Bùn Quỷ Thực - Chương 32: Quảng Đông Bát Tự Thuần Âm
Tiếng bản lề cửa bếp rỉ sét nghiến vào nhau ken két giữa khoảng tối đen ngòm. Mùi tanh của sình lầy ươn thối từ gian nhà sau thốc thẳng vào mũi tôi, nồng…
Nội dung chương
Tiếng bản lề cửa bếp rỉ sét nghiến vào nhau ken két giữa khoảng tối đen ngòm. Mùi tanh của sình lầy ươn thối từ gian nhà sau thốc thẳng vào mũi tôi,
nồng nặc và lạnh toát, làm da gà khắp người tôi dựng đứng. Tôi giữ chặt lấy chiếc nanh sói đeo bên hông, đưa tay lục túi áo khoác lấy ra hộp diêm quẹt mang theo sẵn.
Xoẹt!
Đầu que diêm bùng lên một đốm lửa đỏ lựng, mùi lưu huỳnh khen khét nhanh chóng lấn át luồng tử khí ẩm ướt vừa tràn qua. Tôi che tay giữ ngọn lửa nhỏ,
nhanh chóng châm vào cây nến sáp trắng cắm sẵn trên chiếc đĩa sứ đặt giữa bàn. Ngọn lửa nến bắt đầu cháy ổn định, tỏa ra quầng sáng vàng vọt, đẩy lùi bóng tối dày đặc ra các góc tường đá.
Bà Hai Chấn vẫn ngồi co quắp trên mép chiếc chõng tre ọp ẹp. Đôi bàn tay khẳng khiu như hai cành củi khô của bà cụ chín mươi mốt tuổi bấu chặt lấy gấu quần vải thô,
toàn thân run rẩy từng chập liên hồi. Răng bà va vào nhau lập cập, phát ra những âm thanh lộp cộp khô khốc giữa bốn bề vắng lặng của xóm chài đêm khuya.
Tôi bước lại gần chiếc phích rỉ sét đặt ở góc chạn bát, rót một ít nước ấm vào chiếc khăn vải sạch rồi quay lại bên chõng.
- Bà Hai, không sao đâu, gió biển thổi bung cửa thôi. Cháu ở đây rồi.
Tôi khẽ khàng cầm lấy bàn tay lạnh ngắt của bà cụ,
dùng khăn ấm lau đi lớp mồ hôi nhờn dính bám trên những ngón tay gầy rộc. Da thịt người già mỏng dính, xanh xao lộ rõ những đường gân tím ngắt chằng chịt. Dưới hơi ấm của chiếc khăn ướt, cơn co giật nơi bắp tay bà cụ mới từ từ dịu bớt.
Bà Hai Chấn ngước đôi mắt đục mờ lên nhìn tôi. Lớp màng mộng thịt che khuất quá nửa con ngươi,
khiến ánh nhìn của bà trông hoang dại và trống rỗng lạ lùng. Bà nhìn chằm chằm vào cuốn sổ tay bìa da màu nâu sẫm tôi đang kẹp dưới nách cùng chiếc bút máy vỏ kim loại gài nơi túi áo. Đôi môi thâm xì của bà run bần bật, mấp máy từng tiếng đứt quãng:
- Sổ... lại có người cầm cuốn sổ về làng ghi tên... Năm ba bảy... năm Đinh Sửu... bọn họ cũng cầm cuốn sổ bìa đen đi từng nhà... Nhưng người chết nhiều quá... ghi không xuể...
Tôi kéo chiếc ghế đẩu gỗ ngồi sát lại gần chõng tre, nhẹ nhàng đặt cuốn sổ lên mặt bàn đá, mở sẵn trang giấy trắng tinh ra trước mặt.
- Năm Đinh Sửu đó xảy ra chuyện gì, bà Hai kể cháu nghe được không? Người ta bảo năm đó xóm bãi biển này có đại nạn?
Bà lão thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực lép kẹp phập phồng nặng nhọc dưới manh áo nâu sờn rách vá chằng vá đụp. Đôi mắt đục ngầu của bà không nhìn vào ngọn nến,
cũng không nhìn vào tôi, mà trôi dạt về khoảng không vô định nơi vách đá đóng rêu xanh. Ký ức tuổi lên sáu, thứ ký ức tàn khốc bị vùi sâu dưới lớp bụi thời gian gần một thế kỷ bỗng nhiên vỡ òa, túa ra như dòng mủ độc từ miệng vết thương cũ.
- Mùa thu năm ấy...
