Bùn Quỷ Thực - Chương 34: Thầy Trịnh Già Kể Về Bùn Quỷ
Gió biển thổi qua bãi lầy mang theo hơi muối mặn chát cùng mùi xác cá chết rữa rỉ rỉ thốc vào cánh mũi. Tôi rời khỏi gian nhà đá của bà Hai Chấn khi vòm…
Nội dung chương
Gió biển thổi qua bãi lầy mang theo hơi muối mặn chát cùng mùi xác cá chết rữa rỉ rỉ thốc vào cánh mũi.
Tôi rời khỏi gian nhà đá của bà Hai Chấn khi vòm trời phía đông mới vừa ửng lên một vệt màu xám đục như lòng trắng trứng gà ung.
Lời cảnh báo gấp gáp của bà lão vẫn còn văng vẳng bên tai: đi dọc theo mép bãi bồi, men theo dải cọc cừ rào chắn trước lúc con nước lớn tràn vào, tìm đến căn chòi đước nằm trơ trọi giữa vùng ngập mặn.
Mỗi bước chân cắm sâu xuống bùn lầy đều nặng như đeo chì.
Bùn non ở mé đầm lầy này đen sì, dẻo quánh, ngập lút qua mắt cá chân rồi dâng lên quá nửa bắp vế.
Lớp bùn mút chặt lấy ống quần, phát ra những tiếng "oọc...
sột" nhầy nhụa mỗi khi tôi ráng sức nhấc chân bước tiếp.
Xung quanh tôi, sương mù dày đặc buông xuống bao trùm bãi rạn, biến cả vùng đước ngập mặn thành một cõi mông lung không phương hướng.
Dưới lớp bùn xám xịt, từng chuỗi bong bóng khí đầm lầy liên tục vỡ tung ra lụp bụp, bốc lên mùi tử khí ngai ngái quen thuộc của cơn đói năm nào.
Vết bớt hình tro tàn trên mu bàn tay tôi giật nảy từng chập.
Cơn buồn nôn âm ỉ từ cuống họng vẫn chưa tan biến hẳn sau khi tôi thoát khỏi bẫy sỏi cuội đen hóa thành cơm nếp trong liễn sành lúc nửa đêm.
Miệng tôi vẫn còn vương vị máu tanh do vết cắn rách đầu lưỡi, nhưng tận sâu trong cuống họng lại khô rát, đắng ngắt.
Giữa màn sương mù xám đục mịt mùng, một thanh âm khô khốc bỗng lọt vào tai tôi.
Cộc... Cộc... Cộc...
Tiếng gõ gỗ gõ đều đặn từng nhịp một, vang lên từ phía trước. Âm thanh ấy va đập vào thân cây mục,
xuyên qua lớp sương ẩm ướt, đanh gọn và vững chãi. Tiếng gõ phá tan cảm giác ngột ngạt đang bóp nghẹt lồng ngực tôi, kéo sự chú ý của tôi về một bóng đen mờ ảo nhô lên khỏi mặt nước cách đó tầm vài chục mét.
Đó là một căn chòi dựng bằng cọc đước cheo leo trên bãi triều rút.
Toàn bộ sàn nhà được đỡ bằng những thân gỗ đước ngoằn ngoèo cắm sâu vào lòng sình lầy, phủ đầy rêu xanh cùng vỏ hàu sắc nhọn.
Mái chòi lợp bằng lá dừa nước xơ xác tơi tả sau nhiều năm phơi mình trước gió bão biển Nam.
Dưới chân các cọc gỗ, bùn sình đang sủi tăm liên hồi, từng vệt váng dầu màu xám xịt dập dềnh theo những đợt sóng con vừa rút ra cửa lạch.
Tôi bấu tay vào các rễ đước trơn trượt, chật vật leo từng bước lên chiếc thang gỗ gá tạm dẫn lên sàn chòi. Sàn ván ghép bằng những thanh đước chẻ đôi rung lên bần bật, kêu cót két dưới sức nặng của thân thể tôi.
