Bùn Quỷ Thực - Chương 42: Bách Quỷ Dạ Thoại Trong Đêm
Gió bấc rít từng cơn lạnh buốt qua những rặng tre gai xác xơ ven đường làng, mang theo hơi ẩm mặn chát của vùng châu thổ Tây Giang. Đêm đã điểm quá canh…
Nội dung chương
Gió bấc rít từng cơn lạnh buốt qua những rặng tre gai xác xơ ven đường làng, mang theo hơi ẩm mặn chát của vùng châu thổ Tây Giang. Đêm đã điểm quá canh hai. Không gian tĩnh mịch đến rợn cả gáy,
tuyệt nhiên không có lấy một tiếng chó sủa hay tiếng côn trùng rỉ rả. Làng Vọng Ngưu Đôn chìm sâu vào một sự câm lặng chết chóc, thứ câm lặng của một vùng đất đang nín thở đón chờ tai họa giáng xuống.
Tôi bấm chặt chiếc đèn pin trong lòng bàn tay đẫm mồ hôi, rảo bước bám theo những vệt trườn nhớp nháp in hằn trên mặt đất. Ngay tại ngã ba đường làng, hàng chục dòng bùn đen từ khắp các ngõ ngách đã hòa vào làm một,
tạo thành một vệt lầy lớn rộng hơn hai sải tay, cày nát lớp đá dăm lởm chởm. Lớp bùn quánh đặc trườn dài về phía trước, đè bẹp những vạt cỏ dại ven bờ mương, để lại một mùi tanh tưởi xộc thẳng vào khoang mũi.
Rời khỏi khu dân cư, con đường mòn dẫn ra cánh đồng hoang phía tây trở nên gồ ghề và trơn trượt. Đất dưới đế giày ba-ta của tôi nhão dần ra,
từng bước đi nặng trĩu vì bùn non bám chặt lấy mắt cá chân. Tôi phải vừa bấm ngón chân xuống đất để giữ thăng bằng, vừa lia chùm sáng vàng vọt của đèn pin về phía trước.
Màn sương đêm ở vùng sông nước Lĩnh Nam buông xuống dày đặc, biến cảnh vật xung quanh thành một khối mờ đục.
Sương không bay lơ lửng trên cao mà sà sát mặt đất, quyện lấy hơi lạnh từ lòng đất bốc lên thành những dải khói trắng nhờ nhờ.
Đi được chừng nửa dặm qua bãi tha ma hoang phế với những gò đất vô chủ nhấp nhô, mùi bùn sình bắt đầu lấn át hoàn toàn mùi cây cỏ đồng nội.
Đó là thứ mùi thối rữa nồng nặc, pha lẫn mùi tanh của rêu mốc và tử khí đã bị chôn vùi hàng chục năm ròng.
Tôi dừng bước ở một gò đất cao, hướng luồng sáng đèn pin rọi thẳng xuống vùng trũng phía trước.
Đầm Bồ Tầm hiện ra trong đêm tối. Bình thường, đây là một vùng đầm lầy trũng sâu được bao bọc bởi những rặng tràm cằn cỗi và rừng trúc rậm rạp,
người trong thôn chỉ dám thả trâu ăn cỏ ở rìa ngoài chứ không ai dám bén mảng vào sâu bên trong. Dân làng từng đóng cọc tre gai dày đặc dọc theo mép bờ cao để ngăn trâu bò sa chân xuống bãi lầy ngập bùn thụt.
Trước mắt tôi lúc này, hàng cọc tre dày bằng bắp chân người lớn đã bị nước đầm nhấn chìm hoàn toàn.
Nước đầm lầy dâng cao một cách bất thường, tràn qua cả bờ bao tự nhiên, liếm sát vào những bụi cỏ gai nơi gò đất tôi đang đứng.
Mặt nước không mang màu xanh đen của rêu hay màu đục ngầu của phù sa mùa lũ.
Dưới ánh sáng le lói từ chiếc đèn pin cầm tay, toàn bộ diện tích mênh mông của đầm Bồ Tầm đã chuyển sang một sắc đỏ sẫm ghê rợn, đỏ quạch và sền sệt như lớp máu đọng lâu ngày trong chum vại.