-
- Giọng bà Hai Chấn khàn đặc, nghẹn ứ ở cuống họng
- Trời không cho xóm chài một con đường sống. Cơn bão lớn từ ngoài vịnh ập vào bờ lúc nửa đêm. Sóng biển dựng đứng cao ngang ngọn cây dừa,
quét sạch sành sanh mọi thứ trên bãi bồi. Ghe thuyền của người trong xóm bị sóng đập nát vụn thành từng mảnh ván mục, trôi dạt trắng xóa cả mặt nước.
Bà dừng lại, đưa bàn tay run rẩy quệt ngang khóe mắt khô khốc không còn ứa nổi giọt nước mắt nào.
- Qua trận bão là đến chuỗi ngày nắng lửa.
Trời không rơi một hạt mưa, nắng rát bỏng cả da thịt.
Ruộng lúa trên sườn rẫy cháy khô cháy khét thành rơm rạ, đất nứt nẻ thành từng kẽ sâu hoắm nuốt trọn cả bàn chân.
Đáng sợ nhất là ngoài bãi bồi...
Nước biển rút cạn ra xa tít tắp, bãi bùn lầy xám xịt nhờn nhợt phơi mình dưới nắng quái, bốc lên một mùi tanh nồng nặc lợm giọng.
Tôm cá dưới đáy bùn chết phơi bụng trắng xóa, thối rữa đến nỗi ruồi nhặng bu đen kịt như đám mây tang.
Tôi siết chặt thân bút, từng chữ viết sột soạt trên trang giấy trắng ghi lại lời trần thuật run rẩy của người sống sót duy nhất. Cơn đói năm Đinh Sửu 1937, dưới ngòi bút của tôi, hiện lên với đầy đủ diện mạo tàn bạo nhất của nó.
- Ban đầu xóm chài còn gạo dự trữ không bà?
-
- Tôi hỏi khẽ.
- Lấy đâu ra gạo hở chú?
-
- Bà Hai Chấn lắc đầu quầy quậy
- Người nghèo xứ này chỉ sống nhờ vào con cá, mớ tôm đánh bắt hằng ngày. Bão quét sạch lưới, thuyền bè vỡ tan, cả làng lâm vào cảnh đứt bữa ngay từ tuần lễ đầu tiên. Người ta bắt đầu đổ xô đi đào bới rễ cây rừng ngập mặn. Vỏ cây sú,
vỏ cây vẹt bị người ta dùng dao tước sạch trơn từ gốc lên đến ngọn. Đem về băm nhỏ, ngâm nước mặn cho bớt chát rồi bỏ vào nồi đất luộc sôi sùng sục. Nuốt vào đắng ngắt cuống họng, bụng dạ cồn cào như có bàn tay thọc vào bóp nát ruột gan.
Tôi tưởng tượng ra cảnh tượng những thân cây sú vẹt trơ trọi vỏ trắng bợt giữa đầm lầy, và những con người đói lả đang quỳ gối gặm nhấm thân cây trong tuyệt vọng.
- Ăn hết vỏ cây rồi người ta làm sao nữa ạ?
- Ăn đến rễ cỏ dại mọc men theo các khe đá
- Giọng bà lão run rẩy hơn, từng ngón tay bấu chặt vào mép ván chõng đến trắng bệch - Những cọng rễ già xơ cứng, nhai trẹo cả quai hàm. Người lớn cắm đầu nhai,
trẻ con vừa nhai vừa khóc rấm rứt vì gai cỏ và chất xơ đâm thủng cuống họng, máu tươi tứa ra theo kẽ răng. Nhưng đói quá rồi... Người ta nuốt luôn cả máu của chính mình cùng mớ rễ cỏ nát bét để đánh lừa cái bụng đang réo gầm gào.
Bà Hai Chấn thở dốc, hai vai gầy nhô cao lên rồi sụp xuống theo từng nhịp thở nặng nề. Ánh nến vàng hắt bóng lưng còng của bà lên vách đá, tạo thành một vệt đen gãy khúc, quái dị.
- Rồi người chết bắt đầu nằm la liệt khắp lối đi
- Bà cụ thì thầm, giọng nói như vọng lên từ cõi âm - Ban đầu người ta còn gom lá dừa khô đắp lên mặt người chết đói, người thân còn gượng sức đào cái hố nông ven chân đồi mà vùi xác. Về sau,
đến sức đứng lên bước đi còn không có, người sống đành trơ mắt nằm nhìn người chết trương phình lên ngay bên cạnh mình. Ruồi bọ bu đầy mắt, mũi người nằm còng queo ngoài bờ rào vỏ hàu. Không ai buồn khóc, bởi vì nước mắt đã cạn khô từ lâu lắm rồi...
Căn nhà đá chìm vào một khoảng lặng nghẹt thở. Ngoài kè đá, tiếng sóng biển vỗ ì oạp vào chân móng, nghe nặng nề và đều đặn giống như tiếng bước chân của tử thần đang dạo quanh xóm chài hoang tàn.
