Bùn Quỷ Thực - Chương 40: Lão Ngưu Bị Lôi Xuống Vũng Bùn
Tôi cuộn chặt tấm bản đồ da bò lại, nhét sâu vào túi trong của chiếc áo khoác bạt chống nước rồi kéo khóa kín mít tới tận cằm. Bề mặt tấm da sau khi bị…
Nội dung chương
Tôi cuộn chặt tấm bản đồ da bò lại, nhét sâu vào túi trong của chiếc áo khoác bạt chống nước rồi kéo khóa kín mít tới tận cằm. Bề mặt tấm da sau khi bị đánh thức vẫn duy trì một độ ấm bất thường. Nó dán sát vào mạn sườn tôi,
phập phồng từng nhịp khe khẽ xuyên qua hai lớp áo len mỏng, lạnh buốt xen lẫn nôn nao hệt như tôi đang áp một miếng thịt sống vừa cắt rời khỏi thân xác vào da thịt mình.
Trời đất Triều Dương sụp tối sớm hơn thường lệ. Mây xám trĩu nặng phủ kín ngọn đồi phía sau thị trấn,
gió bấc thổi ràn rạt qua những rặng chuối tơi tả bên vệ đường, mang theo mùi ngai ngái của nước sông Tây Giang đang mùa dâng lớn. Cơn mưa rào ban trưa đã biến thành những đợt mưa phùn dầm dề, buốt buốt găm vào mặt.
Tôi rảo bước thật nhanh qua những con ngõ lầy lội, hai ống quần sũng nước bùn đỏ quạch.
Điểm đến đầu tiên của tôi là bưu điện huyện nằm ở ngã tư phố huyện, nơi có đường dây liên tỉnh duy nhất còn hoạt động trong chuỗi ngày mưa lũ này.
Lời căn dặn lạnh lẽo của thầy Mạch vẫn đè nặng lồng ngực: thời gian đang cạn dần từng khắc, rằm tháng bảy sắp tới, và tôi cần liên lạc ngay với tòa soạn cùng chính quyền xã Vọng Ngưu Đôn để chuẩn bị chín cọc gỗ dâu rừng trước khi quá muộn.
Cánh cửa gỗ kính của bưu điện huyện kêu cọt kẹt khi tôi đẩy mạnh bước vào.
Bên trong gian phòng nồng nặc mùi giấy mục ẩm mốc, mùi bồ hóng ám khói từ chiếc bếp lò than tổ ong đặt ở góc phòng và mùi dầu hỏa hôi hắc. Sau quầy giao dịch bằng gỗ dầu đã lên nước bóng lộn, một nhân viên bưu điện trạc bốn mươi tuổi,
khoác chiếc áo len xám cũ mòn cùi chỏ, đang cắm cúi đóng dấu nhật ấn lên xấp phong bì. Nghe tiếng giày ướt sũng của tôi dẫm lẹp bẹp trên nền xi măng nứt nẻ, người đàn ông ngẩng đầu lên, đôi mắt thâm quầng lộ rõ vẻ mệt mỏi.
- Đi đâu giờ này? Muốn gửi thư thì sang sáng mai xe bưu chính mới chạy. Đường đèo sạt lở hết rồi.
Tôi đưa tay vuốt nước mưa bết dính trên trán, rút thẻ nhà báo chìa ra trước mặt anh ta:
- Tôi là Tô Triều Hành, phóng viên báo tỉnh đang công tác. Tôi cần gọi một cuộc điện thoại khẩn cấp về ủy ban thôn Vọng Ngưu Đôn.
Người nhân viên nhìn tấm thẻ ép nhựa, hàng lông mày nhíu chặt lại. Anh ta buông con dấu gỗ xuống mặt bàn bọc nỉ, lục lọi trong hộc tủ kéo rồi lôi ra một tờ giấy mỏng màu vàng xỉn, mép giấy đã bị vò nhàu:
- Tô Triều Hành? Cậu chính là Tô Triều Hành?
- Đúng là tôi.
- May quá, có người đón xe lôi ra bưu điện huyện từ mờ sáng để đánh một bức điện khẩn sang đây,
nhờ chuyển thẳng cho cậu nếu cậu quay lại thị trấn. Dây thép ghi rõ tên người nhận là phóng viên họ Tô ở nhà trọ Tây Bến. Mưa to quá, bên tôi chưa kịp cho người đạp xe mang sang.
