Bùn Quỷ Thực - Chương 29: Văn Bia Cổ Dưới Lòng Sông
Ánh nắng quái buổi chiều tà rọi xiên qua những khe liếp nứa nứt nẻ, hắt lên sàn gỗ gác xép từng vệt đỏ quạch như vệt máu khô lâu ngày. Căn gác nhỏ trên…
Nội dung chương
Ánh nắng quái buổi chiều tà rọi xiên qua những khe liếp nứa nứt nẻ, hắt lên sàn gỗ gác xép từng vệt đỏ quạch như vệt máu khô lâu ngày. Căn gác nhỏ trên đỉnh nhà sàn của Thẩm Nguyệt Lăng ngột ngạt,
sực nức mùi giấy mục, mùi bồ hóng bám dầy trên các đòn tay và vị hăng nồng của ngải cứu phơi khô treo lủng lẳng dưới mái rạ. Mạng nhện giăng chằng chịt giữa các chồng hòm gỗ mục, mỗi lần gió thung lũng thổi luồn qua kẽ vách lại rung rinh nhè nhẹ.
Tôi ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu cói đã sờn mép,
đưa tay xoa nhẹ mu bàn tay phải. Vết bớt xám tro sau ba tiếng chiêng đồng đêm qua đã lặn bớt phần nào khí lạnh, nhưng lớp biểu bì vẫn ráp rụa, chai cứng, thỉnh thoảng lại nhói lên một cơn ngứa ngáy âm ỉ từ sâu tận trong xương tủy.
Nguyệt Lăng không thắp đèn dầu. Nàng quỳ gối trước một chiếc rương trắc đen sì có khóa đồng rỉ sét ở góc tường. Chiếc chìa khóa bằng bạc nhỏ xíu xoay nhẹ một tiếng "cạch" khô khốc. Từ trong đáy rương,
nàng cẩn thận nâng ra một bọc vải thô màu nâu sẫm, bốn góc đã tưa chỉ và loang lổ những vệt ố vàng của thời gian.
- Ngày mai anh rời Tương Tây để xuôi về phía nam rồi
- Nguyệt Lăng cất giọng, âm điệu trầm tĩnh xen lẫn sự dè dặt - Con đường anh sắp đi tới bến Tây Giang thuộc đất Lĩnh Nam,
chỗ đó là cội nguồn của mọi tai ương. Trước khi đi, anh cần phải đọc thứ này. Đây là bản thảo ghi chép của bà cố tôi, người từng tận mắt chứng kiến trận phong ấn năm Đinh Sửu.
Nàng đặt bọc vải thô lên mặt chiếc tráp gỗ mun kê giữa hai chúng tôi. Lớp vải mở ra,
để lộ một cuốn sổ chép tay dày chừng hai ngón tay. Bìa sách làm bằng vỏ cây dâu tằm ép chặt, góc dưới bên phải đã bị mối mọt gặm nham nhở, để lộ những đường chỉ bện bằng gân thú đã ngả sang màu xám xịt.
Mùi bùn non tanh tưởi bỗng nhiên xộc thẳng vào mũi tôi. Dù cuốn sổ đã nằm im lìm trong đáy rương hàng chục năm ròng, thứ mùi tử khí của đầm lầy vẫn bám chặt trên từng thớ giấy, lấn át cả hương thảo mộc chung quanh.
Tôi cẩn thận lật mở trang đầu tiên. Từng con chữ Hán chân phương viết bằng mực tàu đen nhánh hiện ra,
xen lẫn những dòng chú thích bằng mực chu sa đỏ rực. Chữ viết cứng cáp nhưng ở nhiều đoạn, nét bút run rẩy dữ dội, mực nhòe nhoẹt tựa hồ người viết vừa đặt bút vừa phải kìm nén cơn kinh hoàng tột độ.
Năm Đinh Sửu 1937, trời làm đại hạn ba năm ròng rã.
Trang viết đưa tôi quay ngược về khúc sông Tây Giang của gần một thế kỷ trước. Khi đó, giặc ngoại xâm bắt đầu tràn qua biên giới, khói lửa ngút trời, nhưng nỗi kinh hoàng lớn nhất giáng xuống đầu bách tính lại là nạn đói. Ruộng đồng nứt nẻ thành những rãnh sâu hoắm,
châu chấu bay rợp trời che kín cả mặt trời, cây cối rụng sạch lá, trơ trọi những cành khẳng khiu như xương người. Người dân ăn hết rễ cỏ, bóc sạch vỏ cây xoan dại, rồi đến xác chuột chết, da trâu thối cũng bị tranh cướp nhai ngấu nghiến.