- Nhà bà lúc đó... cha mẹ bà còn cầm cự được bao lâu?
-
- Tôi cất lời, cảm thấy ngực mình thắt lại.
Đôi mắt đục ngầu của bà Hai Chấn đột ngột mở to trừng trừng, đồng tử co rút lại đầy hoảng loạn. Bà vươn hai bàn tay gầy gò túm chặt lấy cổ tay áo tôi. Sự lạnh lẽo từ da thịt bà truyền thẳng qua lớp áo, buốt giá đến tận xương tủy.
- Đêm đó... đêm trăng khuyết méo mó như một lưỡi liềm rỉ máu...
-
- Giọng bà run lên bần bật, hơi thở hổn hển
- Cả gian nhà đá này tối om, chẳng có lấy một giọt dầu thắp đèn. Cha tôi nằm ở góc chõng bên kia,
mẹ tôi ôm chặt lấy tôi nơi góc phản. Tiếng bụng réo rắt cồn cào vang lên rợn cả gáy... Tiếng kêu ấy chẳng giống tiếng bụng đói của con người, nó ùng ục, sùng sục như tiếng bùn non sôi lên dưới đáy đầm lầy lúc thủy triều rút cạn.
Bà ngừng lại nuốt một ngụm nước bọt khan, cổ họng phát ra tiếng khò khè đau đớn:
- Cha tôi bỗng nhiên ngồi bật dậy. Mắt ông trợn trừng, hai tròng mắt đỏ ngầu những tia máu vỡ,
sáng quắc lên trong bóng đêm mờ ảo của ánh trăng rọi qua khe cửa. Ông không rên rỉ, không kêu khóc nữa. Mẹ tôi cũng buông tôi ra, lồm cồm bò dậy theo ông. Hai người họ lầm lũi bò bằng cả hai tay hai chân, trườn qua ngưỡng cửa đá này...
Tôi nín thở, ngón tay run nhẹ làm vệt mực trên trang sổ hơi nhòe đi.
- Họ đi đâu hở bà?
- Họ bò ra mé rãnh nước trước cửa nhà!
-
- Bà Hai Chấn gào lên thành một tiếng rít the thé, nước mắt đục ngầu rỉ ra tràn qua những nếp nhăn nheo sâu hoắm trên má
- Nơi đó có lớp bùn non đọng lại sau những đợt triều cường xâm lấn. Bùn xám xịt, đen sì, bốc mùi sình thối nồng nặc. Cha tôi quỳ sụp xuống hai đầu gối, cắm cả hai bàn tay vào lớp bùn nhão nhoét. Ông bốc từng vốc bùn đen ngòm nhét tọt vào mồm!
Trời đất như sụp đổ trước mắt tôi qua lời kể kinh hoàng ấy.
- Mẹ tôi cũng quỳ xuống cạnh ông
- Bà Hai Chấn lắc đầu dữ dội, hai hàm răng va vào nhau bần bật - Bà vục cả mặt xuống rãnh bùn,
dùng hai tay cào xới đất sình tống ngập mồm ngập họng. Bùn non dẻo quánh nhét đầy khoang miệng, tràn ra cả khóe môi, rớt từng giọt đen sì xuống vạt áo. Họ không hề ọe mửa, họ nhai ngấu nghiến, phát ra những tiếng nhóp nhép, sột soạt nhớp nháp đến rợn cả óc!
- Họ... họ nuốt bùn thật sao?
- Nuốt trộng từng ngụm lớn!
-
- Bà lão khóc nấc lên
- Họ vừa nhét bùn vào họng vừa cười sằng sặc. Tiếng cười the thé rợn cả gáy giữa đêm khuya vắng ngắt. Cha tôi ngẩng cái đầu dính đầy bùn đất lên nhìn lên trời, miệng toe toét cười,
răng dính chặt bùn đen, bảo rằng: "Ngọt quá... Mẹ mày ơi, đất này ngọt lịm như cháo hoa đường phèn ngày tết... Ăn đi... ăn cho no cái bụng...". Mẹ tôi cũng cười the thé đáp lại, vừa vốc bùn vừa nhét vào miệng đứa em nhỏ đang nằm ngắc ngoải bên bậu cửa...
Cơn ớn lạnh từ sống lưng tôi phóng thẳng lên đỉnh đầu. Cảnh tượng cha mẹ bà cụ trong cơn đói cùng cực phát điên, quỳ gối gặm nhai bùn đất đen ngòm dưới ánh trăng tàn hiện lên rõ mồn một qua từng lời kể rỉ máu.
- Sau đó thì sao ạ? Họ có qua khỏi không?
- Qua khỏi làm sao được hở chú?
