ sông về tới tận đây.
Nhưng khi tiếng chiêng đồng của lão thợ khâm liệm nổ tung giữa màn đêm, luồng sóng âm chát chúa vang lên làm chấn động cả không gian tĩnh mịch.
Boong!
Một đợt sóng vô hình quét qua mép mái hiên. Những bóng đen gầy trơ xương giật nảy mình như phải bỏng. Chúng rú lên những tiếng the thé câm lặng,
thân hình quằn quại co rút lại. Dưới sức nóng của lửa mù u và nhịp chiêng trừ tà, từng cái bóng đen nhớp nháp ấy bắt đầu rữa ra, bốc thành những làn khói xám nhạt rồi tan biến vào màn sương mù ẩm ướt của Tương Tây.
Nhịp gõ của lão thợ khâm liệm vô cùng kỳ lạ. Lão không đánh theo nhịp gõ tang thông thường của vùng Lĩnh Nam,
mà gõ theo một tiết tấu chặt chẽ, ngắt quãng đầy uy lực: một tiếng dập mạnh, hai tiếng nhấp nhẹ, sau đó là một hồi rung dài kéo theo tiếng niệm chú trầm đục từ tận đáy họng.
Tiết tấu ấy mang một cấu trúc trấn áp nghiêm ngặt,
như thể một mạng lưới vô hình đang giăng ra giữa các vách đá, ép cho mọi tà ma quỷ mị phải lùi sâu vào rừng thẳm. Âm hưởng của nhịp chiêng làm lồng ngực tôi rung lên từng hồi, ép cho cảm giác thèm muốn tanh tưởi trong dạ dày phải chìm xuống.
Đoàn người tiễn hồn tiếp tục bước đi, tiếng dép rơm đạp lạo xạo trên đá dăm.
Khi đi đến khúc quanh hẹp nhất của con hẻm, ngay dưới chân căn gác trọ của tôi, bước chân của lão thợ khâm liệm bỗng nhiên khựng lại.
Lão dừng bước, tấm lưng còng hơi thẳng lên. Ánh đuốc mù u rọi nghiêng một bên mặt lão, để lộ làn da nhăn nheo như vỏ cây thông già và một chỏm râu dê bạc phơ run rẩy trong gió lạnh.
Không một lời báo trước, lão thợ khâm liệm chậm rãi ngẩng đầu lên.
Đôi mắt đùng đục phủ một lớp màng trắng mờ của lão xuyên thẳng qua màn sương đêm, nhìn chuẩn xác vào khe liếp tre nơi tôi đang nấp mình.
Ánh mắt ấy bén ngót như mũi dao cạo, mang theo sự lạnh lẽo thấu hiểu đến tận cùng. Lão không nhìn vào mặt tôi, lão nhìn thẳng vào mu bàn tay phải của tôi, nơi vết bớt màu xám tro đang đập từng nhịp thổn thức sau vách nứa.
Toàn thân tôi run lên, lồng ngực thắt lại như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Lão đã nhìn thấy thứ ô uế mà tôi mang trên mình.
Lão thợ khâm liệm không cất lời quở trách, cũng chẳng thể gọi tên tôi. Lão chỉ lấy lại bình tĩnh, ngực phập phồng dưới lớp áo chàm mỏng mảnh. Cánh tay gầy guộc đầy gân guốc của lão giơ cao chiếc chày bọc vải điều lên ngang tầm trán.
Bằng một động tác dứt khoát và mãnh liệt phi thường, lão giáng chiếc chày xuống mặt chiêng đồng.
BOONG!
Tiếng chiêng đầu tiên vang lên như sấm rền giữa đêm đông, đánh thẳng vào màng nhĩ tôi. Một luồng khí chấn động dội ngược vào căn gác xép, khiến toàn bộ vách nứa rung bần bật, bụi bồ hóng trên xà nhà rơi lả tả.
BOONG!
Tiếng thứ hai giáng xuống liên tiếp, đanh gọn và sắc lẹm. Mu bàn tay phải của tôi đột ngột nhói buốt dữ dội,
như thể có một lưỡi kéo vô hình vừa cắt phăng đi một sợi dây vô hình đang trói buộc tôi với những bóng ma ngoài hiên. Luồng hơi lạnh buốt đang bò ngược lên cẳng tay tôi lập tức bị đánh tan biến, co rút lại thành một điểm chết cứng nhắc nơi tâm vết bớt.
BOONG!
Tiếng chiêng thứ ba hạ màn, dội vang một hồi trầm đục rồi tắt lịm giữa thung lũng.
Lão thợ khâm liệm hạ tay xuống, chiếc chày đỏ buông thõng bên hông. Lão thở ra một ngụm khói trắng mỏng manh giữa làn sương lạnh, rồi quay ngoắt người đi, không ngoái đầu nhìn lại lấy một lần.
- Đi! Lên đồi cỏ may! Nhập thổ vi an!
-
- Giọng lão trầm bổng cất lên, dẫn dắt đoàn người tiếp tục cất bước.
Những ngọn đuốc dầu mù u lại bập bùng di chuyển,
kéo theo đoàn áo gai trắng lững thững trôi dần về phía cuối con hẻm. Tiếng rải tiền giấy xoàn xoạt, tiếng mõ tre khô khốc hòa lẫn với nhịp chiêng xa dần, xa dần, rồi chìm hẳn vào bóng đêm dày đặc nơi sườn núi hoang vu.
Không gian xung quanh dãy nhà trọ trở lại vẻ tĩnh mịch như tờ.
Tiếng móng tay cào sột soạt trên vách ván đã biến mất hoàn toàn. Tiếng thở phì phò của những cái bóng gầy trơ xương cũng không còn dấu vết. Gió núi vẫn rít qua khe liếp,
nhưng cái cảm giác nhờn nhợt, tanh nồng của bùn non đầm lầy đã bị luồng hỏa khí từ đuốc mù u và ba tiếng chiêng đồng quét sạch khỏi căn phòng.
Tôi ngồi bệt xuống sàn tre, hai vai buông thõng, mồ hôi lạnh toát ra ướt đầm cả lưng áo.
Đưa bàn tay phải lên trước mặt, tôi nhìn kỹ lại vết bớt xám tro. Màu sắc của nó đã xỉn lại, biến thành một vệt mờ đục giống như một vết sẹo cũ lâu năm,
không còn co giật, cũng không còn phát ra luồng khí buốt giá ban nãy. Nhịp chiêng trừ tà của lão thợ khâm liệm đã tạm thời phong tỏa tà niệm đang bám theo tôi, cứu tôi thoát khỏi sự dòm ngó của bầy quỷ đói vất vưởng nơi bờ cõi Tương Tây.
Tôi chống tay nhổm dậy, bước tới bên cửa sổ, cẩn thận đẩy nhẹ cánh liếp tre ra một khe nhỏ.
Gió đêm thốc vào mang theo vị lạnh tê tái. Dưới ánh trăng mờ đục vừa ló ra sau đám mây đen,
con hẻm đá xanh hoàn toàn trống rỗng, u uất và hoang tàn. Không một bóng người qua lại, chỉ còn những vệt tàn tro xám ngắt của tiền giấy bị thiêu dở bay lả tả trong gió, cuốn qua khung cửa rồi đọng lại thành một lớp bụi mỏng phủ đầy trên bậu gỗ sứt sẹo.