Bùn Quỷ Thực - Chương 35: Lão A Ngưu Biến Mất Sau Đêm Trung Thu
Mặt trời buổi sớm mai không mang lại chút hơi ấm nào cho dải rừng mắm ngập mặn ven bờ Tây Giang. Ánh sáng chỉ rọi xuống một thứ màu nhờ nhờ xám xịt, xé…
Nội dung chương
Mặt trời buổi sớm mai không mang lại chút hơi ấm nào cho dải rừng mắm ngập mặn ven bờ Tây Giang. Ánh sáng chỉ rọi xuống một thứ màu nhờ nhờ xám xịt, xé rách từng mảng sương muối đùng đục đang là là trên mặt nước. Nước triều ròng rút đi thật nhanh,
để lại một khoảng bãi lầy mênh mông, bộc lộ lớp bùn đen nhẫy, sền sệt và đặc quánh, bốc lên mùi tanh tưởi nồng nặc của rong rêu thối rữa xen lẫn xác cua cá chết phơi bụng.
Tôi xắn cao ống quần quá gối, một tay xách túi đồ nghề, tay kia bặm môi dìu lấy cánh tay gầy guộc của thầy Trịnh. Mỗi bước chân giẫm xuống mặt bãi lầy đều phát ra những âm thanh lép bép nặng nề. Lớp bùn lút qua mắt cá chân,
rồi ngập dần lên tận bắp chuối, mút chặt lấy da thịt bằng một lực níu kéo nhơ nhớp, buốt lạnh thấu vào tận xương tủy.
Thầy Trịnh đi chân trần. Những ngón chân khẳng khiu của ông ta xòe rộng, bấm sâu vào bùn non để tìm điểm tựa. Cây gậy trúc trên tay trái ông ta liên tục chọc xuống phía trước,
dò dẫm từng hố trũng và các bọc rễ ngầm. Đôi mắt mù lòa của thầy cúng ngửa lên trời, khóe mắt vẫn còn vệt máu khô thẫm từ chòi đước lúc nãy, khuôn mặt sắt lại không một gợn cảm xúc.
Càng đi sâu vào vùng cấm địa của bãi bồi, cảnh vật xung quanh càng trở nên dị hợm. Những cây mắm cổ thụ mọc ken dày, thân cành vặn vẹo uốn éo dưới lớp vỏ mốc xơ xác. Hệ rễ thở của chúng nhọn hoắt,
đâm ngược từ lòng bùn đen tủa lên tua tủa như hàng ngàn chiếc cọc nhọn hoắt, trơ trọi trông giống hệt những đốt xương xẩu của đám tử thi bị chôn vùi dưới đáy sâu đang cố trồi lên khỏi mặt đất.
- Đi chậm thôi chú em
- Thầy Trịnh đột ngột lên tiếng, thanh âm khàn đục như tiếng hai mảnh sành cọ xát - Dưới chân chúng ta toàn là mạch bùn sống. Đừng giẫm vào những chỗ bùn sủi bọt, đó là những cái túi khí rỗng do xác người rữa ra từ năm ba bảy đấy.
Tôi rùng mình, dừng bước chân lại nhìn xuống. Quanh những gốc mắm già, mặt bùn đen thẫm đang phập phồng một cách quái đản. Từng bọc khí đầm lầy to bằng miệng chén chốc chốc lại phình to lên rồi vỡ toác ra: "Bục... bục...". Âm thanh trầm đục,
nằng nặng ấy vang lên rải rác khắp không gian vắng lặng, chẳng khác gì những tiếng thở dài ai oán của những kẻ chết chìm bị nhét đầy đất bùn trong cổ họng đang cố hắt ra chút tàn khí cuối cùng.
Cái rét của vùng sông nước Lĩnh Nam lúc tảng sáng ngấm qua lớp áo mỏng, làm các khớp ngón tay tôi co cứng lại. Gió biển thổi lướt qua những ngọn cây sú vẹt khô cằn, tạo thành những tiếng rít u u ghê rợn.
Chúng tôi lội bùn thêm chừng hai trăm bước nữa, tiến thẳng vào lõi rừng mắm, nơi ánh sáng mặt trời hoàn toàn bị che khuất bởi những tán lá rậm rạp đan chéo vào nhau. Tại đây,
mùi tanh của bùn non nồng nặc đến mức nghẹt thở. Giữa bãi lầy trũng xuống thành một lòng chảo nông, không có một ngọn cỏ hay một nhánh cây con nào sống nổi. Bùn ở đây đen kịt như mực tàu, bóng nhẫy và đặc sệt.
Cốp!
