Bùn Quỷ Thực - Chương 41: Tiếng Khóc Trẻ Con Vọng Lên Từ Bùn

Chiếc thuyền máy cập vào bến đất bồi ven đê khi ráng chiều cuối cùng vừa tắt ngấm dưới chân trời xám ngoét. Tôi xốc lại chiếc ba lô nặng trịch trên vai,…

Nội dung chương

Chiếc thuyền máy cập vào bến đất bồi ven đê khi ráng chiều cuối cùng vừa tắt ngấm dưới chân trời xám ngoét.

Tôi xốc lại chiếc ba lô nặng trịch trên vai, bước chân run rẩy đặt lên lớp sình lầy nhão nhoét ở bờ sông Tây Giang.

Gió cuối thu từ mặt nước mênh mông thốc ngược lên triền đê, mang theo hơi lạnh buốt thấu qua hai lớp áo ướt sũng.

Tôi đưa tay ấn chặt lên lồng ngực, nơi tấm bản đồ da bò của thầy Mạch cộm lên cứng đờ, lạnh lẽo áp sát vào da thịt.

Cảm giác phập phồng quái dị của những đường gân máu trên thớ da vẫn còn đọng lại trên đầu ngón tay, nhắc nhở tôi về món nợ máu từ nạn đói năm 1937 mà bản thân đang dấn bước vào giữa tâm điểm.

Tiếng thì thào khàn đặc váng vất bùn đất gọi tên tôi dưới mạn thuyền lúc trước vẫn còn ong ong bên tai. Tôi cắn chặt răng, bấu các ngón chân qua lớp giày vải ướt sũng để giữ thăng bằng rồi leo ngược lên con dốc đất đỏ dẫn vào thôn Vọng Ngưu Đôn.

Sau nhiều ngày lặn lội qua các vùng núi non Tương Tây thu thập manh mối,

cảnh vật của ngôi làng ven sông này hiện ra trước mắt tôi với một vẻ tang thương đến nghẹt thở. Màn sương chiều từ các rặng tre gai bắt đầu sà xuống, bao phủ kín mít những lối đi quanh co lởm chởm đá cuội.

Không gian tĩnh mịch bao trùm lấy bốn bề.

Bình thường vào giờ cơm tối, khói bếp từ những gian nhà lợp ngói âm dương sẽ quyện vào sương mù, tiếng đàn bà gọi con về ăn cơm cùng tiếng chó sủa râm ran khắp đầu ngõ xóm dưới.

Thế nhưng lúc này, cả thôn Vọng Ngưu Đôn im ắng lạ thường, tuyệt nhiên không có lấy một tiếng chó sủa hay một đốm lửa le lói.

Từng nếp nhà vách đất hai bên đường đều đóng kín mít, the cài then đóng chặt chẽ, các khe liếp cửa sổ đều được chèn kín bằng những bó rơm khô hoặc những mảnh bao tải gai dính đầy bùn đất.

Dân làng hình như đang trốn tránh một thứ tai họa vô hình đang lượn lờ bên ngoài vách tường.

Tôi bước nhanh trên con đường đất ẩm ướt,

hơi thở phả ra từng luồng khói trắng đục. Mùi đất ngai ngái quen thuộc của đồng bãi bị lấn át hoàn toàn bởi một thứ mùi hôi nồng nặc, tanh tưởi đến lợm giọng. Đó là mùi bùn ao tù để lâu ngày bốc lên cùng mùi thực vật thối rữa dưới đáy sâu.

Mục tiêu duy nhất của tôi lúc này là căn nhà tranh vách đất của lão A Ngưu nằm tách biệt ở rìa phía đông của thôn, giáp ranh với vùng đất hoang dẫn ra đầm Bồ Tầm. Lão là nhân chứng sống cuối cùng bước ra từ thảm kịch năm Đinh Sửu,

cũng là người duy nhất mang duyên nợ sâu nặng có thể giúp tôi thực hiện trận pháp đóng cọc gỗ dâu mà thầy Mạch đã dặn dò. Nếu không có lão, chín chiếc cọc gỗ dâu ngâm máu gà và chu sa sẽ không thể nào bám rễ xuống chín huyệt đạo âm khí.

Lách qua rặng dâm bụt khẳng khiu trơ trọi lá,

tôi nhìn thấy gian nhà tranh xiêu vẹo của lão A Ngưu hiện ra dưới bóng tối nhá nhem. Mái rạ mục nát phủ đầy rêu xanh sụp xuống một góc, bốn bề vách trát bùn trộn rơm đã nứt toác từng mảng lớn, để lộ ra những thanh tre đan bên trong xám xịt vì mưa nắng.

Bình thường, dù trời có tối đến đâu, lão A Ngưu cũng sẽ ngồi bậu cửa rít thuốc lào sòng sọc, đôi mắt đục ngầu nhìn chăm chăm về hướng đầm lầy. Nhưng tối nay, trước hiên nhà vắng hoe vắng hoắt.

Tôi bước nhanh hơn, bước chân dẫm lên lớp lá khô mục rữa phát ra những tiếng lạo xạo khô khốc giữa đêm vắng:

- Bác A Ngưu! Bác có nhà không? Tôi là Triều Hành đây!