-
- Giọng bà Hai Chấn chùng xuống, hóa thành tiếng nấc nghẹn ngào
- Bùn non nuốt vào bụng làm sao tiêu hóa nổi. Chỉ sang đến chiều hôm sau, bụng cha mẹ tôi bắt đầu trướng to lên như cái trống cái. Lớp đất sét dẻo quánh nằm ứ đọng lại trong dạ dày,
trong ruột non ruột già rồi đông cứng lại thành từng tảng đá tảng gạch. Họ quằn quại trên nền đất, cào cấu đến rách cả da bụng, miệng ộc ra từng ngụm nước bùn đen ngòm thối hoắc. Ruột gan tắc nghẽn hoàn toàn, không thể nào bài tiết ra ngoài được...
Tôi rùng mình khi nghĩ đến cái chết kinh hoàng do tắc ruột vì bùn đất đóng tảng. Đó là một sự hành xác tàn khốc nhất mà một con người phải gánh chịu trước khi trút hơi thở tàn.
- Đến lúc hấp hối...
-
- Bà Hai Chấn hạ thấp giọng, đôi mắt bà hướng thẳng ra phía khung cửa sổ nhìn về mé rừng mắm ngoài cửa biển
- Cha tôi không nhìn tôi, mẹ tôi cũng không nhìn con cái. Cả hai người bọn họ, lúc sắp tắt thở, đều gượng hết chút tàn lực cuối cùng, ngẩng đầu ngoái cổ nhìn về phía rừng mắm ngập mặn ngoài bãi bồi xa xăm.
- Họ nhìn cái gì ngoài đó?
-
- Tôi vội hỏi dồn.
- Ánh mắt của họ trống rỗng, đờ đẫn
- Bà lão thì thầm, ngón tay run run chỉ về hướng biển đêm - Họ nhìn chăm chú vào màn sương mù đen kịt ngoài mé rừng mắm, hai tai vểnh lên như thể đang lắng nghe ai đó réo gọi tên mình từ dưới ngọn triều đen.
Cha tôi thều thào gọi: "Thầy...
con ra bến bái thầy đây...".
Nói xong câu đó thì ông nấc lên một tiếng rồi tắt thở, mắt vẫn mở trừng trừng không chịu nhắm lại.
Bụng ông cứng ngắc như một tảng đá hoa cương...
Lời kể của bà Hai Chấn dừng lại đột ngột. Căn phòng đá lập tức bị bao trùm bởi một luồng không khí đặc quánh, tanh nồng.
Ngay lúc đó, vết bớt màu xám tro trên mu bàn tay phải của tôi bỗng nhiên giật nảy lên một cái dữ dội.
Một cơn đau nhói buốt như có ai đó lấy kim nung đỏ chọc thẳng vào tủy xương làm tôi phải cắn chặt răng để khỏi bật thốt lên tiếng kêu.
Giác quan thứ sáu của tôi bị kéo căng theo dòng hồi ức u uất của bà lão chín mươi mốt tuổi.
Một luồng mùi hôi thối quen thuộc thốc thẳng vào cánh mũi tôi. Đó chính xác là mùi tanh lợm giọng của đất sình mục rữa,
mùi bùn non ngàn năm bị khuấy đảo bởi những cái chết oan khiên. Mùi hương ấy nồng nặc đến mức tôi cảm giác như có cả một đống bùn ướt vừa được hắt tung tóe lên sàn nhà đá.
Tôi chầm chậm cúi đầu nhìn xuống dưới chân mình.
Dưới ánh nến bập bùng lay lắt, trên nền đá ẩm ướt lờ mờ in bóng hai vệt đen thẫm dị thường. Đó là hai cái bóng người gầy trơ xương sườn, đang quỳ gối rạp mình ngay sát mũi giày của tôi.
Hai cái bóng đen ấy không có hình thù rõ ràng, chỉ thấy phần đầu cúi gằm xuống sát mặt đất, hai cánh tay khẳng khiu như cành cây khô liên tục vung vẩy,
cào xới vào các khe nứt của sàn đá. Từ dưới gầm bàn vọng lên những tiếng "lách chách, nhóp nhép" nhớp nháp - âm thanh của những chiếc lưỡi khô ráp đang thèm khát liếm láp từng hạt đất ẩm, hòa lẫn với tiếng thở dốc đói khát đến cùng cực.
Tôi rùng mình siết chặt nắm tay, chiếc nanh sói trong túi áo bắt đầu tỏa nhiệt nóng ran, ngăn không cho cái lạnh từ hai bóng đen kia xâm nhập vào thân thể.
Phía ngoài bờ kè chắn sóng, một tiếng gọi lờ mờ, trầm đục như tiếng mõ gõ ngập nước vọng lại từ hướng rừng mắm xa xăm, xé toạc màn đêm đen đặc của xóm chài hoang lạnh.