Đầu cây gậy trúc của thầy Trịnh chọc trúng một vật cứng rắn nằm chìm nghỉm dưới lớp phù sa dày đặc. Âm thanh va chạm đanh gọn vang lên, hoàn toàn khác biệt với tiếng sục bùn mềm nhũn nãy giờ.
Thầy Trịnh khựng người lại. Bàn tay ông ta bấu chặt vào bắp tay tôi, năm ngón tay cứng như gọng kìm siết mạnh đến phát đau:
- Đến rồi. Vật trấn yểm nằm ngay dưới chân chú em. Mau quỳ xuống gạt lớp bùn trên mặt ra.
Tôi nuốt một ngụm nước bọt cay đắng nơi cuống họng, buông tay thầy Trịnh ra rồi từ từ hạ thấp trọng tâm, quỳ gối xuống lớp bùn lầy lạnh ngắt.
Nước bẩn lập tức ngấm qua lớp vải quần bò dán chặt vào da thịt.
Mùi bùn thối bốc thẳng lên hốc mũi khiến dạ dày tôi cồn cào từng cơn buồn nôn, nhưng sự thôi thúc của ký ức đói kém và những lời kể ghê rợn của người già ở Vọng Ngưu Đôn buộc tôi phải hành động.
Tôi rút từ trong thắt lưng ra con dao găm dã ngoại bằng thép không gỉ. Tôi thọc sâu lưỡi dao xuống lớp bùn non theo hướng đầu gậy trúc của thầy Trịnh chỉ điểm. Lưỡi thép chạm phải một bề mặt phẳng lì,
nặng trịch. Tôi dùng hai bàn tay trần hối hả cào từng mảng bùn đen sền sệt gạt sang hai bên.
Bùn bám rất chặt, dẻo quánh như keo dán. Sau một hồi hì hục gạt đi lớp phù sa bồi đắp suốt hàng chục năm ròng,
một khối đá hoa cương xám xịt dần dần lộ diện. Khối đá này không còn nguyên vẹn mà đã bị nứt toác, gãy đôi làm hai nửa theo một đường chéo nham nhở, nằm nghiêng ngả giữa lòng chảo đầm lầy.
Bề mặt khối đá bị bao phủ bởi những mảng rêu phong xanh đen dày cộp và tầng tầng lớp lớp vỏ hà biển sắc nhọn bám kết lại thành từng mảng cứng như vôi.
Tôi cầm dao, nghiêng lưỡi cạo mạnh lên bề mặt phiến đá. Từng mảng vỏ hà vỡ vụn, rơi lả tả xuống bùn nhão phát ra những tiếng lạo xạo chói tai. Rêu mục tróc ra, để lộ những rãnh đục sâu hoắm, sắc nét trên thớ đá hoa cương cứng ngắt.
Dưới ánh sáng lờ mờ của buổi sớm rừng mắm, những dòng chữ Triện cổ khắc sâu dần hiện rõ trước mắt tôi. Nét chữ vuông vức,
góc cạnh nhưng lại toát lên vẻ hung hiểm tà dị lạ thường. Từng nét khắc sâu tới gần một đốt ngón tay, bên trong lòng chữ vẫn còn đọng lại những vệt màu đỏ sẫm cáu bẩn, hình như là dấu vết của thứ chu sa pha máu chó mực năm xưa dùng để yểm bùa.
Tôi nheo mắt, run rẩy đọc thầm từng ký tự chữ Hán cổ mà mình từng học được trong những năm tháng nghiên cứu văn bia di tích:
- Quỷ... Thực... Nê... Đại... Sư... Chi... Tọa...
Tiếng tôi thốt lên khe khẽ, nhưng rơi vào không gian tĩnh mịch của rừng mắm lại nghe rợn cả người.
Ở phần lạc khoản bên cạnh, nét chữ nhỏ hơn ghi lại niên đại: "Mùa đói năm Đinh Sửu 1937". Tiếp theo đó là một đoạn bi ký ngắn,
ghi lại lời thề nguyền độc địa về việc dùng đất bùn nơi bãi bồi thay cơm nuôi vạn quỷ đói, lấy thân xác phàm tục hóa thành ngàn miệng ngậm đất sét để vượt qua kiếp nạn trầm luân.
Tôi ngẩng phắt đầu lên nhìn người thầy cúng mù đang đứng trơ trọi như một pho tượng gỗ giữa bãi sình:
- Thầy Trịnh... "Quỷ Thực Nê Đại Sư" này rốt cuộc là ai? Trên bia đá viết ông ta dùng bùn thay cơm cứu người, cớ sao lại thành tà ma bị giam cầm dưới đá?
