Bùn Quỷ Thực - Chương 31: Cụ Bà Chín Mươi Tuổi Kể Người Ăn Bùn
Chuyến xe đò liên tỉnh thả tôi xuống ngã ba đường duyên hải khi bóng hoàng hôn vừa tắt hẳn trên rặng phi lao. Rời khỏi ranh giới đồi núi Tương Tây mịt…
Nội dung chương
Chuyến xe đò liên tỉnh thả tôi xuống ngã ba đường duyên hải khi bóng hoàng hôn vừa tắt hẳn trên rặng phi lao. Rời khỏi ranh giới đồi núi Tương Tây mịt mùng sương gió,
tôi lần theo ghi chép cũ xuôi về vùng duyên hải Sán Đầu thuộc địa phận Quảng Đông, nơi dòng Tây Giang tách nhánh rồi đổ ra biển lớn qua những doi đất sình lầy ngập mặn.
Hành trang trên vai tôi ngoài chiếc ba lô tác nghiệp và túi gấm đựng nanh sói do gia tộc họ Thẩm trao cho, nay có thêm vài mẩu vụn của một khúc dân ca cổ mà tôi lục tìm được trong thư viện tỉnh.
Tháng Bảy cạn dòng cá chết phơi, Mẹ băm rễ sú dỗ con cười. Bao giờ áo đỏ qua bến bãi, Chỉ đất non mềm nuốt trọn hơi.
Câu hát ấy gắn liền với giai thoại về một vụ đói kém rợn cả gáy xảy ra đúng năm Đinh Sửu 1937 tại một xóm chài nay đã gần như bị xóa tên khỏi bản đồ hành chính. Người ta gọi nơi đó là Doi Vỏ Hàu,
một dải đất hẹp trồi lên giữa vùng nước lợ, tách biệt hoàn toàn với phố cảng sầm uất phía bên kia bờ vịnh.
Gió từ mé biển thổi thốc vào mặt tôi, nồng nặc mùi muối mặn và mùi xơ xác của rong rêu thối rữa.
Ở bến đò con dẫn qua doi đất, một chiếc thuyền gỗ mũi nhọn đang dập dềnh theo từng con sóng đục ngầu phù sa. Người chèo đò là một ông lão ngoài sáu mươi tuổi,
lưng gù, da dẻ đen đúa cháy sém vì nắng muối, mặc chiếc áo tơi chắp vá bằng lá cọ cũ mèm. Lão tên Lương, người xóm bến phụ trách việc đưa đò chuyến muộn.
Lão Lương nhìn tôi từ đầu đến chân, ánh mắt dừng lại hồi lâu nơi chiếc ba lô rồi dằn từng tiếng cằn nhằn:
- Giờ này người ta tìm cách chạy về phố thị ăn bát cơm nóng, cậu lại đòi sang cái bãi tha ma ấy làm gì? Đêm nay triều rút sâu, bùn tanh nồng nặc, chẳng có gì hay ho đâu.
Tôi móc ra hai tờ tiền giấy gấp tư đưa cho lão:
- Cháu là phóng viên đi sưu tầm tài liệu lịch sử địa phương. Nghe nói xóm cũ bên doi cát vẫn còn người sống từ đợt đói năm ba bảy, cháu muốn qua đó hỏi chuyện một đêm, sáng sớm mai sẽ quay về bờ.
Lão Lương cầm lấy tiền, cẩn thận miết góc giấy rồi nhét tọt vào túi áo trong. Lão thở dài thườn thượt, chống cây sào tre dài ngoằng đẩy mạnh con thuyền rời khỏi mố đất lầy lội:
- Đói năm ba bảy à? Cậu tìm trúng ổ rồi đấy. Cả cái doi đất đó giờ thành phế tích, thanh niên bỏ đi biệt xứ từ mấy mươi năm trước. Nhà cửa sụp đổ hết,
người chết đói năm xưa chôn ngay dưới gầm sàn, chẳng ai buồn bốc mộ. Hiện giờ bên ấy chỉ có một mống người còn thở. Đó là bà cụ Hai Chấn, năm nay chín mốt tuổi, sống một mình ở căn nhà đá xám cuối doi.
Con thuyền nan trôi chầm chậm qua lạch nước đen ngòm. Xung quanh hai bên bờ, những rễ cây sú, cây vẹt cắm sâu xuống lớp bùn nhão nhoét,
vươn lên tua tủa như bàn tay khẳng khiu của những kẻ chết đuối đang cố ngoi lên mặt nước tìm đường sống. Thỉnh thoảng vài con cá thòi lòi quẫy đuôi nhảy tanh tách trên bãi bùn, rồi chui tọt vào những hốc đất sủi bọt khí li ti.
