Bùn Quỷ Thực - Chương 39: Hương Bà Xuất Hiện Giữa Đêm
Sương sớm từ mặt sông Tây Giang dâng lên cuồn cuộn, biến những con ngõ quanh co của thị trấn thành những rãnh sâu mịt mùng hơi ẩm. Trời lạnh buốt. Từng…
Nội dung chương
Sương sớm từ mặt sông Tây Giang dâng lên cuồn cuộn, biến những con ngõ quanh co của thị trấn thành những rãnh sâu mịt mùng hơi ẩm. Trời lạnh buốt. Từng đợt gió bấc thổi thốc qua rặng dừa nước ven bờ, cào vào mặt rát bỏng.
Tôi cắm đầu rảo bước trên con đường lát đá xanh trơn tuột, hai bàn tay giấu chặt trong túi áo khoác dày cộp nhưng vẫn run lên bần bật.
Cảm giác lạnh không đến từ tiết trời bên ngoài, mà phát ra từ chính lồng ngực tôi, từ vị tanh tưởi của đất mùn vẫn còn bám chặt nơi cuống họng.
Mỗi lần nuốt nước bọt, chân răng tôi lại nghiến phải những hạt sạn cứng ngắc sót lại sau trận nôn tháo kinh hoàng đêm qua.
Dù tôi đã dùng bàn chải cọ đến tước máu nướu và súc miệng cả chục gáo nước giếng, mùi bùn thối mục của vũng lầy vẫn cứ ám chặt nơi khoang miệng, nồng nặc và lợm giọng.
Mười đầu ngón tay tôi tím tái, lớp đất đen dưới kẽ móng tay đã khô lại thành từng mảng vảy cứng ngắc, cạy mãi không ra.
Căn nhà cổ của thầy Mạch nằm lọt thỏm ở cuối ngõ cụt,
dựa lưng vào một vách đá xám xịt phủ đầy dây leo khô héo. Cánh cổng gỗ lim đóng chặt, bên trên dán hai lá bùa trừ tà bằng giấy đỏ đã bạc phếch vì sương gió. Tôi run rẩy đưa tay đập mạnh vào then sắt rỉ sét.
Tiếng kim loại va đập khô khốc xé toạc không gian vắng lặng của buổi ban mai.
Phải mất chừng vài phút sau, tiếng then cài bên trong mới lục cục chuyển động. Cánh cửa nặng nề hé mở một khe nhỏ, để lộ khuôn mặt hốc hác của thầy Mạch. Đôi mắt lão hõm sâu,
tròng mắt đục ngầu vằn lên những tia máu đỏ quạch vì mất ngủ. Lão liếc nhìn bộ dạng tơi tả cùng hai bàn tay bết bùn của tôi, khóe môi khẽ giật giật nhưng không nói nửa lời, chỉ nghiêng người ra hiệu cho tôi bước vào rồi lập tức cài then sắt lại.
Gian tế tự nằm tách biệt ở góc sân sau, bao trùm bởi bóng tối nhờ nhờ và mùi khói hương đặc quánh.
Nơi này hoàn toàn không có cửa sổ mở ra ngoài, chỉ có vài khe thông gió nhỏ xíu sát mái ngói âm dương để thoát khói.
Trên chiếc bàn thờ tổ nghề bằng gỗ gụ thâm sì, ba ngọn nến sáp ong màu vàng đục cắm trên chân đế sắt đang leo lét cháy.
Từng giọt sáp nến chảy tràn xuống mặt gỗ, đông lại thành những vệt sần sùi như da cóc.
Ánh lửa vàng vọt chao đảo theo từng luồng gió lùa qua vách nứa mục, hắt bóng hai người chúng tôi lên vách tường gạch mốc meo, méo mó và dị dạng.