Khi đầu tôi vừa ngoi lên khỏi mép sàn ván, một luồng gió lạnh buốt thốc ngược từ trong căn chòi trống hoác phả thẳng vào mặt.
Trên chiếc sập tre ọp ẹp kê sát vách lá, một bóng người đàn ông gầy guộc đang ngồi xếp bằng ngay ngắn. Ông ta khoác trên mình bộ áo vải thô màu nâu sồng đã bạc phếch, mép áo xơ rách te tua. Hai hốc mắt của người này trũng sâu hoắm,
tròng mắt màu trắng dã đục ngầu, hoàn toàn vô hồn hướng thẳng về phía cửa lạch mù sương. Trên khuôn mặt sạm đen chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như rễ cây sú vẹt, không hề có lấy một tia biểu cảm.
Tôi vừa đặt chân thứ hai lên mặt sàn gỗ, người đàn ông mù bỗng chuyển động.
Cây gậy trúc dài màu vàng úa trên tay ông ta vung lên nhanh như một tia chớp xé toạc màn sương. Đầu gậy vót nhọn bằng kim loại phát ra một tiếng xé gió sắc lẹm, dừng lại chuẩn xác ngay giữa trán tôi, cách da thịt tôi chưa đầy nửa đốt ngón tay.
Một luồng khí lạnh toát từ đầu gậy truyền thẳng vào ấn đường làm toàn thân tôi cứng đờ, không thể nhích thêm nửa bước.
- Đứng yên đó!
-
- Giọng nói của ông ta khàn đặc, thô ráp hệt như tiếng hai mảnh vỏ sò mài vào nhau
- Bước thêm nửa tấc nữa thì cái đầu của chú em nát bấy trước khi kịp bước vào đất tổ.
Tôi nuốt nước bọt cái ực, cố giữ cho giọng mình không run rẩy:
- Bác có phải là... thầy cúng họ Trịnh mà bà Hai Chấn bảo tôi tìm đến không?
Đôi tròng mắt trắng dã của thầy Trịnh không hề chớp. Đầu mũi ông ta khẽ phập phồng, hít một hơi dài vào lồng ngực gầy guộc trơ cả xương sườn. Chiếc gậy trúc trên tay ông ta vẫn giữ nguyên vị trí giữa trán tôi, vững vàng đến mức không run rẩy lấy một ly.
- Bà Hai Chấn già lú lẫn rồi mới chỉ đường cho một cái xác sắp thối đến đây - Thầy Trịnh gằn giọng,
từng từ thốt ra đều mang theo sự căm ghét lạnh lùng. Chú em bước chân vào chòi của tôi mà mang theo cả một bọc uế khí bẩn thỉu của lũ ma lừa đói dưới đáy lạch. Cổ họng dính đờm quỷ,
dạ dày đóng tảng sình non. Chú em tưởng cắn rách đầu lưỡi là thoát được bẫy sỏi lừa đói của mụ ấy hay sao?
Nghe thầy Trịnh vạch trần vụ việc đêm qua, sống lưng tôi lập tức lạnh toát. Tôi giơ hai bàn tay lên ngang ngực trần tình:
- Tôi vô tình đụng vào liễn sành bảy viên sỏi đen trong bếp nhà bà ấy. Tôi đã nhổ hết máu tươi, tuyệt đối chưa nuốt thứ gì vào bụng...
- Chưa nuốt bằng miệng, nhưng lỗ chân lông và kinh mạch của chú em đã hút trọn hơi sình của chúng nó rồi!