Lão Lương vừa khua mái chèo gỗ kêu kẽo kẹt vừa nghiêng đầu nhìn tôi, giọng lão trầm xuống, lộ rõ vẻ nghiêm trọng:
- Cậu đã quyết tâm sang đó thì phải nhớ kỹ ba điều.
Xóm chài này có tập tục truyền đời từ năm Đinh Sửu, kẻ lạ đến đây nếu không tuân theo thì đừng trách sao mất mạng.
Thứ nhất, sau giờ Tý đêm nay, tuyệt đối không được đỏ lửa nhóm bếp.
Bất kể là đói bụng hay thèm một hớp nước sôi, cấm không được đánh diêm hay khêu bấc đèn.
Thứ hai, sau giờ Tý cũng cấm kỵ việc và cơm vào mồm.
Có thức ăn thừa mang theo trong túi thì giấu cho kỹ, chớ dại dột bẻ một mẩu bánh mì nuốt trôi qua cuống họng.
Tôi chau mày, cảm thấy điều cấm kỵ này vô cùng kỳ quặc:
- Tại sao lại cấm ăn cơm sau nửa đêm vậy bác?
Lão Lương ghìm chặt mái chèo, con thuyền khẽ chao đảo khi lướt qua một bãi cọc tiêu gãy mục. Lão hạ giọng thì thầm:
- Vì dưới lớp bùn ấy, lũ quỷ đói đang nằm nghe ngóng. Cậu mà nhóm bếp,
chúng nó thấy ánh đỏ sẽ tưởng là có tiệc cúng tế. Cậu mà nhai cơm, âm thanh răng chạm vào hạt gạo sẽ đánh thức cơn đói của cả vạn cái miệng bị chôn vùi từ năm ba bảy. Chúng sẽ trồi lên đòi cậu chia phần. Nghe rõ chưa?
- Cháu nhớ rồi
- Tôi gật đầu, lòng thắt lại. Vết bớt xám tro nơi mu bàn tay phải bắt đầu giật nhẹ từng cơn âm ỉ, chiếc túi gấm chứa nanh sói áp sát ngực tôi cũng tỏa ra luồng nhiệt quen thuộc.
Mũi thuyền rẽ lớp bèo tây trôi giạt rồi đâm sầm vào bờ đá lởm chởm của doi cát. Trước mắt tôi hiện ra một dải đất hoang tàn, chìm nghỉm trong lớp sương muối trắng đục.
Lão Lương thu sào, dứt khoát không chịu đặt chân lên bờ:
- Cứ đi thẳng theo con ngõ lát vỏ hàu này,
đến cuối bãi có căn nhà đá lợp ngói vảy cá là chỗ ở của bà Hai Chấn. Cậu tự lo liệu lấy thân. Đúng năm giờ sáng mai tôi quay lại đón. Nếu lúc đó không thấy cậu đứng ở mố đá này, tôi sẽ chèo thuyền về một mình, không tìm kiếm đâu.
Tôi bước lên bờ bùn dốc đứng. Lão Lương không chờ thêm một giây nào, lập tức đẩy sào chèo thuyền ngược dòng nước lợ, khuất dần vào màn sương xám xịt chỉ sau vài nhịp thở.
Bây giờ xung quanh tôi hoàn toàn vắng lặng.
Tôi bước từng bước thận trọng trên con ngõ độc đạo dẫn vào phế tích xóm chài.
Lối đi hẹp đến mức hai người đi ngược chiều phải nép nghiêng vai mới lọt.
Mặt đường không lát đá xanh hay tráng xi măng mà được phủ dày bằng hàng triệu mảnh vỏ hàu biển sắc nhọn.
Mỗi bước chân giẫm lên đều phát ra những tiếng lạo xạo rợn cả gáy, như thể xương vụn bị nghiền nát dưới đế giày vải.
Hai bên lối đi là những dãy nhà đá hoang phế. Tường nhà được xây bằng những tảng đá xơ, đá tổ ong gồ ghề trát bùn biển,
mái ngói vảy cá đã sụp đổ quá nửa, để lộ những bộ vì kèo mục ruỗng đâm thẳng lên trời đêm như bộ xương sườn của một con quái thú khổng lồ phơi xác. Cửa nẻo mục nát vẹo vọ, cỏ dại và dây leo mọc trùm lên bậu cửa, đóng một lớp muối biển mốc thếch.