Thầy Mạch bước đến trước bàn thờ, thắp ba nén hương trầm cắm vào lư đồng rồi quay lại ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu cói rách mép. Lão đưa mắt nhìn tôi, giọng khàn đặc:
- Ngồi xuống đi. Đêm qua có thứ gì tìm đến phòng trọ của cậu rồi phải không?
Tôi quỳ sụp xuống mặt chiếu cói, cả người rũ rượi.
Hai đầu gối tôi run rẩy đập vào nhau chan chát.
Không thể giấu giếm thêm điều gì nữa, tôi chìa hai bàn tay lem luốc đất đen ra trước ánh nến, bắt đầu thuật lại tường tận từng chi tiết hãi hùng trong đêm.
Tôi kể về cơn sốt hầm hập thiêu đốt da thịt, về ảo giác bữa tiệc linh đình với rượu ngọt thịt béo mà ngũ quan tôi bị đánh lừa, về hành động mộng du điên loạn khi tôi tự vục đất trong chậu cây cảnh bên cửa sổ nhét đầy mồm nuốt sống.
Tôi nói về bãi nôn sền sệt máu và đất đen lổn nhổn rễ cây trên sàn gỗ, và cả chuỗi dấu chân bùn trần trụi kéo từ bệ cửa sổ vào tận gầm giường nơi tôi nằm gối đầu.
Càng nghe tôi kể, đôi lông mày bạc phếch của thầy Mạch càng nhíu chặt lại. Gương mặt nhăn nheo của lão đanh lại như vỏ cây khô.
Khi tôi dứt lời, gian phòng chìm vào một sự im lặng rợn cả gáy, chỉ còn nghe thấy tiếng tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực và tiếng sáp nến nổ lách tách.
Thầy Mạch bất thình lình vươn tay ra, chộp lấy cổ tay phải của tôi. Ngón tay lão gầy guộc,
cứng quắc như gọng kìm sắt cắm sâu vào da thịt tôi buốt nhói. Lão kéo giật tay tôi lại gần ngọn nến sáp ong, lật ngửa lòng bàn tay tôi lên để quan sát. Bằng một móng tay cái dài và đen đúa, lão cào mạnh một đường dọc theo đường sinh đạo của tôi.
Một vệt nước màu vàng nhờ nhợt lập tức rỉ ra từ vết cào, tỏa ra mùi tanh nồng hệt như mùi bùn đáy ao cá chết.
Thầy Mạch lấy lại bình tĩnh mùi tanh ấy,
rồi lại dùng hai ngón tay bóp mạnh vào cằm tôi, vạch ngược mi mắt trái của tôi lên để soi vào ánh lửa nến. Lão chăm chú nhìn vào đáy mắt tôi chừng nửa phút rồi buông tay ra, nặng nề thở dài một tiếng. Tiếng thở dài trĩu nặng sự bất lực và tang thương.
- Dưới đáy mắt cậu đã kết thành một vòng tơ đen mang hình hoa sen cụt rễ.
-
- Thầy Mạch cất giọng lạnh ngắt, rút chiếc khăn vải thô bên hông lau ngón tay vừa chạm vào người tôi.
- Thứ tà thuật dưới vũng bùn Bồ Tầm đã ngấm sâu vào lục phủ ngũ tạng cậu rồi. Chúng không muốn giết cậu ngay tức khắc. Chúng dùng cơn đói để mở đường dẫn lối,
ép cậu tự ăn bùn đất để biến thân xác cậu thành vật chứa. Quỷ đói đã đánh dấu cậu làm kẻ dâng nạp hương hỏa cho bọn chúng.
Lưng áo tôi ướt đẫm mồ hôi lạnh. Tôi nhìn chằm chằm vào vết cào rỉ nước vàng trên lòng bàn tay mình, run rẩy hỏi:
- Dâng nạp hương hỏa nghĩa là sao hả thầy? Có phải... chúng muốn tôi tiếp tục ăn đất cho đến chết?
- Đói khát là bản năng nguyên thủy nhất của loài người, nhưng cũng là thứ oán khí dai dẳng nhất cõi u minh.