Lớp nước đỏ ấy không chảy xuôi theo các lạch rạch thông ra sông lớn, nó nằm tù đọng, quánh đặc và rung rinh từng nhịp theo từng đợt gió lạnh thổi qua.
Tôi tiến lại gần mép nước thêm vài bước, cẩn thận rọi đèn xuống đáy bùn ngập nước. Cảnh tượng bày ra trước mắt làm sống lưng tôi lạnh toát.
Mặt sình lầy đỏ quạch không hề phẳng lặng. Khắp mặt đầm rộng hàng mẫu tây, hàng ngàn bọt khí to bằng miệng bát ăn cơm liên tục trồi lên từ đáy sâu. Từng bọc khí tròn vo, đen thẫm căng phồng trên bề mặt lớp nước đỏ sền sệt, lắc lư vài giây rồi vỡ toang ra.
Bụp... phì... xì xì...
Tiếng bọt khí vỡ nối tiếp nhau vang lên không ngớt, tạo thành một chuỗi âm thanh xì xào rợn tóc gáy,
nghe như tiếng thở dốc nặng nhọc của vô số sinh vật đang bị chôn sống dưới tầng tầng lớp lớp bùn non. Mỗi lần một bọt khí nổ tung, một làn khói mỏng màu xám tro lại bốc lên mặt nước, mang theo một luồng chướng khí hôi thối nồng nặc xộc thẳng vào không gian.
Mùi xác chết động vật thối rữa hòa lẫn với mùi bùn tanh nồng tạo thành một thứ xú khí đặc quánh.
Hơi độc bay thẳng vào mặt khiến cổ họng tôi nóng rát, dạ dày co thắt dữ dội.
Tôi đưa tay áo lên bịt chặt mũi, gập người nôn khan vài tiếng nhưng chỉ ứa ra được một búng nước chua buốt đến tận mang tai.
Mắt tôi cay xè, đầu óc quay cuồng, hai bên thái dương giật thon thót từng cơn chát chúa.
Chướng khí nơi đáy đầm này nặng hơn bất kỳ nơi nào tôi từng đi qua dọc lưu vực Tây Giang.
Tôi cắn chặt môi dưới, dùng cơn đau buốt nơi đầu lưỡi để ép bản thân tỉnh táo trở lại. Lời sấm truyền dân gian Lĩnh Nam mà lão A Ngưu từng kể trong những đêm ngồi bên bếp lửa bỗng hiện rõ mồn một trong tâm trí.
Khi nước đầm Bồ Tầm hóa máu, bọt khí trồi lên từ chín tầng địa ngục. Ấy là lúc Quỷ Thực Nê thức giấc đòi lại nợ máu thịt năm Đinh Sửu.
Năm 1937, nạn đói khủng khiếp đã càn quét qua vùng đất này.
Người chết đói nằm la liệt khắp các ngả đường, xác người không có ai chôn cất bị xô đẩy cả xuống vùng đầm trũng này, để rồi lớp bùn nhão nuốt chửng tất cả.
Thứ bùn quỷ dưới đáy đầm không đơn thuần là đất cát sông bồi, nó được nuôi dưỡng bằng xương tủy và nỗi oán hờn ngút trời của hàng ngàn linh hồn chết đói.
Hiện tượng nước đầm đổi màu đỏ thẫm và sủi bọt khí chính là dấu hiệu cho thấy tầng đất trấn yểm dưới đáy sâu đã bị phá vỡ hoàn toàn.
Tôi lia đèn pin ra xa hơn, quét qua vùng nước trũng nằm sát rặng tràm cổ thụ.
Dưới lớp nước màu máu sủi bọt tăm tắp,
mặt bùn bên dưới đang chuyển động. Lớp bùn nhão không nằm yên mà cuộn trào từng đợt như có một đàn quái vật khổng lồ đang quẫy đạp bên dưới. Giữa những mảng bùn đen sẫm trồi sụt ấy, hàng loạt hình thù kỳ dị bắt đầu lộ diện dưới ánh đèn pin.
Đó là những cánh tay người.