-
- Thầy Trịnh cắt ngang lời tôi bằng một tiếng nạt lớn
- Bãi sỏi lừa đói là tà thuật trói hồn từ thời loạn lạc. Ai hít phải khói mắm nấu bùn của mụ già đó,
ba ngày sau ngũ tạng sẽ tự rữa ra thành bùn loãng, ruột gan thắt lại thành đá sình mục nát. Chú em chưa cảm thấy ngực mình nặng trịch, bụng dưới lạnh ngắt như có tảng đá đè lên hay sao?
Lời của thầy Trịnh đánh trúng cảm giác buốt giá đang âm ỉ cào cấu trong bụng tôi suốt từ nửa đêm đến giờ. Cơn đói cồn cào lúc trước đã biến thành một khối lạnh ngắt đông cứng ngay dưới chấn thủy.
Chiếc gậy trúc đột ngột thu về. Thầy Trịnh hạ gậy, gõ mạnh ba tiếng cộc cộc xuống sàn ván rồi chỉ tay về phía chiếc ghế đẩu bằng gỗ mù u đặt trước sập tre:
- Ngồi xuống đó. Đưa gáy ra đây. Nếu sợ đau thì cắn chặt răng lại, kêu lên một tiếng làm đứt mạch bùa thì tự gánh lấy hậu quả.
Tôi vội vã bước tới ngồi xuống chiếc ghế đẩu thấp tịt. Thầy Trịnh không cần dùng mắt nhìn nhưng mọi động tác đều chuẩn xác lạ thường. Ông ta vươn tay rút từ trong chiếc giỏ tre treo bên vách ra một nhúm lá khô màu xám tro,
đưa lên mũi ngửi rồi nhét thẳng vào miệng nhai ngấu nghiến. Kế đó, ông ta mở nắp một chiếc hũ sành nhỏ, dùng đầu ngón tay trỏ quẹt một vệt bột màu đỏ au nồng nặc mùi lưu huỳnh - đó là bột chu sa thượng hạng.
Ông ta nhét cả bột chu sa vào miệng, tiếp tục nhai trạo trạo cùng mớ lá ngải khô. Tiếng răng nghiến cành cạch hòa lẫn với tiếng thở dồn dập của thầy cúng mù tạo nên một bầu không khí ma quái ngột ngạt.
Đột nhiên, bàn tay gầy guộc đầy vết sẹo của thầy Trịnh vươn ra, túm chặt lấy mớ tóc trên đỉnh đầu tôi, kéo giật mạnh đầu tôi chúi về phía trước để lộ toàn bộ phần gáy.
Phì!
Một búng nước đỏ sẫm lẫn bã ngải khô bị phun thẳng vào sau gáy tôi. Chất lỏng nóng rực như nước sôi tạt vào da thịt,
làm tôi giật bắn người, suýt nữa hét toáng lên vì đau đớn. Ngay sau đó, bàn tay khẳng khiu của thầy Trịnh áp chặt vào vùng da vừa bị phun thuốc, năm ngón tay bấm sâu vào các huyệt đạo quanh đốt sống cổ.
Miệng ông ta bắt đầu lẩm bẩm những câu thần chú bằng phương ngữ Lĩnh Nam cổ. Âm điệu trầm bổng, rít qua kẽ răng như tiếng gió lùa qua hang đá sâu:
- Thổ quy thổ, nê quy nê. Phàm phu thực thổ, bách quỷ phệ hồn. Ngô phụng Lĩnh Nam chân quyết, khai khiếu bài uế, cấp cấp như luật lệnh!
Vừa dứt câu chú, ngón tay cái của thầy Trịnh ấn mạnh vào huyệt Đại Chùy sau gáy tôi một lực ngàn cân.
Một luồng khí nóng bỏng rát từ gáy chạy thẳng xuống dọc sống lưng, xộc ngược vào dạ dày tôi. Cả lồng ngực tôi bốc hỏa dữ dội. Cơn co thắt tàn bạo bóp nghẹt lấy bao tử, ruột gan tôi như bị ai đó thò tay vào vặn xoắn từng khúc.
Ọe!