Anh ta đẩy tờ giấy mỏng qua khe lưới sắt.
Tôi đón lấy bức điện, những dòng chữ in hoa bằng mực đen đậm nhảy múa trước mắt: "A NGUU MAT TICH BA NGAY. DONG BUN BO TAM NHOI LEN DANG SO. VE NGAY GAP TRUONG THON."
Máu trong huyết quản tôi như đông cứng lại. Tờ điện tín rung bần bật giữa hai bàn tay lạnh ngắt. Ba ngày. Khoảng thời gian lão A Ngưu biến mất hoàn toàn trùng khớp với thời điểm tôi lên cơn sốt mê man ở căn gác trọ,
lúc tôi mộng du ăn bùn trong chậu và nhìn thấy vệt chân ướt rượt in dưới gầm giường.
- Nối máy giúp tôi!
-
- Giọng tôi run rẩy, lạc hẳn đi.
- Nối máy về văn phòng thôn Vọng Ngưu Đôn ngay lập tức. Bao nhiêu tiền cước tôi cũng trả.
Nhân viên bưu điện thấy vẻ mặt thất thần của tôi thì không hỏi thêm lời nào. Anh ta quay người cắm phích nối vào bảng tổng đài bằng gỗ mun cao ngang đầu người,
tay quay máy phát điện rè rè liên hồi. Sau vài phút chờ đợi dài như cả thế kỷ, tiếng chuông đồng khô khốc vang lên từ chiếc bốt điện thoại công cộng bằng gỗ góc phòng.
- Ca-bin số hai. Đã thông tuyến, nói nhanh lên, đường dây qua đèo đang chập chờn lắm đấy.
Tôi lao vội vào trong ca-bin hẹp, nhấc ống nghe nặng trịch bằng nhựa đen lên áp chặt vào tai. Tiếng rè rè của sóng vô tuyến và tiếng xào xạc của gió mưa truyền qua hàng chục cây số đường dây kim loại rít lên từng hồi chói tai.
- A-lô! Tôi là Tô Triều Hành đây! Có ai ở văn phòng thôn không?
Từ đầu dây bên kia, sau một tràng âm thanh lẹt đẹt kéo dài, giọng nói khàn đặc và gấp gáp của trưởng thôn Vọng Ngưu Đôn vang lên, hình như ông ta đã túc trực bên máy từ rất lâu:
- Chú Tô đấy à? Trời đất ơi, chú đang ở đâu thế? Mau về ngay đi, làng này sắp loạn rồi!
- Bác bình tĩnh nói cho tôi nghe, chuyện lão A Ngưu rốt cuộc là sao? Lão mất tích từ khi nào?
- Đêm hôm kia!
-
- Giọng trưởng thôn run bần bật, lẫn vào đó là tiếng thở dốc nặng nề.
- Hôm ấy trời nổi cơn giông lớn dữ dội, sấm sét đánh trúng ngọn đa đầu làng gãy đôi. Sáng hôm sau tuần đinh đi ngang qua chòi của lão thì thấy hai cánh cửa liếp mở toang hoác. Nồi cháo cám của lão vẫn còn nguyên trên bếp đã mốc xanh mốc đỏ. Quần áo mục nát,
cái điếu cày với đôi dép cao su của lão vẫn để nguyên trong góc. Lão không mang theo bất cứ thứ gì cả.
- Có tìm thấy dấu vết gì không?
- Có! Đáng sợ là ở chỗ đó!
-
- Trưởng thôn hạ thấp giọng xuống, tiếng rít qua kẽ răng run rẩy nghe rõ mồn một.
- Dưới nền đất nhà lão in đầy những dấu chân trần. Bàn chân dài ngoẵng, ngón xòe rộng, bết dính bùn đen sì sền sệt bốc mùi tanh nồng nặc. Dấu chân bước ra khỏi bậu cửa, đi xuyên qua bờ ruộng, rồi dẫn thẳng tuột vào trong rừng trúc Bồ Tầm...
Trái tim tôi đập thình thịch liên hồi vào lồng ngực.
Lời của thầy Mạch vang vọng bên tai: người trực tiếp vung búa đóng cọc trấn áp long mạch buộc phải là kẻ mang nợ máu với nạn đói năm Đinh Sửu, kẻ có gốc rễ dây mơ rễ má với những linh hồn đang ngâm mình dưới đầm lầy.
