Bùn Quỷ Thực - Chương 37: Vũng Lầy Bồ Tầm Dâng Lên
Con thuyền đuôi tôm của chú Lương rẽ lớp bùn xám xịt, chậm chạp lướt vào con lạch cạn dẫn về mép rừng ngập mặn Triều Sơn. Hoàng hôn buông xuống nhanh một…
Nội dung chương
Con thuyền đuôi tôm của chú Lương rẽ lớp bùn xám xịt, chậm chạp lướt vào con lạch cạn dẫn về mép rừng ngập mặn Triều Sơn. Hoàng hôn buông xuống nhanh một cách khác thường bên bờ biển Lĩnh Nam. Mặt trời đỏ quạch vừa khuất sau rặng mắm đen sì,
cả một vùng bãi bồi lập tức chìm vào thứ ánh sáng tranh tối tranh sáng nhờ nhờ, nhớp nhúa hơi ẩm và tanh nồng mùi cá chết trôi dạt.
Chú Lương tì hai tay lên mái chèo gỗ, dứt khoát không chịu cho thuyền áp sát doi đất nhô ra phía trước. Mũi thuyền đâm vào một bãi cọc cừ mục nát rồi khựng lại, phát ra tiếng lạo xạo khô khốc.
- Tôi chỉ đưa cậu tới đây thôi
- Chú Lương rút chiếc tẩu thuốc lá cuốn sâu kèn ra khỏi miệng,
quẹt diêm đốt lại, ngón tay gầy guộc run rẩy che chắn trước ngọn gió biển đang rít từng hồi lạnh buốt - Muốn vào ngôi đình Thành hoàng kia thì cậu tự lội bùn qua bãi cạn. Tôi neo thuyền ở ngoài luồng nước sâu này đợi đúng một tuần trà.
Tôi xốc lại quai ba lô, nhìn về phía doi đất cao cách đó chừng năm mươi thước. Nấp sau những tán mắm và sú vẹt ken dày rậm rạp,
mái ngói âm dương rêu phong của một ngôi đình cổ lộ ra lởm chởm như hàm răng thú dữ. Vài cây cột gỗ lim đen thui trơ trọi giữa trời, những mảng tường gạch vồ nứt toác từng vệt dài ngoằng chạy thẳng xuống chân móng ngập trong bùn lầy.
- Thầy Mạch dặn tôi phải kiểm tra bệ thờ bên trong - Tôi nói, cúi người thắt chặt lại dây giày đi rừng - Chú ở bến sông này mấy chục năm, chưa từng ghé chân lên doi đất đó sao?
Chú Lương phả ra một ngụm khói thuốc khét lẹt, mắt nhìn trừng trừng vào rặng cây tăm tối phía trước, giọng hạ thấp xuống sàn sạt:
- Dân chài chúng tôi có chết đói cũng không bao giờ bén mảng lại gần cái bãi đó. Cậu đừng có cậy mình trẻ khỏe mà coi thường. Đất quanh ngôi đình đó có tính người rất dữ. Mấy mươi năm trước, người ta đồn rằng đất ở đó biết đói,
hễ ai sa chân vào lúc sụp tối là đất ngậm chặt lấy chân, kéo tuột xuống đáy bùn sâu. Cậu phải trở ra trước khi con nước ròng rút cạn và triều mới dâng lên. Nước biển mà tràn vào ngập bãi lầy, thần tiên cũng không kéo cậu lên nổi đâu.
Lời cảnh báo của người lái đò già khiến không khí chung quanh càng thêm nặng nề. Tôi gật đầu, đưa cho chú một bao thuốc lá nguyên vẹn để làm tin rồi nhảy xuống mạn thuyền.
Bùn lầy ngập mặn lập tức lún sâu đến ngang bắp chân. Độ dính quánh của bùn đất nơi đây vượt xa tưởng tượng của tôi. Mỗi bước nhấc chân lên đều kéo theo âm thanh "bộp,
bộp" nhớp nhúa cùng lực mút chặt chẽ từ phía dưới lòng đất. Gió biển thổi thốc vào mặt, mang theo hơi lạnh buốt thấu xương cùng mùi lưu huỳnh ngai ngái bốc lên từ những rãnh nước đọng đen ngòm.