Thầy Trịnh chống hai tay lên đầu gậy trúc, đôi môi thâm sì giật giật. Gió rít qua kẽ răng ông ta, mang theo một nỗi xót xa u uất:
- Khởi đầu của mọi tai ương đôi khi lại bắt nguồn từ một mảnh tâm niệm muốn cứu đời, chú em à. Năm ba bảy, Lĩnh Nam hạn hán liền ba năm, rồi lũ lụt vỡ đê Tây Giang cuốn trôi sạch mùa màng. Người ta chết đói la liệt dọc các bến sông,
xác trương phình không ai chôn cất. Vị đại sư này vốn là một nhà sư hành khất theo phái bí thuật dân gian, thấy cảnh cha mẹ ăn thịt con, người sống gặm vỏ cây đến lòi cả ruột thì động lòng trắc ẩn cùng cực.
Thầy Trịnh thở dài một hơi nặng nhọc, bàn chân trần của ông ta bấm sâu hơn vào lớp bùn đen.
- Ông ta gom góp sách cổ, tìm kiếm bí pháp luyện thể, muốn dùng thuật thổ hành để biến bùn đất bãi bồi thành thứ có thể lấp đầy dạ dày người phàm, giúp dân chúng cầm cự qua mùa đói kém.
Nhưng ông ta lầm rồi.
Bùn đất ngàn năm của dòng Tây Giang chứa đầy tử khí và hàn độc, không phải thứ thịt xương con người có thể dung nạp.
Thuật pháp thất bại, chất bùn độc ngấm vào tâm trí khiến ông ta phát điên.
Cơn đói trong thể xác ông ta biến thành một hố đen vô đáy, biến một kẻ tu hành từ bi thành con quỷ bùn đầu tiên thèm khát linh hồn của đồng loại.
- Cho nên... ông ta đã lừa người dân nuốt bùn thật sao?
-
- Tôi hỏi dồn, ngón tay bất giác siết chặt cán dao găm.
- Phải!
-
- Giọng thầy Trịnh chùng xuống, cay đắng khôn cùng
- Khi đã hóa quỷ, ông ta không còn muốn cứu người nữa mà muốn biến tất cả những kẻ chết đói ngoài kia thành đồng loại của mình để chia sẻ nỗi thống khổ.
Ông ta dùng ảo thuật làm biến đổi vị giác, khiến người ta tưởng bùn non là bột mì, là cháo hoa đường phèn.
Càng nuốt bùn, ruột gan càng tắc nghẽn, người ta chết trong sự no đủ giả tạo tột cùng.
Ba mươi pháp sư dòng họ Trịnh chúng tôi cùng các vị tiền bối vùng Lĩnh Nam năm đó phải trả giá bằng cả tính mạng mới chém đứt được pháp thân của hắn, đóng chặt phiến bia đá ngàn cân này để phong bế nguồn cơn tà ác.
Tôi nhìn chằm chằm vào những nét chữ Triện cổ trên mặt đá. Một chi tiết bất ngờ đập vào mắt tôi khiến tim tôi đập loạn xạ.
Ở bốn góc của phiến đá hoa cương gãy đôi, người ta khắc bốn ký hiệu phù chú nhỏ bằng đồng xu. Những đường nét móc câu uốn lượn kỳ dị, đầu nhọn hướng vào tâm phiến đá, ở giữa có một dấu chấm tròn bao quanh bởi ba vệt khuyết hình lưỡi liềm.
Ký hiệu này quá đỗi quen thuộc.
Trong cuốn sổ tay ghi chép điền dã của tôi, hình vẽ này đã từng xuất hiện. Đó chính là những nét vẽ chu sa trên các mảnh gỗ đào mà tôi tìm thấy vùi dưới chân cột đình hoang bên vũng lầy Bồ Tầm ở thị trấn Vọng Ngưu Đôn. Thủ pháp khắc vạch dứt khoát,
độ sâu của các đường rãnh và cách phân ba các nét phù chú này giống hệt nhau, cùng xuất phát từ một môn phái pháp thuật cổ xưa.
Mối liên hệ giữa vùng đất chết ngập mặn này và thị trấn Vọng Ngưu Đôn không còn là lời phỏng đoán lờ mờ nữa. Bọn họ thực sự đã dùng chung một loại tà thuật để trói buộc những vong hồn chết đói của năm Đinh Sửu.
- Tôi phải ghi lại tấm bia này
- Tôi nói nhanh, mở ba lô lấy ra một cuộn giấy bản mỏng và thanh sáp than chuyên dụng để dập bản rập văn bia.