Lão A Ngưu là người sống sót duy nhất, là mắt xích sau cùng giữ cho vũng bùn không lật ngược đáy.
Nếu lão chết đi hoặc bị thứ dưới đầm lầy đồng hóa hoàn toàn, toàn bộ mười ba ngôi làng dọc bờ Tây Giang sẽ biến thành một nấm mồ tập thể khổng lồ.
- Mọi người đã vào rừng trúc tìm lão chưa?
-
- Tôi gặng hỏi.
- Ai mà dám vào!
-
- Tiếng trưởng thôn nghẹn lại vì hoảng sợ.
- Nước sông dâng cao, vũng bùn Bồ Tầm mấy hôm nay sôi ùng ục như chảo thắng cố, mùi bùn thối bốc lên xông thẳng vào tận đầu làng khiến trẻ con phát sốt, người già nôn mửa.
Vài người bạo gan mang đuốc lần theo dấu chân đến bìa rừng trúc thì thấy dấu bùn mất hút ngay mép đầm lầy.
Chỗ đó...
chỗ đó lún sâu hoắm, nổi lên hàng đàn bọt khí màu đỏ như máu.
Người ta đồn lão A Ngưu bị ma đói dưới đầm bắt đi để thế mạng rồi!
- Đừng ai bước chân vào vùng bùn đó nữa!
-
- Tôi gắt lên qua ống nghe.
- Hãy bảo người trong làng lập tức chặt cho tôi chín khúc gỗ dâu rừng già,
lấy phần lõi thật chắc, vót nhọn một đầu thành cọc dài năm thước. Ngâm toàn bộ số cọc đó vào nước pha chu sa với máu gà trống thiến. Tuyệt đối không được để ai bén mảng đến gần rừng mắm hay nền đình hoang. Tôi sẽ đi thuyền về ngay trong đêm nay!
- Chú Tô... chú nói cọc dâu gì cơ? Đêm nay bão lớn lắm, không có đò nào dám chạy ngược dòng đâu... A-lô? A-lô...
Đường dây điện thoại rít lên một tiếng chói óc rồi im bặt. Tín hiệu bị đứt đoạn hoàn toàn, chỉ còn lại những tiếng xè xè đơn điệu của đường truyền hỏng.
Tôi từ từ đặt ống nghe xuống giá đỡ, bàn tay ướt đẫm mồ hôi dù không khí trong ca-bin lạnh ngắt.
Cơn sốt đêm qua cùng vệt chân bùn dưới gầm giường tôi không phải là ảo giác đơn thuần.
Đó là sự triệu hồi.
Trong lúc tôi bị tà thuật sai ngũ quan mê hoặc để nuốt đất cát, thì ở phía bên kia bờ sông, lão A Ngưu cũng đã bị thứ bùn quỷ dưới đáy Bồ Tầm kéo lê từng bước xuống vực sâu.
Tôi mở cửa ca-bin, bước nhanh lại quầy ném xuống tờ tiền năm mươi tệ rồi không đợi thối lại, lao thẳng ra ngoài màn mưa dày đặc.
Gió lạnh quất rát rạt vào da thịt. Bầu trời đã chuyển hẳn sang màu tím đen ghê rợn,
những dải mây xám xịt cuồn cuộn trôi thấp tè là là trên các mái ngói âm dương rêu phong của phố huyện. Tôi cắm đầu chạy thục mạng xuống phía bến tàu khách Triều Dương nằm ven bờ sông.
Bến tàu chiều nay vắng ngắt đến rợn cả gáy.
Bình thường giờ này vẫn còn những chuyến đò ngang chở rau củ và khách buôn chuyến, nhưng trước cơn dông bão sắp đổ bộ, toàn bộ tàu thuyền đã neo chặt vào các cọc sắt hoen gỉ dọc bờ kè.
Dòng nước sông Tây Giang đỏ ngầu phù sa đang cuộn trào hung hãn, từng đợt sóng lớn vỗ ầm ầm vào chân cầu tàu mục nát, tung bọt trắng xóa và cuốn theo vô số rác rưởi, thân cây mục trôi dạt từ thượng nguồn đổ về.