Một luồng mùi vị tanh tưởi bốc lên ngùn ngụt từ chân móng các căn nhà. Đó là sự pha trộn kinh tởm giữa mùi cá biển ươn sình với mùi bùn ải lâu năm bị ủ kín dưới lòng đất. Càng đi sâu vào xóm,
mùi hôi thối ấy càng đậm đặc, xộc thẳng vào cánh mũi làm tôi buồn nôn cồn cào.
Đột nhiên, vết bớt trên mu bàn tay phải của tôi giật nảy lên một cái dữ dội.
Cơn đau nhói buốt chạy dọc từ ngón tay trỏ ngược lên bả vai. Cùng lúc đó, giác quan thứ sáu của tôi bị đánh thức một cách thô bạo.
Tôi dừng bước ngay giữa ngõ vỏ hàu.
Dưới lòng đất, ngay bên dưới lớp vỏ hàu lởm chởm và những tảng đá lát móng nhà, tôi nghe thấy những âm thanh kỳ dị. Đó không phải tiếng sóng biển vỗ bờ, cũng không phải tiếng ếch nhái kêu ran. Đó là tiếng cào cấu móng tay sột soạt, gấp gáp và tuyệt vọng.
Xoẹt... xoẹt... xoẹt...
Âm thanh đó di chuyển rất nhanh ngay dưới đế giày của tôi, hình như có hàng chục,
hàng trăm bàn tay khô đét đang dùng mười đầu ngón cào bới lớp đất sình bên dưới, cố gắng tìm đường chui lên. Rồi lẫn trong tiếng cào cấu là những âm thanh lép nhép, tiếng tóp tép của những cái miệng trống rỗng đang thèm khát nhai nuốt một thứ đáng sợ vô hình.
Cảm giác ớn lạnh bò dọc sống lưng. Tôi nắm chặt bàn tay phải lại, ấn mạnh vào ngực áo nơi chiếc nanh sói đang nóng ran để tự trấn an tinh thần, rồi rảo bước thật nhanh về phía trước.
Đi hết con ngõ lát vỏ hàu dài chừng ba trăm mét,
tôi nhìn thấy một căn nhà đá một gian còn tương đối nguyên vẹn nằm trơ trọi sát mép rừng mắm ngoài bãi bồi. Tường nhà dày cộp, bám đầy rêu xanh sẫm và muối khô, cửa chính làm bằng hai cánh gỗ lim xám xịt đã nứt toác nhiều chỗ.
Qua khe cửa hở, một tia sáng vàng vọt, yếu ớt hắt ra ngoài sân đất.
Tôi bước tới trước hiên, giơ tay gõ ba tiếng lên then cửa gỗ thô ráp:
- Có ai ở nhà không ạ? Cháu từ phương xa tới, muốn xin diện kiến bà Hai Chấn.
Bên trong không có tiếng người đáp lại,
chỉ có tiếng gió lùa qua khe liếp rít lên từng hồi. Tôi kiên nhẫn đứng đợi, đưa mắt quan sát xung quanh. Trước hiên nhà có đặt một chiếc cối đá thủng đáy, bên trong chứa đầy bùn non ướt sũng, trên mặt váng bùn cắm ba chân nhang đã tàn từ lâu.
Một lúc sau, tiếng then cài bằng sắt hoen gỉ rít lên ken két. Cánh cửa gỗ hé mở một khoảng rộng chừng hai gang tay.
Một gương mặt già nua xuất hiện sau khe cửa.
Đó là một bà lão gầy gò đến mức chỉ còn da bọc xương, tấm lưng còng gập xuống gần sát đất.
Da mặt bà xám xịt như màu bùn khô, chi chít những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh nứt của đất ruộng mùa hạn.
Đôi mắt bà đục ngầu, gần như bị bao phủ bởi lớp màng trắng đục của chứng thoái hóa tuổi già, nhưng trong con ngươi vẫn le lói một vẻ sợ hãi kinh hoàng.
Bà mặc bộ quần áo bà ba bằng vải thô nhuộm màu nâu sồng đã bạc phếch, hai bàn tay khẳng khiu như cành củi khô đang ôm ghì lấy một chiếc bát sành mẻ miệng trước bụng.
- Ai đó?
-
- Giọng bà khàn đặc, the thé như tiếng kim loại cào vào đáy nồi
- Đêm hôm khuya khoắt... mang hơi thở người sống đến cái xóm chết này làm gì?