Tiếng gọi của tôi vang ra rồi chìm nghỉm vào bóng tối đặc quánh, chỉ có tiếng gió bấc rít qua khe liếp đáp lại từng hồi rợn cả gáy.

Lại gần thêm vài bước, tim tôi thắt lại khi nhìn thấy cảnh tượng trước hiên. Cánh cửa liếp tre vốn dùng để che chắn gian nhà chính đã bị giật tung ra khỏi khung gỗ,

nằm đổ sụp nghiêng ngả trên nền đất nện. Những sợi dây mây buộc bản lề bị giằng đứt tung tóe, đầu sợi xơ xác hệt như vừa bị một lực kéo cực mạnh từ bên ngoài giật phăng đi.

Tôi bước lên bậc thềm tam cấp phủ đầy rêu trơn tuột, rút chiếc đèn pin cầm tay trong túi áo khoác ra rồi bấm công tắc. Luồng ánh sáng vàng vọt quét ngang qua khoảng sân hẹp, rọi thẳng vào bên trong gian nhà tăm tối.

Mùi hôi thối xộc thẳng vào mũi khiến tôi phải đưa mu bàn tay lên bịt chặt lấy miệng, cố ngăn cơn buồn nôn đang dâng lên tận cuống họng.

Đó là mùi bùn sình chết chóc nồng nặc tử khí, mang theo cảm giác lạnh buốt đến thấu xương tủy, một cảm giác quen thuộc đến rợn gáy mà tôi từng nếm trải khi đối mặt với những bùa chú trấn yểm âm binh ở tận biên giới Tương Tây.

Thứ tử khí này không bốc lên từ xác thịt phân hủy thông thường, mà nó toát ra từ sâu thẳm dưới lòng đất, tích tụ oán hận của những kẻ chết đói qua hàng mấy mươi năm trời.

- Bác A Ngưu!

Tôi cất tiếng gọi thêm một lần nữa, giọng run rẩy giữa gian phòng rách nát.

Bên trong nhà, đồ đạc bị xáo trộn ngổn ngang đến mức khó tin. Chiếc bàn gỗ con ba chân bị lật nghiêng sang một bên,

chiếc chõng tre ọp ẹp nơi lão A Ngưu thường nằm ngủ đã gãy gập một bên giát giường, những thanh nan tre xước xát chỉa lên tua tủa. Chiếc chiếu rách nát tả tơi bị kéo lệch xuống đất, dính bết những mảng bùn non sền sệt đen kịt.

Dưới chân bàn, một chiếc bát sành nứt mẻ nằm vỡ đôi,

vùi sâu dưới lớp bụi đất xám xịt và những mảnh rơm rạ mục nát. Đây là chiếc bát sành duy nhất mà lão A Ngưu dùng để ăn cơm qua ngày, lúc này lòng bát dính chặt một thứ bột đen khô quắt, bốc ra mùi ngai ngái khó ngửi.

Tôi hạ thấp luồng ánh sáng của chiếc đèn pin xuống nền đất nện ẩm ướt. Ngay lập tức, da đầu tôi tê rần khi nhìn thấy những dấu vết lưu lại trên mặt đất.

Từ mép chiếc chõng tre gãy sụp, một vệt trườn dài ngoằng, bóng nhẫy và nhớp nháp màu đen kịt kéo lê trên nền đất.

Bề mặt vệt trườn rộng chừng hai gang tay, miết phẳng lì lớp bụi đất trên sàn, hai bên mép đùn lên những gờ bùn non ươn ướt hệt như dấu vết của một loài bò sát khổng lồ vừa trườn qua.

Nhưng lẫn trong vệt bùn đen sẫm ấy là những vết cào cấu sâu hoắm của năm đầu ngón tay người.

Những ngón tay bấu chặt xuống nền đất cứng trong tuyệt vọng, để lại những rãnh cào sâu hoắm dính máu khô sẫm màu hòa lẫn cùng đất đen.

Dấu vết ấy bắt đầu từ chân giường, kéo thẳng qua giữa gian nhà chính rồi trượt dài về phía cánh cửa sau đang mở toang.

Tôi nuốt một ngụm nước bọt khô khốc,

bước chân rón rén lần theo vệt bùn nhớp nháp. Tiếng đế giày dẫm lên lớp đất nện lép bép vang lên rõ mồn một trong căn nhà hoang tàn. Càng đi về phía cửa sau, mùi tanh nồng của bùn quỷ càng đậm đặc, xộc thẳng vào buồng phổi làm tôi choáng váng.

Tôi bước qua bậu cửa sau, cúi người soi đèn pin xuống mép gỗ.

Trên thành cửa bằng gỗ xoan đã mủn mục, một mảng bùn đen quánh bám chặt lấy thớ gỗ, rỉ ra những giọt nước đùng đục rơi tong tòng xuống đất.

Tôi đưa ngón tay khẽ chạm vào mảng bùn ấy.

Một luồng hàn khí buốt nhói lập tức truyền thẳng qua da thịt, làm khớp ngón tay tôi đông cứng lại vì lạnh giá.