Khi chẳng còn thứ gì bỏ vào miệng, dòng sông Tây Giang cạn trơ đáy bùn.
Ngón tay tôi khẽ run rẩy lật sang trang kế tiếp. Đoạn văn miêu tả bãi bùn Bồ Tầm khiến gáy tôi lạnh toát:
Nước rút, lòng lầy phơi ra thứ bùn dẻo quánh, đen nhánh như mỡ lợn thối.
Những kẻ đói lả bò lê lết xuống lòng sông, vục từng vốc bùn nhét vào mồm nuốt sống.
Thứ bùn ấy kỳ lạ thay, trơn tuột qua cuống họng, mang vị ngọt lợ của tủy xương người chết trôi.
Kẻ nào nuốt được ba vốc, bụng lập tức no căng, mắt trợn trừng đỏ quạch, gân xanh nổi chằng chịt khắp mặt.
Chúng không còn biết đau, không còn sợ chết, đêm đêm tụ tập gào thét đòi ăn đất.
Làng mạc đôi bờ Tây Giang biến thành bãi tha ma chỉ sau nửa mùa trăng.
- Quỷ Thực Nê phát tác từ đó
- Giọng Nguyệt Lăng vang lên đều đều bên tai tôi, nàng nhìn chăm chú vào những dòng chữ Hán cổ - Đói quá sinh cuồng, cuồng quá hóa quỷ. Đất bùn ở Bồ Tầm tích tụ âm khí của hàng ngàn xác người chết đuối qua nhiều triều đại,
gặp đúng lúc oán khí của nạn đói năm 1937 bốc lên ngút trời, liền hóa thành mầm mống tà tai. Kẻ ăn bùn không còn là người sống, nhưng cũng chưa phải là xác chết. Chúng trở thành những cái xác đói biết đi, cào cấu đất đai để lấp đầy cái bụng rỗng rách toác.
Tôi lật tiếp những trang sau. Mực son đỏ chói mắt bắt đầu xuất hiện dày đặc, vẽ lại những vòng tròn trận pháp và những ký tự cổ quái. Đó là phần ghi chép về cuộc vây bắt và trấn áp của các bậc thầy tâm linh vùng Lĩnh Nam thời bấy giờ.
Theo lời bà cố của Nguyệt Lăng chép lại, trước sự bùng phát không thể kiểm soát của bầy quỷ ăn bùn,
các Hương Bà Lĩnh Nam thuộc phái cổ thuật dân gian đã phải tề tựu về bờ Tây Giang. Họ mang theo tro trấu lấy từ chín ngôi chùa cổ, nước mưa đọng trên lá sen tháng bảy và hàng trăm xâu tiền đồng thời Càn Long để lập đàn tràng ngăn chặn thảm họa.
Nhưng bùa chú thông thường không chế ngự nổi thứ tà niệm sinh ra từ cơn đói khát cùng cực. Mỗi tấc bùn Bồ Tầm lúc ấy đều sôi sùng sục, phát ra tiếng thở phì phò của vạn linh hồn gào khóc.
Để kết thành "Huyết Chú Tru Tà", bảy vị Hương Bà già nhất đã phải ngồi quanh bờ vực lầy, dùng kim bạc đâm nát mười đầu ngón tay.
Máu tươi rỉ ra ròng ròng, nhỏ tí tách vào những chiếc bát sành chứa đầy chu sa và bột xương tro.
Họ dùng chính máu huyết của mình quết lên những dải vải trắng, buộc chặt quanh mép đầm để dựng thành kết giới cô lập bầy quỷ dữ.
Ba người trong số họ đã kiệt sức gục chết ngay trên đàn tế, máu từ ngón tay chảy cạn đến mức biến thành một dòng nước vàng trong suốt rồi tắt thở.
Đọc đến đây, lồng ngực tôi nghẹn lại. Tôi đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, ánh tà dương đã tắt ngấm, chỉ còn màn sương xám xịt từ hẻm núi trườn vào từng nóc nhà sàn bên dưới.
Trang sách tiếp theo bị rách mất một góc lớn, hình như người ghi chép đã run rẩy xé bỏ một vài chi tiết cấm kỵ. Nhưng phần văn tự còn sót lại vẫn đủ làm người đọc rợn tóc gáy. Đó là trang miêu tả về "Mắt Trận".