Trên chiếc cầu tàu bằng gỗ ghép gập ghềnh, chỉ có duy nhất một chiếc thuyền máy vỏ sắt cũ kỹ dài chừng chục mét đang dập dềnh theo từng con sóng. Mũi thuyền nhô cao,
thân tróc từng mảng sơn xanh loang lổ, khoang thuyền che bạt rách tả tơi. Một người đàn ông trung niên mặc áo tơi lá cọ, đầu đội nón mê sùm sụp, đang cặm cụi dùng dây thừng bện bện chặt mũi thuyền vào cọc bến.
Tôi lao xuống dốc cầu tàu, bước chân trượt suýt ngã nhào trên lớp rêu trơn tuột:
- Bác lái thuyền! Bác có nhận khách đi ngược về phía Vọng Ngưu Đôn không?
Người đàn ông dừng tay, ngẩng mặt lên. Khuôn mặt gã đen sạm, chằng chịt những vết sẹo gió sương, khóe miệng ngậm một điếu thuốc lá cuốn sâu kèn đã tàn một nửa nhưng vẫn tỏa khói khét lẹt. Gã trừng mắt nhìn tôi như nhìn một kẻ điên:
- Cậu ấm đùa đấy à? Nhìn con nước kia xem. Nước lũ thượng nguồn đổ về, gió cấp sáu cấp bảy, chạy ngược dòng đêm nay chỉ có nước làm mồi cho cá. Sáng mai bão tan rồi tính.
- Tôi có việc sống chết!
-
- Tôi rút chiếc ví da sũng nước, móc toàn bộ số tiền giấy bên trong ra, dúi thẳng vào bàn tay thô ráp, chai sần đầy vảy cá của gã.
- Toàn bộ chỗ này, hơn tám trăm tệ. Đủ cho bác chạy mười chuyến ngày thường. Bác đưa tôi về bến Vọng Ngưu Đôn ngay bây giờ!
Gã lái thuyền nhìn xấp tiền ướt dính chặt vào nhau, ngón tay gã khẽ giật giật. Gã ngước nhìn dòng nước sôi sục dưới chân cầu tàu rồi lại nhìn gương mặt trắng bệch nhưng kiên quyết của tôi. Đôi mắt gã ánh lên vẻ tham lam xen lẫn dè chừng.
- Đi đêm nay nguy hiểm cùng cực. Gặp đá ngầm hay cây gỗ trôi là lật úp thuyền như chơi. Cậu dám liều mạng thật sao?
- Đi ngay bây giờ!
-
- Tôi gằn từng tiếng, bàn tay nắm chặt lấy thành thuyền vỏ sắt lạnh ngắt.
Gã thở dài một hơi khói thuốc đục ngầu, nhanh tay nhét xấp tiền vào túi ngực áo tơi rồi vung con dao rựa gỉ sét chặt đứt sợi dây thừng buộc mũi:
- Lên khoang đi! Ngồi im ở lòng thuyền, bám chắc lấy be sườn. Rơi xuống sông thì trời cứu!
Tôi nhảy phắt xuống sàn thuyền. Thân thuyền chao đảo dữ dội theo con sóng lớn khiến tôi phải khụy hai gối, bám chặt lấy thanh giằng gỗ ngang khoang. Không khí trong khoang thuyền nồng nặc mùi dầu diesel cháy dở và mùi tanh nồng của cá ươn tồn đọng lâu ngày dưới đáy lườn.
Người lái thuyền nhảy về phía đuôi, nắm lấy cần khởi động của chiếc máy nổ một xi-lanh to tướng. Gã gạt le gió, dùng hết sức bình sinh giật mạnh sợi dây thừng quấn quanh bánh đà.
Tạch... phì... khục khục...
Chiếc máy khạc ra một luồng khói đen kịt xộc thẳng vào mũi tôi, rồi sau vài tiếng nổ ngắt quãng, động cơ gầm lên từng tràng "bành bành bành" chói tai, làm rung bần bật toàn bộ khung sắt của con thuyền. Người lái đẩy mạnh cần số, tay lái bẻ ngoặt ra giữa dòng.
Con thuyền rẽ sóng lao vụt ra khỏi bến.