Bùn này mang theo âm khí cực nặng, không khác gì thứ bùn quỷ thực nê từng vùi lấp bao nhiêu sinh mạng năm xưa.

Rõ ràng lão A Ngưu đã bị thứ gì đó kéo lê ra khỏi nhà. Lão không hề tự bước đi,

những vết cào cấu trên nền đất chứng minh lão đã cố bấu víu. Lão chống cự lại lực lôi kéo tàn nhẫn ấy. Nhưng sức cùng lực kiệt của một ông già đói ăn cả đời không thể nào chống lại sức mạnh ghê hồn của thứ tà vật dưới lòng đất.

Gió lạnh ngoài vườn thổi hắt vào mặt làm tôi bừng tỉnh. Tôi rọi đèn pin ra phía sau nhà, nơi có một mảnh vườn nhỏ bỏ hoang mọc đầy cỏ dại gai góc.

Vệt trườn đen kịt rẽ đám cỏ rậm rạp thành một lối mòn bằng phẳng,

ép rạp những thân cỏ hoang xuống nền sình lầy ướt át. Dọc theo vệt trườn, những vũng nước bùn đen ngòm đọng lại trong các hố móng chân, sủi lên những bọt khí nhỏ li ti rồi vỡ toang, phát ra những tiếng "bộp, bộp" trầm đục giữa đêm thanh vắng.

Tôi lần theo bờ rào tre rách nát, bước chân giẫm lên đám cỏ gai sắc nhọn cào rách cả ống quần. Con đường mòn bùn lầy này không vòng vèo qua các ngõ xóm, nó xé toạc rào gai, dẫn thẳng tắp ra phía cánh đồng hoang phía sau thôn.

Nhìn về hướng đó, lồng ngực tôi đập thình thình từng nhịp hoảng loạn.

Phương hướng mà vệt bùn đen kia dẫn tới chính là đầm lầy Bồ Tầm.

Trong màn đêm đen đặc và sương mù dày đặc của vùng sông nước Lĩnh Nam, khu đầm lầy hiện lên như một cái miệng khổng lồ đen ngòm của loài ác thú đang há to chờ nuốt chửng mọi thứ.

Những rặng tràm, rặng bần cằn cỗi mọc ven đầm đung đưa theo gió đêm, bóng dáng chúng ngoằn ngoèo như thể những bàn tay khô khốc của đàn ma đói đang vươn lên từ đáy bùn sâu.

Lão A Ngưu đã bị kéo về phía đầm lầy. Tiếng gọi thê thiết dưới mạn thuyền lúc chập tối chợt ùa về trong tâm trí tôi: "Triều Hành ơi... vớt tôi với... bùn ngập đến cổ tôi rồi..."

Lão không nói đùa, lão thực sự đang bị nhấn chìm xuống đáy bùn sâu thẳm của đầm Bồ Tầm, nơi chôn giấu hàng ngàn oan hồn của nạn đói năm Đinh Sửu.

Nếu lão A Ngưu chết đi, trận pháp trấn yểm chín cọc dâu rừng sẽ hoàn toàn vô dụng. Sẽ không còn ai gánh vác món nợ máu năm 1937 để neo giữ linh hồn của vùng đất này lại trước giờ Tý đêm rằm tháng bảy.

Nghĩ đến viễn cảnh kinh hoàng khi bùn quỷ tràn bờ sông Tây Giang, nhấn chìm tất cả các làng mạc trù phú thành vùng đất chết đói,

tôi không thể chần chừ thêm một khắc nào nữa. Tôi siết chặt chiếc đèn pin trong tay, quay người bước nhanh ra khỏi căn nhà hoang tàn của lão A Ngưu, dự định chạy tắt qua con đường liên thôn để ra bờ đầm tìm kiếm tung tích của lão.

Nhưng khi bước chân vừa chạm ra đến đầu ngõ đất đỏ nối liền với ngã ba đường làng, tôi bỗng khựng lại toàn thân, hai bàn chân như bị chôn chặt xuống lớp sỏi đá lạnh ngắt.

Luồng ánh sáng vàng vọt từ chiếc đèn pin quét một vòng tròn trên mặt đường đất dẫn vào các xóm nhỏ trong thôn Vọng Ngưu Đôn.

Dưới ánh đèn pin sáng rực rọi thẳng vào lòng đường, mặt đất không chỉ có một vệt trườn đơn độc của lão A Ngưu.

Trước mắt tôi, từ khắp các ngả đường ngang ngõ tắt, từ những cánh cửa nhà đang đóng then cài then kín mít của người dân trong làng, hàng chục vệt trườn đen kịt, nhớp nháp và nồng nặc mùi bùn sình đang trườn ra. Những vệt bùn to nhỏ khác nhau,

lấp loáng nước dưới ánh đèn, cuốn theo rác rưởi mục nát và rơm rạ, tất cả đều đang uốn lượn bò qua lớp đá cuội lởm chởm, hợp dòng lại ngay tại ngã ba đường rồi cùng nhau hướng thẳng về phía đầm Bồ Tầm mờ mịt sương đêm.

Chương khác

Xem thêm