Tôi cúi thấp người xuống để ánh sáng yếu ớt soi rõ gương mặt mình:
- Cháu là Tô Triều Hành, một người đi sưu tầm tư liệu về nạn đói năm 1937. Cháu nghe bác lái đò bên bến nói bà là nhân chứng duy nhất còn sống sót qua trận đại nạn năm Đinh Sửu ở xóm chài này. Cháu lặn lội từ xa đến đây,
chỉ mong được nghe bà kể lại đôi điều về chuyện năm xưa.
Nghe đến con số "năm ba bảy",
cả thân hình còng queo của bà Hai Chấn run rẩy bần bật. Chiếc bát sành mẻ trên tay bà va vào nhau lách cách. Bà trừng đôi mắt đục ngầu nhìn chằm chằm vào tôi, ánh nhìn quét qua vóc dáng cao gầy của tôi rồi dừng lại nơi cánh tay phải giấu trong ống áo khoác.
Bà hít một hơi dài qua kẽ răng rụng gần hết, lẩm bẩm trong cổ họng:
- Năm ba bảy... Đinh Sửu... lại là năm Đinh Sửu. Sao chúng mày không để cho người chết được yên?
- Cháu chỉ muốn ghi lại sự thật, để hậu thế không quên những gì tiền nhân đã phải chịu đựng thôi ạ
- Tôi chân thành nói, giọng hạ thấp hết mức có thể để xoa dịu nỗi bấn loạn của người già.
Bà Hai Chấn im lặng hồi lâu. Cuối cùng, bà khẽ thở dài một tiếng khô khốc, lách mình nghiêng người sang một bên, kéo cánh cửa mở rộng hơn:
- Vào đi. Đứng ngoài bãi sình lâu, hơi lạnh dưới bùn nó ngấm vào xương tủy thì hết đường về đất liền đấy.
Tôi bước qua bậu cửa đá bước vào bên trong. Căn nhà chỉ rộng chừng hai mươi mét vuông, đồ đạc trống trơn chẳng có gì đáng giá ngoài một chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách đá và một chiếc bàn con bằng gỗ tạp.
Ở giữa bàn, một ngọn đèn dầu hỏa nhỏ xíu với bấc đèn đã cháy cạn gần hết đang tỏa ra ánh lửa leo lét màu vàng đục,
chốc chốc lại bập bùng chao đảo theo từng cơn gió luồn qua vách đá nứt nẻ. Mùi dầu hỏa khét lẹt hòa quyện với mùi ẩm mốc của gian nhà tạo nên một bầu không khí ngột ngạt, bức bối đến nghẹt thở.
Bà Hai Chấn run rẩy bước đến bên chiếc chõng tre rồi ngồi co ro thụp xuống. Hai bàn tay gầy trơ xương vẫn bám chặt lấy chiếc bát sành rỗng không buông. Tôi kéo chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ ngồi xuống đối diện với bà, cẩn thận đặt cuốn sổ tay bìa da lên đùi.
- Bà Hai Chấn
- Tôi mở lời - Cháu nghe người ta hát câu dân ca về việc "áo đỏ qua bến bãi, chỉ đất non mềm nuốt trọn hơi". Có phải năm ba bảy đó, xóm chài này từng có người chỉ cách cho dân làng ăn bùn đất để sống qua ngày không ạ?
Ánh mắt đục mờ của bà lão đột ngột co rút lại. Đôi môi thâm sì giật giật liên hồi:
- Không phải người thường... không phải người trần mắt thịt... Đó là một ông thầy tu lạ mặt,
mặc áo cà sa đỏ lòm rách nát. Ông ta chống cây gậy tích trượng bằng sắt rỉ đi từ mé rừng mắm vào làng giữa lúc biển chết, cá tôm nổi trắng bụng thối rữa cả vịnh. Người trong xóm chết đói la liệt, thây ma nằm chắn cả lối đi vỏ hàu.
Bà dừng lại, hơi thở dốc lên sù sụ:
- Ông ta bảo... trời đã đoạn tuyệt đường sống của xóm chài, nhưng đất mẹ dưới đáy bùn thì có lòng từ bi vô tận. Ông ta dạy người ta quỳ xuống mé bãi bồi lúc nửa đêm,
móc lớp bùn dẻo sâu ba thước nhét vào mồm nhai mà nuốt. Ông ta nói bùn non ngàn năm là tinh hoa của đất trời, nuốt vào sẽ không bao giờ biết đói nữa...