Tôi lần theo những thân cây mắm mọc xiêu vẹo để trèo lên doi đất cao. Ngôi đình Thành hoàng này vốn được xây dựng từ thời Thanh mạt để trấn giữ cửa biển Triều Sơn, nhưng sau năm 1937, khi nạn đói quét qua cướp đi sinh mạng của hàng ngàn dân chài ven vịnh,
nơi này đã hoàn toàn bị bỏ phế. Lời chỉ điểm trưa nay của thầy Mạch dẫn tôi tới đây: nếu muốn tìm cội nguồn của thuật phong ấn và thứ bùn quỷ đang trỗi dậy, tôi buộc phải tìm thấy huyệt trấn cổ xưa nhất nằm dưới nền ngôi đình này.
Cổng tam quan của ngôi đình đã sập mất một nửa. Hai cột trụ bằng đá xanh tróc lở,
chằng chịt những vết đục đẽo nham nhở và rêu phong bám dày từng tảng xanh đen. Bức bình phong đắp nổi hình hổ hạ sơn ở lối vào đã bị nước mặn ăn mòn đến mức biến dạng, chỉ còn trơ lại khung gạch đỏ au lỗ chỗ.
Tôi bước qua ngưỡng cửa đá gãy đôi, tiến vào gian tiền tế.
Không gian bên trong đình hoang tối sầm lại. Mái ngói phía trên thủng lỗ chỗ từng mảng lớn,
để lộ bầu trời chiều xám xịt như tro tàn. Gió biển lùa qua các khe nứt trên vách ván mục, tạo ra những âm thanh rít ráo the thé, nghe tựa tiếng thở dốc của những kẻ đang lâm vào bước đường cùng.
Nền gạch hoa cổ kính màu đỏ thẫm từng lát phẳng phiu nay đã vỡ vụn hoàn toàn. Nguyên nhân cày nát nền đình chính là một cây si cổ thụ khổng lồ mọc chen lấn ngay giữa khoảng sân gạch và gian đại bái.
Cây si này có hình thù quái đản dị thường. Thân cây to ba người ôm không xuể, nhưng tán lá lại thưa thớt, còi cọc một cách bệnh hoạn. Hàng trăm chùm rễ khí sinh to nhỏ rủ xuống từ cành cao,
cắm thẳng vào lòng đất như một lồng giam bằng gỗ mục. Kỳ lạ nhất là hệ thống rễ chính của nó: chúng trồi lên khỏi mặt đất, cuồn cuộn bò lan khắp gian điện thờ, chẻ đôi từng phiến đá xanh lát sàn, bóp nghẹt các chân cột gỗ lim kiên cố.
Tôi bấm công tắc chiếc đèn pin chuyên dụng mang theo. Luồng ánh sáng trắng rọi thẳng vào gian chính điện.
Ở vị trí trung tâm,
bệ thờ Thành hoàng bằng đá nguyên khối vẫn còn đứng sừng sững, nhưng đã bị rêu xanh và nấm mốc phủ kín mít. Bát hương bằng sành trên bệ vỡ tan tành, tro hương hòa lẫn với lá cây mục nát đóng thành một lớp váng xám xịt bám chặt vào mặt đá.
Tôi bước cẩn thận qua những mảng gạch hoa vỡ vụn, tiến sát lại bệ thờ. Càng đến gần bệ đá, nhiệt độ hình như tụt xuống rõ rệt. Hơi lạnh không tỏa ra từ gió biển bên ngoài mà bốc lên từ chính khe nứt dưới nền gạch chân tôi bước.
Dưới gầm bệ thờ đá, một búi rễ cây si to bằng bắp tay người lớn đang quấn chặt lấy phần móng chịu lực.
Đó không phải là những chiếc rễ cây bình thường màu nâu xám. Vỏ của những nhánh rễ này trơn nhẫy, đen bóng như than đá ngâm nước lâu ngày. Chúng đan cài vào nhau dày đặc, tạo thành một cái mạng lưới bọc kín lấy phần đáy sâu dưới lòng đất.