Trận pháp máu chỉ giữ được lớp vỏ bên trên. Lòng lầy sâu trăm trượng vẫn không ngừng đùn lên bùn sống. Bùn sống có linh tính,
nếu không có người cam tâm tình nguyện làm trụ sống cắm sâu vào tim đầm lầy, kết giới sẽ vỡ tan sau bốn mươi chín ngày, bầy quỷ đói sẽ tràn vào các đô thị lớn.
Một nét vẽ phác thảo sơ sài hiện ra giữa trang giấy. Đó là hình ảnh một người đàn ông trẻ tuổi,
thân hình mảnh khảnh, ngồi xếp bằng kiết già trên một chiếc bè gỗ mục thả trôi giữa vũng bùn Bồ Tầm. Quanh cổ người đó đeo một chuỗi hạt bằng xương trâu, hai bàn tay chắp chặt trước ngực, ngón trỏ và ngón cái bấm vào nhau tạo thành hình chữ đinh.
Bản chép tay ghi rõ:
Có người đệ tử trẻ tuổi bên đạo quán Tây Giang, tuổi vừa tròn đôi mươi, mang mệnh thuần dương.
Người ấy bước xuống lòng lầy lúc nửa đêm rằm tháng bảy.
Không một mảnh vải che thân ngoài dải bùa chu sa quấn chặt quanh thắt lưng.
Người ấy tự tay cắm chín chiếc cọc gỗ dâu vào chín huyệt đạo trên thân thể mình, rồi từ từ chìm sâu vào bùn đen.
Bùn ngập mắt cá, ngập đầu gối, ngập đến ngực.
Đến khi bùn trùm kín đỉnh đầu, trên mặt đầm chỉ còn nhô lên hai bàn tay chắp chặt, bất động như đá tảng.
Nhờ có thân xác thuần dương ấy làm vật tế trấn yểm, bãi bùn Bồ Tầm mới tạm thời phẳng lặng, đóng thành một lớp váng xám xịt như tro tàn.
Tôi sững sờ ngẩng đầu lên, nhìn chằm chằm vào Nguyệt Lăng:
- Người này... người pháp sư trẻ tuổi này là ai? Bản thảo có ghi tên của anh ta không?
Nguyệt Lăng khẽ lắc đầu, ánh mắt nàng thảng thốt nhìn vào khoảng tối nơi góc gác:
- Bà cố tôi không ghi tên.
Trong các dòng họ trừ tà Lĩnh Nam năm ấy, danh tính của người hiến tế luôn bị xóa bỏ khỏi gia phả để tránh cho vong hồn bị con cháu thương khóc mà sinh lòng vương vấn trần gian.
Nhưng theo lời bà cố truyền khẩu lại cho mẹ tôi trước lúc lâm chung, người thanh niên đó mang họ Trần, vốn là truyền nhân duy nhất của một môn phái luyện bùn cổ xưa ở vùng phụ cận Vọng Ngưu Đôn.
Cái tên Vọng Ngưu Đôn đập mạnh vào tâm trí tôi. Đó chính là thị trấn ven sông mà tôi dự định sẽ đặt chân tới đầu tiên khi về đất Quảng Đông.
- Có điều này tôi phải nói rõ để anh hiểu
- Nguyệt Lăng nghiêng người tới trước, giọng nói đanh lại đầy vẻ cảnh báo - Nhiều kẻ hậu thế cứ lầm tưởng Quỷ Thực Nê là một loài yêu ma cụ thể, hoặc một con quỷ độc nhất có hình hài nanh vuốt.
Họ hoàn toàn sai lầm.
Quỷ Thực Nê không đơn thuần là tà ma thông thường.
Nó là một bọc oán hận khổng lồ, là sự kết tinh u uất của hàng vạn sinh linh chết đói không manh chiếu rách chôn thân trong mùa binh lửa 1937.
Cơn đói của họ quá sâu dày, không siêu thoát nổi, tụ lại thành một khối ý chí tà ác bám chặt vào thổ nhưỡng ven sông.
Vết bớt trên tay anh chính là một mẩu nhỏ của khối ý chí ấy.
Nếu anh không cẩn thận, nó sẽ đồng hóa anh, biến anh thành kẻ tiếp theo nhảy xuống đầm lầy để lấp đầy cơn đói vĩnh hằng kia.
Lời của Nguyệt Lăng như một tảng đá đè nặng lên ngực tôi. Tôi cúi xuống nhìn lại vết bớt xám tro. Giờ đây tôi hiểu rằng thứ đang bám trên da thịt mình không phải một vết thương đơn giản,
mà là một món nợ máu từ quá khứ, một mảnh vụn của nạn đói kinh hoàng năm Đinh Sửu đang đòi hỏi sự trả giá.