- Rồi sao nữa ạ?
-
- Tôi nín thở hỏi dồn, ngón tay nắm chặt thân bút máy.
- Người ta tin theo...
-
- Giọng bà Hai Chấn nghẹn lại, một giọt nước mắt đục ngầu rỉ ra từ khóe mắt nhăn nheo
- Cả xóm kéo nhau ra ăn bùn. Ăn đến nỗi bụng trướng to như cái trống, da thịt chuyển sang màu xám tro, rồi ruột gan đông cứng lại thành đá tảng... Chết hết... không còn một ai sống sót ngoài tôi...
Lời kể của bà cụ chín mươi mốt tuổi như nhát búa đập thẳng vào tâm trí tôi. Lời đồn về Quỷ Thực Nê và nạn ăn bùn năm 1937 không hề là một câu chuyện hoang đường được thêu dệt nên. Nó là một ký ức rỉ máu,
một vết sẹo kinh hoàng của vùng duyên hải này.
Đúng lúc đó, từ trên vách đá phía sau lưng bà Hai Chấn, một âm thanh cơ khí khô khốc vang lên.
Cạch... cạch... cạch...
Một chiếc đồng hồ quả lắc kiểu cổ bằng gỗ mục gắn trên tường bắt đầu chuyển động bánh răng. Tiếng cót rít lên từng hồi nặng nhọc.
Cây kim sắt dài ngoằng nhích dần từng vạch, rồi trỏ thẳng đứng vào con số mười hai. Kim ngắn trỏ đúng số mười một.
ĐOONG... ĐOONG... ĐOONG...
Tiếng chuông đồng hồ điểm đúng mười một giờ đêm vang lên chói gắt, xé toạc sự tĩnh mịch của căn nhà đá. Mười một giờ đêm, tức là thời khắc khởi đầu của giờ Tý.
Sắc mặt bà Hai Chấn lập tức biến đổi hoàn toàn. Bà trợn trừng hai mắt, nhìn chòng chọc vào chiếc đồng hồ rồi run rẩy hét lên không thành tiếng:
- Giờ Tý... Giờ Tý tới rồi!
Một cơn gió biển cực mạnh từ ngoài bãi bồi đột ngột thổi thốc tới,
đập thẳng vào mặt tiền căn nhà đá. Cánh cửa gỗ lim vốn đã gài then sắt bỗng nhiên bị hất tung ra hai phía với một lực mạnh khủng khiếp. Luồng gió lạnh buốt mang theo hơi muối mặn rít gào qua gian phòng hẹp.
Ngọn lửa le lói trên bấc đèn dầu chao đảo dữ dội rồi phụt tắt ngấm.
Bóng tối dày đặc, đen kịt như mực tàu lập tức ụp xuống bao trùm toàn bộ không gian. Tôi không còn nhìn thấy bóng dáng bà Hai Chấn, cũng không nhìn thấy chiếc chõng tre hay bàn gỗ. Xung quanh tôi chỉ là một màn đen tuyệt đối, lạnh buốt đến thấu xương.
Vết bớt trên tay tôi đau nhói như bị lửa thiêu.
Trong bóng tối câm lặng ấy, từ phía góc tối tăm nhất của gian bếp ẩm thấp phía sau vách đá, đột nhiên vang lên một âm thanh rợn cả gáy.
Lách cách... lách cách... lách cách...
Đó là tiếng gõ đũa. Tiếng hai chiếc đũa bằng tre gõ nhịp nhàng, đều đặn vào miệng một chiếc bát sành rỗng. Nhịp gõ lúc khoan lúc nhặt, vang lên lanh lảnh giữa đêm đen, như thể một kẻ vô hình đang ngồi xổm nơi xó bếp chờ người nhà bưng cơm ra dọn bữa.
Tôi siết chặt chiếc nanh sói trong túi áo, toàn thân cứng đờ, nín thở hướng mắt nhìn về phía góc tối.
KẸT...TTT!
Cánh cửa gỗ thấp lè tè của gian bếp ẩm thấp tự động chuyển động trên bản lề rỉ sét, từ từ mở toang ra.
Một luồng khí lạnh buốt giá từ bên trong cuồn cuộn tràn ra ngoài, xộc thẳng vào mặt tôi. Đó không phải là không khí bình thường, mà là một mùi tanh tưởi nồng nặc đến nghẹt thở - mùi của bùn non ươn sình lẫn với mùi thịt rữa từ đáy mồ sâu hun hút.