Bùn Quỷ Thực - Chương 36: Người Thừa Kế Phép Ấn Phong Đô

Buổi chiều tà buông xuống con rạch cạn ở mạn ngoài Triều Sơn bằng một thứ ánh sáng nhờ nhờ xám xịt. Đáy rạch trơ khấc những mảng bùn nứt nẻ, phơi ra mấy…

Nội dung chương

Buổi chiều tà buông xuống con rạch cạn ở mạn ngoài Triều Sơn bằng một thứ ánh sáng nhờ nhờ xám xịt.

Đáy rạch trơ khấc những mảng bùn nứt nẻ, phơi ra mấy gốc bần mục gãy ngang thân và đám vỏ ốc bươu chết khô từ bao giờ.

Gió từ bãi bồi thổi thốc vào căn nhà cổ lợp ngói âm dương, mang theo mùi sình lầy lâu năm pha lẫn vị tanh của nước triều rút.

Trong căn phòng tối om, không khí đặc quánh mùi khói hương bài quyện chặt với thứ thảo mộc đắng ngắt đang sôi sùng sục trên chiếc siêu đất kê nơi góc cột.

Tôi ngồi đối diện thầy Mạch bên chiếc bàn trà gỗ mun đã sứt sẹo bốn góc. Trên mặt bàn loang lổ vết ố,

một chén nước sâm đen quánh bốc khói lượn lờ. Tàn hương từ nén nhang bài cắm trên vách đất rụng xuống, rơi tọt vào giữa chén nước, chìm dần xuống đáy mà không tan ra.

Thầy Mạch không buồn gạt tàn nhang đi.

Lão ngồi im lìm, con mắt bên phải chột đặc từ thời trai trẻ giấu sau mí mắt sụp đầy sẹo, con mắt bên trái còn lại đùng đục như mắt cá ươn nhưng thỉnh thoảng lại lóe lên những tia nhìn sắc lẹm.

Hai bàn tay lão đặt trên đầu gối cứ run rẩy từng chập, những đốt ngón tay khô đét, khẳng khiu bấu chặt lấy lớp vải chàm đã bạc màu.

Đó là di chứng của những tháng ngày dài gặm vỏ cây, bới rễ cỏ nhét vào bụng trong nạn đói năm ba bảy.

Lão vươn tay ra, đầu ngón tay trỏ gõ cộc cộc xuống mặt bàn gỗ mun:

- Chú em lặn lội từ bờ Tây Giang tìm sang tận cái hốc Triều Sơn này, chắc cũng đã thấy những thứ không nên thấy ngoài bãi lầy rồi phải không?

Tôi khẽ xoa cổ chân phải. Dưới lớp ống quần bò thô ráp, dấu vết năm ngón tay đen ngòm siết vào da thịt khi nãy ngoài bãi rừng mắm vẫn còn rát bỏng, tấy đỏ như bị thanh sắt nung áp vào.

- Tôi đã chạm vào bia đá gãy

- Tôi đáp, cố ghìm giọng cho khỏi run - Máu từ kẽ nứt trào ra, rồi bùn đất dưới chân lập tức động đậy. Nếu thầy Trịnh không dùng gậy trúc kéo tôi ngược lên thuyền, có lẽ tôi đã bị dìm xuống hố bùn sủi bọt ấy rồi.

Thầy Mạch nhếch khóe môi méo xệch, để lộ hàm răng đen sì khuyết mất mấy chiếc răng cửa. Lão cười không thành tiếng, cổ họng chỉ phát ra những tiếng khò khè khô khốc:

- May cho chú em đấy. Nhưng cái thứ kéo chân chú em chẳng phải cánh tay người chết đâu. Đó là tà thuật trói buộc ngũ quan. Phái Lĩnh Nam chúng tôi gọi thuật đó là "Thực Nê Sai Giác".

Lão với tay lấy chiếc quạt nan rách mép, phẩy nhẹ luồng khói hương bài đang xộc vào mắt. Mùi lá ngải, vỏ quế khô và một vị đắng hăng nồng xộc thẳng lên sống mũi tôi khiến họng tôi nghẹn lại.

- Người đời nay ăn no mặc ấm,

cứ tưởng cái đói chỉ đơn giản là bụng réo cồn cào, chân tay bủn rủn. Giọng thầy Mạch trầm đục, rền rĩ như tiếng cối đá nghiền ngô. Chú em chưa từng thấy cảnh cả làng tranh nhau một nắm cỏ thối, chưa thấy mẹ giành mẩu rễ cây với con đỏ.

Cái đói cùng cực năm Đinh Sửu không chỉ làm teo tóp ruột thịt, hút cạn tủy xương.

Nó bẻ gãy thần thức của con người.