Tôi với tay lấy cuốn sổ tay bìa da và chiếc bút máy kim tinh từ trong ba lô tác nghiệp đặt lên sàn.
- Tôi có thể chép lại các sơ đồ ấn chú này không?
-
- Tôi hỏi Nguyệt Lăng, ngón tay chỉ vào những nét vẽ bằng mực son hình chữ bát quái biến thể ở các trang cuối.
Nguyệt Lăng gật đầu:
- Chép đi. Đó là "Chỉ Huyết Hộ Thân Phù" của dòng họ Thẩm chúng tôi, dùng để áp chế tà khí khi anh phải đối mặt trực tiếp với bùn sống. Khi gặp nguy hiểm,
cắn đầu ngón tay giữa, dùng máu vẽ lại chín đường nét này lên lòng bàn tay trái, tà khí sẽ tạm thời không thể xâm nhập vào tim mạch. Nhưng nhớ kỹ, nó chỉ mua thêm cho anh một tuần hương để tháo chạy, không thể tiêu diệt được gốc rễ của thứ bùn ấy đâu.
Tôi mở trang giấy trắng tinh trong cuốn sổ tay phóng viên, hít một hơi sâu rồi bắt đầu dùng bút máy cẩn thận sao chép từng đường nét cổ xưa.
Mỗi nét mực đen vạch xuống trang giấy đều mang theo một cảm giác nặng trĩu. Tôi vẽ lại hình thù chiếc hũ đồng phong ấn,
vẽ lại vị trí chín chiếc cọc gỗ dâu găm vào cơ thể vị pháp sư trẻ tuổi, và ghi chép chi tiết từng loại thảo dược dùng để khử mùi bùn non. Nét bút của tôi cào sột soạt trên mặt giấy, phá vỡ sự im ắng ngột ngạt của căn gác trọ.
Trong lúc cặm cụi ghi chép, ngón tay tôi bỗng chạm vào phần lề giấy của trang cuối cùng trong bản chép tay cổ. Nơi đó, nét bút son đã mờ nhạt ghi thêm một dòng chữ nhỏ li ti, hình như được viết vội vã sau ngày đại nạn kết thúc:
Trận đồ trấn yểm bằng cốt nhục người sống chỉ có hạn định chín mươi năm. Năm thứ chín mươi,
váng bùn nứt toác, xương cốt tan rữa, oán khí trùng trùng sẽ trồi lên tìm lại kẻ mang dòng máu năm xưa. Đến kỳ hạn ấy, người canh giữ mắt trận sẽ tỉnh giấc trong lòng bùn lạnh.
Tôi ngừng bút, mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng trong lồng ngực.
Năm 1937. Chín mươi năm sau. Mốc thời gian ấy đang tiến đến rất gần với thực tại.
Tôi ngước mắt nhìn Nguyệt Lăng. Nàng hình như cũng nhận ra điều tôi vừa đọc được. Đôi môi nàng mím chặt, đôi mắt thâm trầm phản chiếu bóng tối đang đặc quánh lại xung quanh.
- Duyên nợ đã định, không trốn tránh được đâu
- Nguyệt Lăng khẽ thở dài, đưa tay gấp cuốn sổ chép tay bằng vải thô lại rồi cẩn thận buộc chặt bằng dải gân thú - Mẹ tôi từng dặn,
khi người có duyên mang vết bớt xuất hiện, tức là thời khắc phong ấn lung lay đã cận kề. Chuyến đi này của anh về Quảng Đông không đơn giản chỉ là đi tìm tư liệu báo chí nữa rồi.
Tôi khép cuốn sổ tay của mình lại, gài chiếc bút máy vào nẹp áo. Trọng lượng của cuốn sổ trong túi ngực lúc này nặng tựa nghìn cân. Những mẩu tin vụn vặt về truyền thuyết dân gian mà tôi từng săn lùng trước đây bỗng chốc trở thành một bức tranh tăm tối,
đẫm máu và bi tráng của cả một thế hệ đã chìm sâu dưới bùn lầy lịch sử.
Gió đêm bắt đầu nổi lên dữ dội ngoài thung lũng,
đập thình thình vào mái liếp nứa của căn gác xép. Tiếng rên rỉ của rừng cây phía xa vọng lại như thể tiếng than khóc của vạn linh hồn đói khát năm nào vẫn chưa thể siêu thoát, đang kiên nhẫn chờ đợi bên bờ con sông lớn ngoài kia.