Tôi gập người xuống sàn ván, nôn thốc nôn tháo.
Từ cuống họng tôi ộc ra một búng nước đen ngòm,
đặc quẹt và hôi thối nồng nặc. Thứ chất lỏng tống ra khỏi người tôi không hề giống dịch dạ dày bình thường. Nó quánh lại từng mảng nhờn nhợt, rơi xuống sàn gỗ đước xèo xèo bốc lên một làn khói mỏng màu xám tro tanh tưởi hệt như mùi sình lầy lâu năm bị nung cháy.
Sau khi nôn thốc ra búng nước đen thứ hai, lồng ngực tôi lập tức nhẹ bẫng. Cảm giác buốt lạnh đông cứng dưới chấn thủy tan biến hoàn toàn,
nhường chỗ cho một luồng nhiệt ấm áp từ từ lan ra khắp tứ chi. Tôi gục đầu xuống hai đầu gối, thở dốc từng cơn, mồ hôi lạnh vã ra như tắm ướt đẫm cả vạt áo sau lưng.
Thầy Trịnh dùng mu bàn tay lau sạch khóe miệng dính đầy vệt chu sa đỏ lòm, với tay lấy chiếc gáo dừa múc nước trong lu đưa cho tôi:
- Súc miệng đi. Hơi độc tống ra được rồi, nhưng căn nguyên của cái nợ bùn đất này vẫn còn nằm sâu dưới bãi rạn kia kìa.
Tôi run rẩy đón lấy gáo nước mưa, súc miệng ba bốn lần để tẩy sạch vị tanh lợm giọng trong khoang họng rồi mới gượng ngồi thẳng dậy. Nhìn bãi chất lỏng đen ngòm đang rỉ qua các khe ván sàn nhỏ giọt xuống bãi bùn bên dưới, tôi không khỏi rùng mình khiếp đảm:
- Đa tạ thầy đã cứu mạng. Thầy vừa bảo thứ này... là tà thuật trói hồn?
Thầy Trịnh chống gậy trúc đứng dậy. Dáng người ông ta còng rạp xuống, chiếc bóng gầy guộc in lên vách lá rách nát dưới ánh rạng đông xám xịt. Ông ta quay đôi mắt mù lòa về phía rừng mắm ngập mặn xa xăm ngoài bãi cạn, im lặng hồi lâu mới cất tiếng.
- Chú em lặn lội từ bờ Tây Giang đến tận vùng bùn nước mặn này tìm hiểu chuyện năm 1937, có biết vì sao gia tộc họ Trịnh chúng tôi ba đời nay đàn ông sinh ra đều phải chịu cảnh mù lòa không?
Tôi lắc đầu, nhận ra ông ta không nhìn thấy nên vội vàng lên tiếng:
- Tôi chỉ nghe người ta bảo dòng họ Trịnh ở đất duyên hải này từng là những thầy cúng pháp thuật cao cường, chuyên việc trấn trạch trừ tà ven biển.
- Trấn trạch cái gì chứ
- Thầy Trịnh cười khẩy, nụ cười méo mó chua chát - Đó là cái giá phải trả để đổi lấy đôi mắt tâm linh mà canh giữ phong ấn nghiệt ngã này. Cha tôi mù,
ông nội tôi mù, và đến đời tôi cũng mù từ năm lên mười tuổi. Tà khí tích tụ dưới bãi mắm này quá nặng, kẻ nào muốn gánh vác việc canh giữ đều phải hiến tế đôi mắt thịt để tránh bị ảo ảnh của ma đói làm cho phát điên.
Ông ta dừng lại một chút, chiếc gậy trúc trên tay khẽ xoay tròn trên mặt sàn ván:
- Người đời nay chỉ biết năm Đinh Sửu đói kém khắp vùng Lĩnh Nam,
dân chúng cào cỏ bới rễ mà ăn, cuối cùng dắt díu nhau ra bãi sình ngậm bùn mà chết. Bọn họ cứ tưởng đó là do ma quỷ dưới lòng đất nổi giận, tưởng là Quỷ Thực Nê từ thời hồng hoang hiển linh trừng phạt người trần. Nhưng sự thật tàn độc hơn nhiều.