-
- Thầy Mạch nhìn thẳng vào ba ngọn nến đang chập chờn.
- Năm ba mươi bảy, hàng ngàn người ngã xuống mảnh đất này vì không có một hạt gạo vào bụng.
Cái đói cào xé ruột gan họ đến phát điên, ép họ phải bốc bùn đất ven sông mà nuốt để lừa gạt dạ dày.
Khi chết đi, cái đói biến thành tà niệm, bám víu vào từng thớ đất bùn Bồ Tầm.
Chúng đánh dấu cậu, biến cậu thành kẻ cùng hội cùng thuyền.
Một khi ngũ quan cậu hoàn toàn quy phục trước ảo giác thức ăn của chúng, cậu sẽ tự nguyện dẫn xác về lại vũng lầy, dùng chính máu thịt mình để bón cho đám rễ si dưới nền đình hoang.
Đêm qua, nếu tiếng sấm trời không đánh gãy cơn mê, cậu đã tự nhồi đất cát cho đến khi dạ dày nứt toác mà chết nghẹn trên gác xép rồi.
Nỗi kinh hoàng siết chặt cuống họng tôi. Tôi nhớ lại cảm giác thỏa mãn điên cuồng khi ngấu nghiến những nắm đất bùn đêm qua, dạ dày lại cồn cào từng cơn buồn nôn dữ dội.
Thầy Mạch không để tôi có thời gian hoảng loạn. Lão chống hai tay lên đầu gối, chậm rãi đứng dậy. Đôi chân tập tễnh của lão bước về phía góc tối u ám nhất của gian tế tự.
Ở đó, khuất sau một bức bình phong rách nát, có một chiếc bệ đá thấp kê chiếc hòm bằng gỗ mun đen bóng. Chiếc hòm to chừng hai gang tay,
bốn góc bọc đồng ten gỉ xanh rì, khóa chặt bằng ba ổ khóa sắt kiểu cổ hình con cá. Thầy Mạch quỳ một chân xuống nền đất, rút từ trong vạt áo dài ra một chùm chìa khóa sắt đen nhánh. Lão cẩn trọng tra từng chiếc chìa vào ba ổ khóa, xoay nhẹ.
Tách... cạch...
Ba tiếng động kim loại khô khốc nối tiếp nhau vang lên. Nắp hòm gỗ mun từ từ được nhấc lên. Một luồng tử khí nồng nặc mùi long não, xạ hương cũ và da thuộc sấy khô lập tức phả ra ngoài, lấn át cả mùi trầm hương trên bàn thờ.
Thầy Mạch thò đôi bàn tay gầy guộc vào đáy hòm, cung kính nâng ra một vật thể được bọc kín trong ba lớp vải điều đã ố vàng vì thời gian. Lão quay trở lại bàn tế tự, cẩn thận đặt bọc vải xuống mặt bàn gỗ cạnh ba ngọn nến sáp ong.
Từng lớp vải điều mục nát được gỡ bỏ chầm chậm.
Bên trong lớp vải là một tấm da bò sấy khô quắt queo, rộng chừng hai thước vuông.
Tấm da mỏng dính, các mép da nham nhở như bị gặm nhấm, bề mặt ngả sang màu nâu thẫm của máu khô lâu năm.
Dưới ánh nến vàng vọt, bề mặt tấm da nổi rõ những đường gân chằng chịt.
Trên đó, vô số ký hiệu bát quái cổ cùng những nét vẽ hải đồ sông ngòi được khắc sâu bằng một thứ mực đen pha chu sa đỏ thẫm.
Từng nét vẽ đều sắc lẹm, uốn lượn hệt như những đàn giun đất đang bò trườn trên mặt da thuộc khô nẻ.
Thầy Mạch dùng hai bàn tay vuốt phẳng tấm da bò lên mặt bàn gỗ.
