Bùn Quỷ Thực - Chương 15: Lão A Ngưu Kể Lại Năm Đinh Sửu
Gió sớm thổi qua sườn gò Trâu Nằm mang theo hơi lạnh buốt giá của đầm lầy. Tôi bước đi khó nhọc trên con đường mòn phủ đầy sương muối trắng bợt, hai ống…
Nội dung chương
Gió sớm thổi qua sườn gò Trâu Nằm mang theo hơi lạnh buốt giá của đầm lầy. Tôi bước đi khó nhọc trên con đường mòn phủ đầy sương muối trắng bợt,
hai ống quần ướt sũng nước bùn lạnh ngắt bết chặt vào cẳng chân. Sau một đêm dài thức trắng lắng nghe những tiếng thở than ai oán của người chết đói năm một chín ba bảy, toàn thân tôi nặng trĩu như đeo chì, đầu óc căng lên từng cơn đau nhức buốt.
Ven mép nước xám xịt dẫn về phía làng cũ, ngôi đình cổ thôn Vọng Ngưu Đôn nằm phế tích giữa bãi đất hoang.
Mái đình sụp đổ phân nửa, những vì kèo gỗ lim mục ruỗng gãy gập chúc đầu xuống đất nứt nẻ.
Mùi vôi vữa rữa nát quyện với mùi tanh nồng của bùn lầy bốc lên nồng nặc trong không khí đặc quánh buổi tàn canh.
Cạnh bờ tường đổ của tả vu đình, một cây đa cổ thụ đứng sừng sững trơ trọi, những chùm rễ phụ to bằng bắp đùi thả thẳng từ cành cao cắm sâu vào lớp bùn nhão dưới chân.
Tôi tiến lại gần gốc đa định tìm một mỏm đá khô ráo ngồi nghỉ chân, tiện tay phủi lớp sương muối đóng thành màng xám trên vai áo khoác.
Dưới bóng rễ đa chằng chịt bện vào nhau như thể một chiếc lồng giam tự nhiên, một bóng người đang ngồi thu lu trên một tảng đá rêu phong.
Đó là một bà cụ già nua, mái tóc bạc phơ xơ xác như búi cỏ khô xõa ngang vai.
Lưng cụ còng rạp xuống, hai đầu gối nhô cao sau lớp vải áo vá chằng vá đụp bằng nhiều mảnh bao tải gai thô ráp.
Hai bàn tay khẳng khiu như cành củi gãy run rẩy nâng niu một chiếc bát sành màu da lươn nứt toác phân nửa, miệng bát sứt mẻ nham nhở để lộ phần xương gốm màu đỏ quạch.
Tôi đứng khựng lại bên rìa tán cây, bàn tay siết chặt quai đeo ba lô.
Bà cụ không hề ngước lên, nhưng tiếng thở dốc nghẹn ngào từ lồng ngực lép kẹp của cụ vẫn đều đặn phả ra từng luồng khí trắng đục giữa nền trời mờ tối. Hai hốc mắt cụ trũng sâu hoắm,
bên trong không có tròng mắt đen mà bị bao phủ bởi một màng thịt đỏ lòm đóng vảy, rỉ ra những giọt máu thâm đen đã khô quắt dọc hai bên gò má gầy guộc.
- Cháu đói không... Lại đây với bà... Nồi nước vừa sôi...
Tiếng thì thầm khàn đặc cất lên, thô ráp và kẽo kẹt y hệt tiếng hai cành cây khô cọ xát vào nhau trong cơn gió bấc. Giọng nói mang đậm âm sắc địa phương của vùng đồng bằng Lĩnh Nam pha tạp chút giọng ríu lưỡi của người xứ Tương Bắc.
Cụ bà Bảy khẽ cựa mình, những khớp xương ngón tay gầy guộc run rẩy vuốt ve thành chiếc bát sành mẻ. Những ngón tay của cụ cụt mất hai đốt ở ngón trỏ và ngón giữa, đầu ngón tím tái vì từng bị hoại tử do ngâm nước lạnh lâu ngày:
- Mùa giáp hạt năm ấy... Trời làm hạn rồi lại đổ nước lụt... Lúa ngoài đồng chưa kịp trổ bông đã ngập úng thối rữa dưới bùn... Trong chum không còn một hạt thóc lép,
trên giàn bếp không còn một cọng rơm khô dính cám... Nhà bà có năm đứa nhỏ... Ba đứa cháu nội, hai đứa cháu ngoại... Đứa lớn nhất vừa lên mười, đứa nhỏ nhất hãy còn ẵm ngửa trên tay mẹ nó... Nhưng mẹ chúng nó bỏ đi biệt tích từ hồi đầu đông...
Cụ Bảy ngừng lại, cánh môi mỏng dính nứt nẻ giật giật. Cụ đưa chiếc bát sành lại gần mũi hít hà một hơi dài, dù trong lòng bát rỗng tuếch, chỉ đọng lại một chút bùn đen quánh:
- Đói...
Cái đói nó cào từ trong ruột cào ra...
Đêm nào năm đứa nhỏ cũng nằm chen chúc trên manh chiếu rách đắp chung một mảnh bao tải...
Chúng nó khóc ngằn ngặt vì xót ruột...
Tiếng ruột réo sùng sục át cả tiếng gió lùa qua khe liếp...
Đứa lớn cắn chặt ngón tay đến bật máu để khỏi phải kêu...