Ban đầu, tôi tưởng mắt mình hoa đi vì chướng khí, nhưng khi dồn hết sự tập trung nhìn kỹ vào vùng nước cạn sát bờ rào tre bị ngập, cảnh tượng hãi hùng kia hiện rõ mồn một. Vô số cánh tay gầy guộc,
da bọc xương đen đúa như những cành củi khô mục rỗng đang vươn lên từ lớp sình đỏ. Những ngón tay dài ngoằng, móng tay thâm đen cáu bẩn cào cấu điên cuồng vào mặt bùn, cố bấu víu vào bất cứ thứ gì nhô lên khỏi mặt nước để kéo thân mình trồi lên.
Có những cánh tay khẳng khiu nhỏ bé của trẻ thơ,
có những cánh tay khô đét nổi đầy gân xanh của người già. Chúng ngoi lên khỏi mặt bùn lầy, quờ quạng trong không khí mù sương rồi lại bị một lực hút vô hình từ đáy đầm kéo tuột xuống, để lại những xoáy nước đỏ sẫm sủi bọt ùng ục.
Cùng lúc đó, tai tôi bắt đầu lùng bùng.
Giác quan thứ sáu bẩm sinh khiến màng nhĩ tôi rung lên bần bật,
thu nhận những âm thanh vô hình đang cuộn xoáy trong không gian mờ mịt. Ban đầu chỉ là những tiếng rì rầm lờ mờ như gió thổi qua khe nứa, nhưng chỉ vài nhịp thở sau, âm thanh ấy trở nên rõ rệt, vây bọc lấy tôi từ bốn phương tám hướng.
Đó là tiếng khóc than, rên xiết của hàng ngàn con người.
Đói quá... mẹ ơi con đói quá...
Cho tôi một nắm cám... một hột cơm rơi cũng được...
Đất ngọt lắm... ăn đất đi cho no bụng... ăn đi mà sống...
Những giọng nói thê lương, khàn đặc vì kiệt sức, lặp đi lặp lại những lời cầu xin tuyệt vọng của nạn đói năm 1937.
Tiếng khóc nheo nhóc của trẻ thơ khát sữa hòa lẫn với tiếng thở hắt ra trút hơi thở cuối cùng của những người già chết đói bên vệ đường năm xưa.
Âm thanh ấy không phát ra từ miệng của một người sống, nó vọng lên từ chính những bọt khí đang vỡ toang trên mặt đầm Bồ Tầm, vang vọng giữa đêm sương lạnh lẽo, cào xé tâm can kẻ đứng trên bờ.
Tiếng sình lầy trồi sụt "lẹp bẹp" hòa cùng tiếng rên siết ma quái tạo nên một bản hòa âm rùng rợn. Chướng khí càng lúc càng dày đặc hơn, bốc lên thành từng cuộn khói xám bao vây lấy gò đất tôi đang đứng. Tôi cảm thấy hai chân mình bỗng nhiên nặng trĩu,
từng khớp xương buốt nhức như có hàng ngàn mũi kim châm. Một cảm giác lạnh lẽo tột cùng từ lòng đất bắt đầu men theo gan bàn chân truyền thẳng lên cột sống, khiến đầu ngón tay tôi run bần bật, chiếc đèn pin chao đảo làm vệt sáng trên mặt đầm rung lắc dữ dội.
Đầu óc tôi bắt đầu mụ mẫm. Lớp sương mù đỏ quạch hình như muốn kéo sụp ý thức của tôi xuống vũng lầy đen tối. Trong cơn mê muội ngột ngạt, một giọng nói thì thào đầy ma mị bỗng rót thẳng vào tai tôi:
- Xuống đây đi... bùn ấm lắm... nuốt một miếng đất là hết đói ngay...
Tiếng gọi ấy có một sức hút kỳ lạ, khiến hai chân tôi vô thức muốn bước về phía mép nước đỏ thẫm. Khoảng cách giữa tôi và mép đầm sình lầy chỉ còn chưa đầy ba bước chân. Lớp bùn đỏ quạch sủi bọt đang chực chờ nuốt chửng đôi giày của tôi.
Ngay vào thời điểm nguy khốn ấy, một luồng nhiệt nóng rực bất ngờ bùng lên từ lồng ngực bên trái.
Cơn nóng đột ngột làm tôi giật bắn mình, ý thức lập tức bừng tỉnh khỏi cơn mê muội. Tôi vội vàng thò bàn tay đang run rẩy vào túi áo trong,
chạm vào vật thể phát ra hơi ấm. Đó là lá bùa chu sa mà tôi đã cẩn thận thỉnh từ một vị pháp sư cao tay ở vùng núi Tương Tây trước khi dấn thân vào chuyến đi tìm hiểu về Quỷ Thực Nê ở Lĩnh Nam.