Ngón tay trỏ khẳng khiu của lão ấn mạnh vào một chấm đen tròn lớn nhất nằm lệch về phía tây nam của tấm bản đồ.
Xung quanh chấm đen này là chín đường mực đỏ vẽ tỏa ra như chín xúc tu quái dị, đâm xuyên qua các quẻ dịch được ghi chú bằng chữ triện cổ.
- Cậu nhìn kỹ vào đây.
-
- Giọng thầy Mạch trầm xuống, nặng trịch như đá tảng.
- Đây là tấm bản đồ trấn trạch do sư phụ tôi truyền lại từ mùa đông năm Đinh Sửu. Chấm đen này chính là vũng lầy Bồ Tầm ở làng Vọng Ngưu Đôn. Nó là rốn khí tai ương,
là nơi tụ hội toàn bộ oán khí của nạn đói năm đó dọc theo hạ lưu sông Tây Giang.
Tôi ghé sát mắt nhìn vào chấm đen trên tấm da. Nét mực ở điểm đó dày cộp, đen sì và bóng nhẫy một cách kỳ dị, như thể thứ bùn quánh dưới chân cột đình hoang ngoài rừng mắm.
- Năm đó, để ngăn chặn tà khí bùn quỷ không tràn vào các phố thị trù phú ven sông, các bậc tiền nhân đã phải lập nên một trận đồ phong ấn bao quanh khu rừng mắm Bồ Tầm.
-
- Thầy Mạch tiếp tục giải thích, ngón tay lão lướt qua chín đường mực đỏ.
- Nhưng thời gian trôi qua, xương người dưới nền đình đã bắt đầu trồi lên, rễ si đã cắn thủng lớp gạch phong ấn. Trận đồ xưa đang rách toạc từng mảng. Cậu bị bùn quỷ quấn lấy không phải là ngẫu nhiên, số mệnh đã kéo cậu về mảnh đất chết này.
Lão ngẩng phắt đầu lên, nhìn thẳng vào mắt tôi bằng ánh mắt sắc nhọn như dao:
- Cậu phải mang tấm bản đồ da bò này quay về lại Bồ Tầm. Trên bản đồ này đã ghi rõ vị trí của chín huyệt đạo âm khí dọc theo bờ vũng lầy. Cậu phải chuẩn bị đủ chín chiếc cọc làm bằng lõi gỗ dâu rừng,
ngâm ngập trong nước chu sa pha máu gà trống thiến suốt ba ngày ba đêm. Sau đó, lần theo từng phương vị trên tấm da này, đóng chặt chín chiếc cọc dâu xuống chín huyệt đạo để khóa cứng long mạch đang rỉ máu.
Tôi rùng mình, hai vai co rút lại:
- Đóng cọc gỗ dâu... có thể tiêu diệt được thứ bùn quỷ đó sao thầy?
- Không thể tiêu diệt được.
-
- Thầy Mạch lắc đầu dứt khoát.
- Oán khí của hàng ngàn người chết đói hòa cùng đất mẹ thì không có thứ bùa chú nào trên đời này xóa bỏ được hoàn toàn. Chúng ta chỉ có thể đóng cọc trấn áp,
ép thứ tà thuật kia tiếp tục ngủ vùi dưới lòng bùn sâu. Và việc này buộc phải hoàn thành trước giờ Tý đêm rằm tháng bảy.
Lão dừng lại một nhịp, hơi thở nặng nề phả ra khói trắng giữa cái lạnh của gian tế tự:
- Tháng cô hồn đang đến rất gần.
Đêm rằm tháng bảy là thời điểm âm khí của trời đất đạt đến đỉnh điểm, cửa quỷ môn mở toang.
Nếu trước rằm tháng bảy mà chín huyệt đạo này không được đóng cọc trấn yểm, long mạch vỡ tung, vũng bùn Bồ Tầm sẽ lật ngược đáy lên.