Đây là công việc quen thuộc của một phóng viên kiêm nhà nghiên cứu điền dã. Mọi chứng tích lịch sử muốn được giải mã đều cần phải có bản dập chính xác từng nét chữ.
Tôi trải tấm giấy bản lên mặt đá ẩm ướt. Độ ẩm của bùn đất lập tức khiến tờ giấy dính chặt vào bề mặt hoa cương ráp xù sì. Tôi cầm thanh sáp than,
bắt đầu miết đều tay qua những dòng chữ Triện nổi cộm. Từng con chữ màu đen nhánh từ từ hiện hình trên nền giấy trắng: "Quỷ Thực Nê...", rồi đến "Đại Sư...".
Đột nhiên, đầu thanh sáp than vấp phải kẽ nứt lớn chạy ngang thân bia đá.
Tách.
Một âm thanh rất nhỏ vang lên, như thể tiếng vỏ trứng vỡ.
Từ sâu bên trong kẽ nứt tăm tối của phiến đá hoa cương gãy đôi, một vệt dịch lỏng màu đỏ sẫm bỗng trào ra. Thứ dịch này đặc quánh, bốc lên mùi tanh tưởi nồng nặc của máu tươi chưa đông, lẫn với mùi sắt rỉ sét và mùi tử khí hôi nồng.
Dòng dịch đỏ rỉ ra mỗi lúc một nhiều, thấm đẫm tấm giấy bản tôi đang dập dở, biến những dòng chữ Triện thành một màu đỏ nhờn nhợt ghê rợn. Rồi nó men theo những rãnh nứt của mặt đá, chảy ròng ròng xuống bãi bùn đen dưới chân tôi.
Chất dịch đỏ chạm vào lớp bùn non, lập tức sôi lên sùng sục. Bọt khí nổi lên lép bép, khói trắng mang mùi thịt thối bốc lên mù mịt.
- Dừng tay lại ngay!
-
- Thầy Trịnh gầm lên một tiếng kinh hoàng, đôi mắt mù trợn ngược
- Máu trấn yểm bị vỡ rồi! Mau lùi lại!
Tôi hoảng hốt buông thanh sáp than, định chống tay đứng bật dậy tháo lui.
Thế nhưng đã quá muộn.
Xung quanh chúng tôi, cả một vùng rừng mắm rộng lớn bỗng nhiên phát ra những âm thanh rào rào dữ dội. Hàng trăm, hàng ngàn nhánh rễ thở của cây sú vẹt đang cắm sâu dưới bùn bỗng rung bần bật,
uốn éo lay động một cách điên cuồng dù bầu trời không hề có lấy một gợn gió biển. Những chiếc rễ nhọn hoắt như những cánh tay xương xẩu cào cấu vào không khí, phát ra tiếng cọ xát ken két đến rợn cả gáy.
Dưới mặt đất, lớp bùn đen nhẫy cuộn trào lên như sóng biển. Bãi lầy lòng chảo sụp xuống một khoảng sâu, kéo theo tiếng ùng ục đinh tai nhức óc vang lên từ sâu thẳm lòng đất mẹ Lĩnh Nam.
Phiến bia đá hoa cương rung chuyển dữ dội rồi nứt toác thêm một đoạn dài. Ngay dưới kẽ nứt chân bia, lớp bùn đen đặc quánh bỗng xoáy tròn lại thành một cái phễu nhỏ.
Xoẹt!
Một bàn tay đen ngòm kết bằng bùn lầy đặc quánh bất thình lình trồi lên khỏi mặt đất.
Bàn tay ấy to lớn dị thường, da thịt nhầy nhụa bùn non và những sợi rễ cây mục nát bám chằng chịt. Năm ngón tay khẳng khiu, dài ngoằng với những móng tay nhọn hoắt bằng đá đen sắc lẹm xòe rộng ra trong không khí, tỏa ra một luồng khí lạnh buốt thấu xương tủy.
Không cho tôi kịp chớp mắt hay hét lên một tiếng, bàn tay bùn lầy nhầy nhụa ấy vồ tới với tốc độ kinh hồn, bấu chặt lấy cổ chân phải của tôi.
Những ngón tay bùn đặc quánh siết mạnh vào mắt cá chân tôi,
lạnh buốt như một tảng băng ngàn năm dí thẳng vào da thịt. Một lực kéo ngàn cân khủng khiếp từ dưới lòng sâu truyền lên, giật phăng cơ thể tôi ngã sấp xuống bãi sình, kéo mạnh cả người tôi lún sâu vào miệng hố bùn đen đang sủi bọt ngùn ngút dưới chân tấm bia đá.