Khi tôi đưa luồng đèn pin rọi sát vào một mắt rễ lớn, tôi giật mình nhận ra trên bề mặt lớp vỏ đen nhánh ấy đang không ngừng rỉ ra một thứ dịch lỏng sền sệt.
Chất nhựa màu đen tuyền từ từ ứa ra từ các thớ gỗ nứt nẻ, chảy thành từng vệt dài dính dấp rồi nhỏ giọt xuống nền đất: "Tỏng... tỏng...".
Mỗi giọt nhựa đen rơi xuống, đất bên dưới lại bốc lên một làn khói mỏng màu xám nhạt. Kèm theo làn khói ấy là một luồng mùi tanh tưởi nồng nặc xộc thẳng vào cánh mũi tôi.
Mùi tanh này khiến dạ dày tôi lập tức quặn thắt lại.
Nó mang theo vị sắt rỉ của máu tươi bị chôn vùi lâu ngày, vị thối rữa của bùn ngập mặn và vị khen khét của xác thịt bị đốt dở.
Mùi vị này tôi không thể nào nhầm lẫn được.
Nó giống hệt với thứ mùi tử khí bốc lên từ vũng lầy Bồ Tầm ở thị trấn Vọng Ngưu Đôn, nơi tôi từng suýt mất mạng trong lần điền dã trước.
Mối liên hệ giữa vùng rừng ngập mặn hoang tàn này và thị trấn Vọng Ngưu Đôn xa xôi hàng trăm dặm đã hiện rõ mồn một trước mắt.
Thứ bùn độc năm 1937 không hề nằm yên ở một địa điểm biệt lập.
Tà thuật Quỷ Thực Nê đã ăn sâu vào hệ thống mạch nước ngầm của toàn bộ dải đất Lĩnh Nam, kết nối các huyệt đói lại với nhau bằng những mầm rễ ngầm đen tối.
Tôi rút con dao bấm găm bên hông ra, dùng mũi thép cạo nhẹ lên lớp vỏ rễ cây. Lớp vỏ ngoài dai ngoét,
vừa rách ra một đường nhỏ thì thứ nhựa đen bên trong lập tức trào ra xối xả, bám dính vào lưỡi dao kim loại. Một tiếng xèo xèo rất khẽ vang lên, bề mặt thép không gỉ sáng loáng lập tức bị ăn mòn, ngả sang màu xám xỉn loang lổ.
Tôi lùi lại nửa bước, quan sát lớp đất nằm ngay bên dưới chùm rễ đen.
Đất quanh gốc rễ không hề cứng cỏi hay cằn cỗi như đất rừng ven biển thông thường. Nó xốp mềm một cách kỳ dị, đen thẫm và nhớp nháp như một lớp mỡ động vật đông đặc.
Để kiểm tra độ sâu của lớp đất này, tôi nhặt một thanh củi gỗ đước gãy nằm cạnh chân cột đình, dùng hết sức cắm thẳng xuống phần đất sát gốc bệ thờ.
Thanh củi xuyên qua lớp đất bùn một cách dễ dàng, không gặp phải bất kỳ sự cản trở nào của sỏi đá. Nhưng ngay khi thanh củi ngập sâu khoảng hai gang tay, một cảm giác ghê rợn từ đầu gậy truyền ngược lên lòng bàn tay tôi.
Lớp đất bùn bên dưới không hề bất động.
Qua thân gỗ mục, tôi cảm nhận rõ ràng từng đợt co bóp nhịp nhàng, liên tục. Lớp đất xung quanh thanh củi đang phập phồng ép chặt vào rồi lại giãn ra, hệt như những thớ cơ trong cuống họng của một con thú khổng lồ đang cố gắng nuốt trọn dị vật vào bụng.
Ục... ục...
Tiếng bọt khí vỡ lẹt đẹt vang lên từ miệng lỗ vừa cắm cọc gỗ. Một luồng khí tanh nồng phì ra, thổi tung đám tàn nhang bám trên bệ đá.