Khi cơn đói vượt quá giới hạn chịu đựng của thể xác, ngũ quan sẽ tự động sụp đổ.

Mắt mờ đi, mũi lẫn lộn mùi vị, lưỡi mất cảm giác đắng cay.

Kẻ đói sẽ tự lừa dối chính mình để có thể nuốt trôi bất cứ thứ gì nhét được vào mồm.

Lão ngừng lại, ngón tay run rẩy chỉ vào chén nước sâm đang cạn dần khói:

- Những kẻ luyện tà thuật năm ấy đã nắm thấu điểm yếu này.

Chúng biết người chết đói có một nỗi thèm khát ăn uống đến điên dại.

Chúng không dùng roi vọt hay bùa chú hùng mạnh để sai khiến oan hồn, mà dùng chính sự thèm khát ấy để gài bẫy.

Thuật Thực Nê Sai Giác làm đảo lộn hoàn toàn mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi và vị giác.

Bùn lầy hôi tanh lọt vào mắt kẻ trúng thuật sẽ biến thành cháo hoa nghi ngút khói.

Nước cống rãnh sủi bọt thối rữa vào miệng lại ngọt mát như sương sớm.

Càng nuốt, bụng càng căng, nhưng ngũ tạng thì nát bấy vì đất cát đóng tảng.

Tôi nuốt nước bọt, nhớ lại câu chuyện bà Hai Chấn từng kể về hình ảnh cha mẹ bà ngồi bốc từng vốc bùn đen ven lạch cho vào miệng nhai ngấu nghiến, vừa nhai vừa khen ngọt như cháo đường phèn. Cơn ớn lạnh từ sống lưng chạy dọc lên đỉnh đầu.

Thầy Mạch chống hai tay xuống mặt bàn, khó nhọc đứng dậy. Lão lê bước chân khập khiễng đi về phía bàn thờ tổ góc nhà. Trên ban thờ bày một bát hương gốm men lam cũ kỹ,

hai bên cắm đôi nến sáp ong đã cháy cụt ngủn. Lão với tay vào góc khuất sau bài vị bằng gỗ mục, lấy ra một chiếc hũ gốm nhỏ chỉ bằng nắm tay.

Chiếc hũ gốm tráng men da chuối, miệng hũ được niêm phong kỹ lưỡng bằng một lớp sáp đỏ dày cộp. Trên lớp sáp đỏ in hằn một dấu triện hình tròn có khắc ba nét móc câu uốn lượn, giống hệt ký hiệu phù chú trên phiến bia đá gãy ngoài bãi rừng mắm.

Thầy Mạch mang chiếc hũ đặt cẩn thận xuống giữa bàn trà, ngay bên cạnh chén nước sâm.

Tôi ghé mắt nhìn kỹ. Dưới ánh đèn dầu leo lét, lớp sáp đỏ niêm phong miệng hũ đã xuất hiện những vết rạn nứt li ti hình mạng nhện. Những kẽ nứt rất nhỏ nhưng sâu hoắm,

từ trong đó bốc ra một mùi ngai ngái kỳ lạ, vừa giống mùi rễ cây ngập nước lâu ngày, vừa phảng phất mùi đất ẩm sau cơn mưa rào mùa hạ. Lớp sáp hình như không còn đủ sức giữ chặt miệng hũ nữa, từng hạt bụi đỏ li ti rụng lả tả xuống mặt gỗ mun.

Thầy Mạch khẽ thở dài khi nhìn thấy những vết rạn trên sáp đỏ. Lão không nói gì về vết nứt, chỉ dùng chiếc móng tay cái cáu bẩn cạy nhẹ một góc sáp, khẽ mở hé miệng hũ.

Một thứ bột màu xám ngoét hiện ra bên trong lòng hũ. Đó là một nắm đất khô cằn, mịn như tro bếp, bốc lên thứ mùi chết chóc khô khốc.

- Đất này đào từ hố chôn tập thể thời Dân quốc ở ngã ba sông

- Thầy Mạch trầm giọng - Ba mươi năm trước, sư phụ tôi lặn xuống đáy vũng sình vớt lên được nửa hũ. Đất này thấm đẫm oán khí của những kẻ chết vì no giả. Chú em muốn hiểu tà thuật lừa dối ngũ quan thế nào thì phải tự mình nếm thử một chút.

Tôi giật nảy mình, vội xua tay:

- Thầy bảo tôi ăn thứ đất này sao?

- Không phải nuốt trọn cả nắm

- Thầy Mạch lắc đầu, khóe mắt chột giật giật - Chỉ mượn chút tà khí để mở khiếu vị giác cho chú em thấy quỷ đói nhìn thế gian bằng cách nào. Chú em đi ghi chép chuyện cũ mà chỉ nghe bằng tai,

nhìn bằng mắt của người sống thì muôn đời không hiểu được tại sao người ta lại cam tâm tình nguyện biến thành quỷ thực nê.