Khi ấy, thứ quỷ thực nê dưới đáy đầm sẽ tràn ra sông Tây Giang, theo con nước lớn trườn vào từng thôn xóm ven bờ.
Khắp vùng đất này sẽ lại biến thành một lò đói khát cuồng loạn, người sống sẽ lại phát điên mà tranh nhau bốc bùn nuốt sống hệt như thảm cảnh năm Đinh Sửu.
Lời cảnh báo của thầy Mạch như những nhát búa nện thẳng vào lồng ngực tôi. Viễn cảnh kinh hoàng về một vùng đất ngập ngụa bùn quỷ khiến sống lưng tôi lạnh toát. Tôi nhìn tấm bản đồ da bò trải trên bàn,
cảm thấy sức nặng của hàng ngàn sinh mạng chết oan năm xưa đang đè trĩu lên đôi vai mình.
Nhưng ngay khi tôi định mở lời nhận lãnh trách nhiệm, thầy Mạch bỗng nắm lấy cổ tay tôi lắc mạnh, giọng lão chùng xuống đầy u uất:
- Cậu nghe cho rõ đây.
Cậu chỉ là người cầm bản đồ chỉ đường, tuyệt đối không được tự tay vung vồ nện những chiếc cọc dâu đó xuống đất.
Cậu không đủ căn cơ, mệnh lại nhẹ, vung búa xuống huyệt đạo là hồn phách tan nát ngay tại chỗ.
Kẻ đứng ra gánh mối nợ máu, kẻ trực tiếp nện cọc đóng huyệt buộc phải là người mang món nợ máu sâu nặng với nạn đói năm đó.
Người đó phải có máu mủ ruột rà hoặc duyên nợ oan khiên gắn chặt với những cái xác bị chôn sống dưới đầm lầy Bồ Tầm thì cọc mới bám rễ, bùa mới có linh.
Nếu tìm sai người gánh trận, cọc gỗ dâu cắm xuống sẽ lập tức bị bùn đen nuốt trọn, tai họa sẽ ập đến ngay tức khắc.
Lời nhắc nhở của thầy Mạch khiến lòng tôi chấn động.
Kẻ mang nợ máu với nạn đói năm 1937 tại làng Vọng Ngưu Đôn, kẻ có mối liên kết sinh tử với vũng lầy Bồ Tầm...
Hình bóng gầy guộc, đôi mắt đờ đẫn cùng những hành vi quái dị của lão A Ngưu nơi căn nhà rách nát đầu thôn lập tức hiện lên rõ mồn một trong tâm trí tôi.
Lão A Ngưu là người duy nhất sống sót qua thảm kịch năm ấy, người cả đời quanh quẩn bên vũng bùn chết chóc mà không chịu rời đi nửa bước.
- Cầm lấy đi.
-
- Thầy Mạch đẩy tấm da bò khô quắt về phía ngực tôi.
- Thời gian của cậu không còn nhiều đâu. Mùi đất trên người cậu đang đậm dần lên từng giờ.
Tôi nuốt một ngụm nước bọt khô khốc, run rẩy vươn năm ngón tay dính vệt bùn khô ra đón lấy tấm da thuộc.
Ngay khi đầu ngón trỏ của tôi vừa chạm vào bề mặt ráp ráp của tấm bản đồ,
một luồng hàn khí thấu xương từ sâu bên trong thớ da lập tức phóng thẳng vào da thịt tôi. Luồng khí buốt lạnh xộc thẳng lên cánh tay, chạy dọc sống lưng lên tận đỉnh đầu, khiến toàn bộ chân lông trên người tôi dựng đứng.
Dưới ánh lửa leo lét của ba ngọn nến sáp ong, bề mặt tấm da bò khô quắt bỗng co giật liên hồi. Những đường gân máu màu nâu thẫm phập phồng, giần giật từng nhịp rõ rệt hệt như da thịt của một sinh vật sống vừa bị đánh thức khỏi giấc ngủ vùi trăm năm.