Quá kinh hãi, tôi giật mạnh thanh củi ra khỏi mặt đất. Đầu thanh gỗ bị rút lên trơn tuột,
dính đầy một lớp bùn dẻo quánh màu đen mun, tỏa ra hơi ấm giả tạo của thịt da sống. Vùng đất này quả thực có tính người đúng như lời chú Lương cảnh báo, một sự sống quái đản sinh ra từ oán hận và đói khát tích tụ gần một thế kỷ.
Tôi điều chỉnh luồng sáng của đèn pin về mức gom tụ cao nhất, soi sâu vào kẽ nứt lớn mà thanh củi vừa tạo ra dưới tầng rễ cây.
Ở độ sâu chừng nửa mét, bên dưới mạng lưới rễ si đen ngập ngụa nhựa quánh, ánh sáng đèn pin phản chiếu lại những mảng màu trắng đục lởm chởm.
Đó là những mảnh xương người.
Vô số mảnh xương vụn vỡ, từ xương sườn, xương cẳng tay cho đến những đoạn xương sọ trẻ nhỏ nứt toác,
đang bị những sợi rễ cây si đen sì quấn chặt lấy. Những sợi rễ nhỏ li ti như những chiếc kim thép cắm sâu vào từng tủy xương xốp rỗng, bám chặt lấy bề mặt men xương, hút cạn từng chút tàn dư cuối cùng để nuôi dưỡng cái cây quái dị phía trên.
Nhiều đoạn xương đã bị hóa thạch một phần, ngả sang màu xám của đất sét, dính chặt vào nền móng ngôi đình thành một khối thống nhất không thể tách rời.
Đây chính là một hố chôn tập thể của năm Đinh Sửu. Những người chết đói năm ấy không được chôn cất tử tế trong quan quách,
mà bị gom lại ném xuống nền ngôi đình này, dùng tà thuật trấn yểm để ép buộc thể xác họ làm phân bón nuôi dưỡng mầm rễ bùn quỷ. Họ bị khóa chặt dưới nền gạch hoa, vĩnh viễn không thể siêu thoát, ngày ngày gặm nhấm sự đói khát cùng cực dưới lòng đất lạnh buốt.
Đột nhiên, từ sâu bên trong kẽ đất nứt nẻ phát ra một âm thanh sột soạt rất khẽ.
Tôi nín thở, hạ thấp người xuống quan sát.
Dưới ánh sáng đèn pin,
những chiếc rễ cây to bằng ngón tay đang run rẩy chuyển động. Chúng không đung đưa theo gió, mà uốn éo, co rút lại rồi từ từ bò trườn qua các khe xương trắng, hướng thẳng về phía vệt máu rỉ ra trên ngón tay tôi khi vô tình bị dằm gỗ cào phải lúc nãy.
Mùi máu tươi của người sống đã đánh thức những xúc tu tàn ác dưới lòng đình hoang.
Đồng thời, lớp đất bùn chung quanh bệ thờ bắt đầu phập phồng dữ dội hơn. Những mảng rêu phong trên bệ đá rung lên bần bật, từng mảng vữa tường cũ kỹ trên trần đình rơi xuống lả tả, đập vỡ vụn trên nền gạch nứt toác.
Từ ngoài bến sông xa xa, tiếng tù và bằng vỏ ốc của chú Lương rúc lên từng hồi gấp gáp, xé toạc màn sương đêm đang bắt đầu bao phủ mép rừng ngập mặn. Triều cường đang dâng lên, kéo theo từng đợt sóng biển đục ngầu gầm gào vỗ vào doi đất.
Tôi vội vàng thu hồi đèn pin,
lùi phắt lại ba bước để thoát khỏi tầm với của những nhánh rễ đen đang ngóc đầu lên khỏi mặt bùn. Khí lạnh từ dưới hố xương bốc lên rát buốt hai bên thái dương, đầu óc tôi bỗng choáng váng, một cơn sốt nóng hầm hập bất thình lình ập đến thiêu đốt lồng ngực.