Nói đoạn, lão thò ngón trỏ vào miệng hũ, quẹt lấy một lượng bột xám mỏng manh chỉ bằng hạt mè. Lão lẩm bẩm mấy câu thần chú bằng thổ ngữ Lĩnh Nam ríu rít trong kẽ răng, rồi bất thình lình vươn tay tới, chấm thẳng đầu ngón tay dính bột vào đầu lưỡi tôi.

Động tác của lão nhanh và dứt khoát đến mức tôi không kịp né tránh.

Đầu lưỡi tôi lập tức đón nhận một vị đắng chát xé họng,

ngai ngái mùi đất mồ mả tanh tưởi. Vị đắng ấy xộc thẳng lên cuống họng khiến tôi nôn nao cồn cào, dạ dày thắt lại từng cơn, hai mắt trào nước ra vì ghê tởm. Tôi toan há mồm nhổ phì ra đất thì thầy Mạch đã đập mạnh bàn tay gầy trơ xương xuống mặt bàn.

Bốp!

- Ngậm miệng lại! Nhìn vào chén nước trước mặt!

-

- Lão quát lớn.

Tôi nuốt ực một cái vì giật mình. Vị đắng chát trong miệng bỗng nhiên biến mất tăm, như thể chưa từng tồn tại.

Trước mặt tôi, trên chiếc bàn sứt sẹo, chén nước sâm đen ngòm lúc nãy đã biến đổi hoàn toàn. Lớp tàn nhang đen đúa trôi lờ lờ trên mặt nước biến mất,

thay vào đó là một thứ chất lỏng màu vàng hổ phách sóng sánh, trong vắt đến tận đáy. Từ miệng chén, một làn hương thơm ngọt ngào, đậm đà ngào ngạt bốc lên, xộc thẳng vào cánh mũi tôi.

Đó là mùi rượu nếp cái hoa vàng ủ men hoa quế thượng hạng.

Hương thơm ấy nồng nàn đến mức khiến dịch vị trong khoang miệng tôi trào ra ồ ạt. Cơn đói cồn cào từ tận sâu trong ruột gan bỗng nhiên bùng phát dữ dội, một cảm giác đói khát chưa từng có trong đời ập đến cắn xé tâm can tôi. Ruột tôi sôi lên sùng sục,

từng thớ thịt trên người run rẩy vì thèm thuồng. Tôi chỉ muốn chộp lấy chiếc chén sứt mẻ ấy, ngửa cổ dốc cạn thứ rượu nếp thơm lừng kia vào họng để dập tắt ngọn lửa đói đang thiêu đốt ngũ tạng.

Tay tôi bất giác vươn ra, các ngón tay run rẩy chạm vào thành chén sành sứt mẻ.

- Thấy chưa?

-

- Giọng nói khô khốc của thầy Mạch vang lên bên tai như một tiếng chuông gióng giữa đêm khuya

- Chỉ cần một mẩu bột đất bằng hạt cải, rượu nếp thơm tho đã hiện ra trước mắt chú em rồi.

Tiếng quát khẽ của lão kéo giật tôi trở về thực tại. Tôi rụt phắt tay lại như vừa chạm vào thanh sắt nung.

Mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa sau lưng áo tôi. Khi nhìn kỹ lại, chiếc chén sành kia đâu phải đựng rượu nếp hoa quế. Đó vẫn là chén nước sâm đen quánh,

nguội ngắt và nổi lềnh bềnh tàn nhang xám xịt. Nhưng trong không khí, mùi hương ngọt ngào quyến rũ của rượu nếp vẫn cứ lượn lờ, bám riết lấy khứu giác tôi, kích thích tuyến nước bọt tiết ra không ngừng.

Một sự kinh hoàng tột độ bóp nghẹt lồng ngực tôi.

Giác quan của tôi đã bị đánh lừa một cách trần trụi và tàn nhẫn.

Tôi rõ ràng nhìn thấy nước sâm bẩn thỉu, nhưng mũi tôi vẫn ngửi thấy rượu ngon, lưỡi tôi vẫn thèm thuồng muốn nuốt.

Nếu trong hoàn cảnh chết đói ròng rã cả tháng trời, khi lý trí đã bị cơn đói gặm nhấm sạch sẽ, ai có thể cưỡng lại được ảo giác ngọt ngào này?

Kẻ đói sẽ lao vào, vục mặt xuống vũng bùn đen ngòm mà húp lấy húp để, vừa nuốt vừa tin rằng mình đang được thưởng thức mỹ vị nhân gian.