Đúng lúc ấy, từ phía nhà ga bến cảng Triều Dương xa xa sau lưng tôi,
tiếng còi tầm báo bão rú lên từng hồi thê lương, xé toạc không gian mịt mùng của buổi hoàng hôn. Âm thanh kim loại rền rĩ kéo dài như một lời cảnh báo muộn màng dành cho kẻ liều lĩnh lao mình vào tâm bão.
Dòng sông Tây Giang mênh mông chìm trong bóng tối dày đặc nhanh đến mức đáng sợ.
Mưa quất từng đợt rát bỏng lên tấm bạt rách che mui thuyền, gió bấc gầm rít như tiếng thú dữ lồng lộn quanh các mạn thuyền.
Con thuyền máy nhỏ bé hệt như một chiếc lá khô chao đảo dữ dội giữa những con sóng lừng đen ngòm cao ngập đầu người.
Mỗi lần mũi thuyền đâm sầm vào một ngọn sóng lớn, nước sông lại tràn qua be, tạt ướt sũng nửa thân người tôi.
Thứ nước sông mùa này không chỉ có mùi bùn non thông thường, mà nó nồng nặc mùi tanh tưởi của rễ cây thối rữa và tử khí, hệt như thứ nước ngâm rễ bồ tầm mà tôi đã từng ngửi thấy ở ngôi đình hoang.
Tôi ngồi thu lu trong góc khoang, một tay giữ chặt mép ván, một tay áp chặt lên ngực áo,
nơi tấm bản đồ da bò đang cộm lên. Nhịp đập phập phồng của thớ da thuộc ngày càng dồn dập hơn theo từng cây số con thuyền tiến gần về phía làng Vọng Ngưu Đôn. Nó như đang cộng hưởng với một thứ đáng sợ vô hình đang cựa mình trỗi dậy dưới lòng đất sâu.
Chiếc đèn bão treo lủng lẳng trước mũi thuyền đung đưa kịch liệt,
hắt ra một vùng ánh sáng vàng vọt, tù mù chỉ soi rõ được vài mét mặt nước sủi bọt cuồn cuộn phía trước. Người lái thuyền đứng sừng sững ở đuôi, hai chân dạng rộng ghì chặt cần lái, đôi mắt gườm gườm nhìn xoáy vào màn đêm đen kịt đầy hiểm họa.
Động cơ máy nổ vẫn gầm rống từng nhịp chát chúa, tiếng sắt thép va đập ken két át đi tiếng gió mưa gầm thét bên ngoài. Tôi co ro trong manh áo ướt sũng, hàm răng va vào nhau lập cập vì cái rét buốt thấu tận xương tủy.
Đúng vào thời điểm con thuyền lướt qua một khúc quanh hẹp, nơi dòng chảy bị ép lại giữa hai bờ vách đá dựng đứng rậm rạp những bụi tre gai sà sát mặt nước, động cơ thuyền bỗng hụt hơi giật cục liên tiếp vài tiếng. Tốc độ thuyền chậm hẳn lại.
Xung quanh chỉ có tiếng mưa rơi rào rào trên mặt sông và tiếng nước vỗ bì bõm vào mạn thuyền.
Giữa âm thanh hỗn độn của sóng gió và tiếng máy nổ ậm ạch, một chuỗi âm thanh kỳ quái bất chợt lọt vào tai tôi.
Đó không phải là tiếng rít của gió, cũng không phải tiếng va đập của cành cây gãy trôi sông. Âm thanh ấy phát ra từ ngay sát mạn thuyền phía bên trái, chìm sâu ngay dưới mép nước đang cuộn sóng đen ngòm.
Tôi nín thở, ghé sát tai vào lớp vỏ sắt lạnh ngắt rỉ sét.
Lạo xạo... lạo xạo...
Âm thanh như tiếng móng tay sắc nhọn đang cào cấu điên cuồng vào đáy thuyền,
cọ xát từng vệt dài trên lớp rong rêu bám dưới đáy. Rồi ngay sau đó, một giọng thì thào khản đặc, ướt rượt và ngập ngụa bùn đất, luồn qua khe hở giữa tấm bạt rách và mạn thuyền, rỏ từng giọt buốt giá vào màng nhĩ tôi:
- Triều Hành... Triều Hành ơi... vớt tôi với... bùn ngập đến cổ tôi rồi...
Giọng nói ấy kéo dài thê thiết, phát âm ngọng nghịu vì vướng đầy đất cát trong cuống họng. Đó chính là giọng của lão A Ngưu.