- Sự thật là gì, thưa thầy?
-
- Tôi sốt sắng hỏi.
Thầy Trịnh siết chặt cán gậy, giọng nói đanh lại đầy căm hận:
- Kẻ gieo rắc thảm họa năm đó vốn xuất thân là một con người bằng xương bằng thịt. Hắn là một đạo sĩ biến chất từng tu luyện thuật Mao Sơn trên núi cao,
sau đó bị trục xuất vì luyện tà pháp cấm kỵ. Năm 1937, khi nạn đói hoành hành khắp đôi bờ Tây Giang, hắn đã mò về dải đất ngập mặn này.
Một cơn gió lốc từ ngoài lạch biển thổi tạt qua chòi, làm lay động những túm ngải khô treo lủng lẳng trên xà nhà.
- Hắn lợi dụng lúc người dân lâm vào cảnh cùng đường đói khát, lập đàn cúng bái ở bãi bồi rừng mắm - Thầy Trịnh tiếp tục kể,
từng lời như cứa vào không gian ẩm ướt. Hắn rêu rao rằng bùn non dưới gốc cây mắm ngàn năm là phù sa của thần biển ban cho. Chỉ cần niệm chú của hắn rồi nuốt vào bụng là no đủ, không bao giờ phải chịu cái đói hành hạ nữa. Hàng trăm con người mê muội trong cơn tuyệt vọng đã tin lời hắn, quỳ lạy dưới chân hắn rồi vục từng vốc bùn đen nuốt trộng.
Tôi nhớ lại lời kể đẫm nước mắt của bà Hai Chấn về hình ảnh cha mẹ bà nuốt từng ngụm bùn rồi khen ngọt như cháo hoa đường phèn:
- Hắn làm vậy để làm gì? Lừa người chết đói nuốt bùn thì hắn được lợi lộc gì?
- Hắn không cần xác thịt của họ, hắn cần oán khí của những kẻ chết vì no giả!
-
- Thầy Trịnh gằn giọng
- Kẻ chết đói thông thường hồn phách phiêu bạt rất yếu ớt. Nhưng kẻ chết vì tắc ruột do bùn đóng tảng, chết trong ảo tưởng no đủ nhưng thực chất ngũ tạng bị nghiền nát,
linh hồn của họ sẽ sinh ra một thứ oán hận cực kỳ hung hiểm. Tên đạo sĩ đó đã dùng bùa chú trói chặt hồn phách của hàng trăm người chết đói vào bùn đất bãi triều, biến họ thành vạn quỷ đói để nuôi dưỡng tà thai cho hắn tu luyện thuật bất tử.
Trái tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Sự thật trần trụi về thảm kịch năm 1937 vượt xa mọi truyền thuyết dân gian hoang đường mà tôi từng thu thập được từ những người già ở thị trấn.
- Sau đó thì sao? Gia tộc của thầy đã phong ấn hắn?
- Ông nội tôi cùng các đạo hữu vùng duyên hải đã lập đàn phản phệ - Thầy Trịnh thở dài,
giọng chùng xuống. Bọn họ đã dùng máu của ba mươi người đàn ông thuộc dòng họ pháp sư. Phối hợp với một khối đá hoa cương ngàn cân để trấn yểm hắn ngay tại tâm điểm của rừng mắm, nơi con triều đen hội tụ. Thân xác hắn bị ghim chặt dưới phiến bia đá, trói bằng xích sắt ngâm trong nước chu sa.
Thầy cúng mù quay mặt về phía tôi, đôi mắt trắng dã mở to trừng trừng:
- Nhưng chú em có biết phong ấn đó nối liền với nơi nào không?