- Thật đáng sợ...

-

- Tôi thều thào, lồng ngực phập phồng run rẩy

- Thuật này bẫy người ta chết bằng sự thèm ăn của chính họ.

Thầy Mạch cẩn thận đậy nắp chiếc hũ gốm lại. Những vết nứt hình mạng nhện trên lớp sáp đỏ hình như lại lan rộng thêm một chút, vài hạt sáp nhỏ vụn tiếp tục rơi xuống mặt bàn. Lão đưa bàn tay khẳng khiu lên xoa nắn mi mắt chột, giọng chùng xuống đầy chua chát:

- Đáng sợ nhất không phải là cái chết tức thì, mà là sự chết dần chết mòn trong mãn nguyện giả tạo.

Kẻ trúng thuật nuốt bùn vào bụng sẽ cảm thấy no đủ, ấm áp.

Nhưng bùn non năm ba bảy vốn chứa đầy khoáng chất độc hại và tà khí của đất lầy.

Bùn đi vào dạ dày sẽ hút hết nước trong cơ thể, đông cứng lại thành từng tảng đất sét xám xịt.

Ruột non, ruột già bị đất sét chèn ép, tắc nghẽn rồi hoại tử từ bên trong.

Nạn nhân chết trong đau đớn cùng cực nhưng đến tận hơi thở cuối cùng, khóe miệng họ vẫn mỉm cười vì ngỡ mình chết no.

Sau khi họ chết, toàn bộ lục phủ ngũ tạng đã hóa thành đất sét khô cứng, biến xác thịt họ thành vật dẫn hoàn hảo để nuôi dưỡng bùn quỷ.

Lão chỉ tay về phía chiếc hũ gốm:

- Mấy mươi năm qua, phong ấn của dòng họ Trịnh ngoài rừng mắm và các đàn tràng trấn yểm ở Lĩnh Nam đã ghìm chặt tà thuật này dưới đáy sâu. Nhưng chú em nhìn xem,

sáp đỏ bắt đầu rạn nứt rồi. Oán khí năm xưa bị đánh thức, thuật sai giác lại bắt đầu tác oai tác quái. Cổ chân chú em bị nắm lấy ngoài bãi lầy chính là điềm báo: kẻ dưới mồ đang tìm kiếm những cái miệng mới để nhét bùn vào.

Tôi nhìn vết nứt chằng chịt trên nắp hũ gốm, cảm giác lạnh lẽo chạy dọc từ cổ chân lên tận thái dương. Đầu lưỡi tôi vẫn còn đọng lại vị ngọt giả tạo nồng nặc của men rượu nếp hoa quế, quyện lẫn với vị tanh của bùn đất.

- Bây giờ tôi phải làm sao để hết thứ ảo giác này?

-

- Tôi hỏi, giọng khô khốc.

Thầy Mạch cầm chén nước sâm đen quánh trên bàn, đẩy nhẹ về phía tôi:

- Uống cạn chén nước sâm này đi. Thảo dược đắng trong đó là vị thuốc giải tạm thời để tẩy sạch tà khí trên đầu lưỡi chú em. Uống hết, ngũ quan mới trở lại bình thường được.

Tôi nhìn chén nước sâm đen sì. Dù mũi vẫn ngửi thấy mùi thơm lừng của rượu nếp ngào ngạt,

tôi biết mình phải nuốt trôi thứ nước thuốc đắng ngắt này để cứu lấy bản thân. Tôi đưa hai tay bưng chiếc chén sành sứt mẻ lên, lấy lại bình tĩnh rồi cúi đầu, kề miệng chén vào sát môi định dốc cạn một hơi.

Đúng lúc mặt nước thuốc sâm màu đen chao nghiêng theo độ dốc của thành chén, ánh đèn dầu leo lét trên vách hắt xuống đáy chén một vệt sáng vàng vọt.

Tôi khựng lại.

Dưới lớp nước thuốc đen quánh vừa lắng xuống, những vụn tàn nhang và cặn thảo mộc li ti không hề trôi dạt hỗn loạn theo dòng nước. Chúng đột ngột chuyển động, xoay tròn lại giữa lòng chén rồi kết tụ lại với nhau thành từng đường nét rõ rệt.

Đó không phải là vệt cặn vô tri.

Dưới đáy chén nước sâm đen ngòm, đám cặn bã ấy đã tự gom lại, tạo thành hình một khuôn mặt người méo mó, hốc mắt sâu hoắm rỗng tuếch và cái miệng ngoác rộng đến tận mang tai, đang há toét ra như muốn nuốt chửng lấy tôi, nở một nụ cười toe toét đầy ghê rợn.

Chương khác

Xem thêm