Mảnh giấy xuyến chỉ màu vàng nghệ vẽ những đường bùa chu sa đỏ chót đang nóng ran lên qua lớp vải áo. Hơi ấm thuần dương từ lá bùa lan tỏa khắp lồng ngực,
đánh tan luồng hàn khí đang xâm nhập vào kinh mạch, xua đi cảm giác buồn nôn và váng vất trong đầu. Tôi siết chặt lá bùa trong lòng bàn tay, lùi vội lại ba bước lớn, thoát khỏi phạm vi lan tỏa của lớp chướng khí xám tro đang bốc lên từ mép nước.
Hít sâu một hơi không khí lạnh buốt để trấn định tinh thần, tôi soi đèn pin tìm kiếm dấu vết của những vệt trườn bùn lúc nãy. Các vệt bùn đen từ trong làng kéo ra đều dẫn thẳng xuống mép nước đỏ quạch này rồi biến mất tăm. Rõ ràng,
những thứ bò ra từ làng Vọng Ngưu Đôn - bao gồm cả thực thể đã kéo lê lão A Ngưu - đều đã chui thẳng xuống đáy đầm Bồ Tầm.
Lão A Ngưu có còn sống không? Hay lão đã bị bầy ma đói năm ba mươi bảy xâu xé dưới đáy bùn sâu thẳm kia?
Nỗi bất an dâng lên tột độ. Tôi biết rõ nếu không tìm thấy lão A Ngưu trước khi trời sáng, trận pháp phong ấn vùng đất này sẽ tan vỡ hoàn toàn,
tai ương không chỉ dừng lại ở thôn xóm hẻo lánh này mà sẽ lan rộng ra khắp vùng duyên hải Tây Giang. Nhưng mặt đầm rộng lớn mênh mông, nước sình lầy đỏ sẫm sủi bọt ngập ngụa độc khí thế này, làm sao tôi có thể lội xuống đáy bùn để cứu người?
Đang lúc tôi còn đang hoang mang chưa tìm ra đối sách, mặt nước đầm lầy phía trước bỗng nhiên biến động dữ dội.
Một đợt sóng ngầm từ giữa lòng đầm cuộn lên,
xé toạc lớp bọt khí đang sôi sục. Mặt nước đỏ sẫm dâng cao thành một con sóng bùn đen kịt cao quá đầu gối, ầm ầm xô thẳng vào bờ đất nơi tôi đang đứng. Nước bùn sền sệt va đập vào những thân cọc tre gãy phát ra những tiếng "bồm bộp" nặng nề.
Tôi vội lùi thêm vài bước lên mỏm đất cao hơn để tránh đợt sóng bùn tanh tưởi.
Con sóng ập mạnh vào bờ rồi rút nhanh trở lại lòng đầm,
để lại một lớp phù sa đen nhánh, bốc khói nghi ngút trên bãi cỏ gai. Nhưng sóng bùn không rút đi tay không, nó đã hất lên bờ một vật thể rách nát, nằm vắt vẻo trên một gốc tre gai chơ vơ sát mép nước.
Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt, cẩn thận bước tới gần, chĩa thẳng luồng sáng đèn pin vào vật thể lạ vừa bị sóng đánh dạt lên bờ.
Đó là một mảng áo tơi bằng lá cọ đã tơi tả, rách rưới từng mảng lớn,
dính bết đầy thứ sình non đen quánh và bốc mùi tanh nồng của tử khí đáy đầm. Trên phần vai của manh áo tơi rách nát, một sợi dây thừng bện bằng vỏ cây dâu rừng vẫn còn buộc chặt mép áo - kiểu đan áo tơi đặc trưng không lẫn vào đâu được.
Đó chính là chiếc áo tơi quen thuộc mà lão A Ngưu vẫn thường khoác trên lưng mỗi khi đi rừng hay ra đầm lầy đặt bẫy cá. Giờ đây,
manh áo rách nát tả tơi như vừa bị hàng chục móng vuốt xé toạc, nằm trơ trọi giữa bãi sình lầy đỏ quạch đang cuồn cuộn sôi trào.