Tôi giật mình, chiếc nanh sói trong túi áo bỗng nóng ran lên một cách bất thường. Một cái tên vụt hiện lên trong đầu tôi:
- Vũng lầy Bồ Tầm... ở thị trấn Vọng Ngưu Đôn?
- Đúng!
-
- Thầy Trịnh gật đầu dứt khoát
- Bãi ngập mặn này và vũng lầy Bồ Tầm cách nhau hàng chục dặm đường sông, nhưng mạch bùn ngầm dưới đáy đất Lĩnh Nam vốn thông suốt với nhau. Mạch máu của phong ấn nằm ở bia đá rừng mắm,
còn cái miệng hút oán khí lại cắm rễ sâu dưới vũng sình Bồ Tầm năm xưa. Mấy mươi năm qua, phong ấn vẫn yên ổn dưới sự canh giữ của dòng họ Trịnh. Nhưng dạo gần đây, có kẻ đã động tay vào mạch đất ở Vọng Ngưu Đôn. Mạch bùn bắt đầu sôi sục trở lại.
Lời nói của thầy Trịnh khiến đầu óc tôi quay cuồng. Những gì tôi từng chứng kiến tại đầm lầy Bồ Tầm, những giấc mơ về vũng bùn đen nuốt chửng người sống, hóa ra đều có mối liên hệ mật thiết với tấm bia đá bị chôn vùi ngoài rừng mắm này.
Bất chợt, tiếng gió rít ngoài cửa lạch ngưng bặt.
Một sự tĩnh lặng đến rợn cả gáy đột ngột bao trùm lấy toàn bộ căn chòi đước. Tiếng chim biển kêu sớm biến mất,
tiếng sóng vỗ bờ kè cũng lịm dần. Dưới sàn nhà, âm thanh lép bép sủi tăm của bãi bùn bỗng chuyển thành những tiếng ục ục trầm đục, vang dội từ sâu thẳm lòng đất.
Cạch!
Cây gậy trúc trên tay thầy Trịnh bỗng tuột khỏi kẽ tay, rơi thẳng xuống sàn ván phát ra một tiếng va đập khô khốc.
Đây là lần đầu tiên tôi thấy người đàn ông mù này đánh rơi vũ khí tùy thân của mình. Bàn tay ông ta run rẩy dữ dội, mười đầu ngón tay co quắp lại như bị chuột rút.
Không một lời báo trước, thầy Trịnh lập tức quỳ sụp xuống sàn ván đước mục nát. Ông ta không màng đến những mảnh dằm gỗ sắc nhọn găm vào da thịt, vội vã áp chặt tai phải xuống những thớ gỗ ẩm ướt lấm lem bùn đất, dỏng tai lắng nghe những rung chuyển dưới đáy sâu.
Sắc mặt của thầy cúng mù trong chớp mắt biến thành màu tro tàn không còn một giọt máu. Hai bờ môi thâm xì của ông ta mấp máy liên hồi, hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những âm thanh kinh hoàng.
- Thầy Trịnh! Có chuyện gì vậy?
-
- Tôi hốt hoảng cúi người xuống toan đỡ ông ta dậy.
Thầy Trịnh giơ một bàn tay khẳng khiu lên ngăn tôi lại. Ông ta không ngẩng đầu lên,
trán dán chặt vào mặt sàn đang rung lên nhè nhẹ theo từng nhịp thở của bãi lầy. Từ khóe mắt đục ngầu của ông ta, một giọt nước mắt hòa lẫn với dịch nhờn màu đỏ rỉ ra, chảy dọc xuống gò má gầy guộc.
Bằng một giọng thì thào run rẩy đến nghẹt thở, thầy Trịnh thốt lên từng lời xé toạc sự tĩnh lặng của sớm mai:
- Bùn rừng mắm đang chảy ngược... Kẻ dưới bia đá sắp bò lên rồi!