Đứa nhỏ thì ngậm lấy vú bà mà mút...
Nhưng bà già rồi, ngực khô kiệt từ mấy chục năm trước, làm gì có lấy một giọt sữa...
Nó mút đến rách cả da thịt, chỉ ra nước vàng tanh tưởi...
Những hồi ức tang thương năm 1937 tuôn ra từ khóe miệng rỉ máu của cụ bà Bảy,
từng câu từng chữ đè nặng lên không gian hoang phế của ngôi đình cổ. Tôi bước lại gần thêm một bước, lắng tai ghi nhận từng thanh âm run rẩy đang tái hiện lại tấn bi kịch tột cùng của một gia đình nông dân thời loạn lạc.
Cụ Bảy ngả đầu vào thân rễ đa xù xì, giọng cụ chùng xuống, cay đắng và nghẹn uất:
- Sang tháng hai, đến vỏ cây xoan, vỏ cây đa ngoài cổng làng cũng bị người ta dùng liềm cạo sạch trơn trơ gốc trắng nham nhở.
Đất bùn non ngoài bãi Bồ Tầm thì thằng Cả thằng Hai cấm chỉ không cho các em đụng vào...
Ai ăn bùn vào bụng cũng trương phềnh lên rồi chết nấc...
Bà không đành lòng nhìn đàn cháu chết đau đớn như thế...
Bà chống gậy lội ra mé đầm sâu...
Nơi lớp bùn đen thối rữa dưới rặng cây dại...
Bà tìm rễ cỏ đuôi chuột...
Bàn tay cụ run rẩy mô phỏng lại động tác cào bới. Những móng tay cụ gãy cụt, bám đầy bùn đen khô cứng:
- Cỏ đuôi chuột mọc chìm dưới chân nước độc, rễ nó dài ngoằng, đen đúa và đắng nghét... Người làng đều biết rễ thứ cỏ ấy có độc,
trâu bò ăn phải trúng độc sùi bọt mép lăn đùng ra chết sau nửa ngày... Nhưng luộc kỹ thì chất đắng phai bớt... Bà nghĩ bụng, luộc cho mềm ra, nấu thành một nồi canh sền sệt cho chúng nó ấm bụng... Dù sao cũng có cái lót dạ qua đêm rét căm căm...
Gió sớm thổi mạnh làm rung chuyển những cành đa khẳng khiu bên trên. Một đàn quạ đen từ rặng rộc phía sau đình vỗ cánh bay vút lên trời cao, phát ra những tiếng kêu quang quác thê thảm xé toạc màn sương muối dày đặc.
Ký ức của cụ Bảy dần bước vào thời khắc nghiệt ngã nhất:
- Chiều hôm ấy, trời đổ mưa phùn lạnh thấu xương. Bà gom mấy nhánh củi mục ven đình, nhóm bếp sau chái nhà dột nát. Chiếc nồi đất sứt quai được đặt lên kiềng ba chân. Bà thả nắm rễ cỏ đuôi chuột vừa rửa qua nước đục vào trong,
đổ ngập nước rồi đun... Nước trong nồi sôi ùng ục, nổi lên từng tảng bọt dày màu xanh lè nhờn nhợt, bốc lên mùi hăng hắc nồng nặc đến nghẹt thở...
Cụ bà Bảy nâng chiếc bát vỡ lên ngang ngực, đôi vai gầy rung lên bần bật:
- Nghe thấy tiếng nước sôi, năm đứa trẻ đang nằm thoi thóp trên giường bỗng mở mắt...
Mắt đứa nào đứa nấy sáng quắc lên như mắt loài thú hoang tìm thấy miếng mồi...
Chúng nó bò lê dưới đất, lết từng đứa một về phía bếp lửa...
Đứa bò trước kéo đứa bò sau...
Đứa nhỏ nhất không bò nổi thì khóc thét lên, giơ hai bàn tay khẳng khiu như que củi về phía bóng lưng bà...
Chúng nó bu quanh chân bà, bám lấy gấu quần rách của bà mà giật...
Bà ơi, canh chín chưa bà?
Cháu đói quá...
Cho cháu xin một húp nước thôi..."
Những giọt nước mắt hòa lẫn máu tươi từ khóe mắt mù lòa của cụ bà rỏ xuống, rơi lộp bộp vào lòng chiếc bát sành nứt:
- Bà múc canh ra bát sành...
Canh đắng nghét, chát xót cả lưỡi...
Bà thổi cho nguội bớt rồi đưa cho thằng Cả...
Nó bưng bát húp ừng ực từng ngụm lớn, vừa nuốt vừa ho sặc sụa vì chất nhựa cay xé họng...
Rồi đến cái Hai, thằng Ba, con Tư...
Chúng nó tranh nhau giằng lấy chiếc bát sành từ tay nhau, vét từng giọt nước canh xanh lè dính nơi đáy bát...
Đứa nhỏ nhất được bà dùng ngón tay chấm từng giọt đút vào miệng...
Nó nuốt lấy nuốt để như nuốt cam lộ...
Năm đứa trẻ uống sạch cả một nồi nước độc...
Bụng chúng nó lần đầu tiên sau hai tháng trời được căng lên...
Chúng nó mỉm cười với bà, rồi ôm nhau nằm ngủ ngay bên cạnh tro bếp ấm...
Giọng nói của cụ Bảy bỗng ngưng bặt. Hơi thở của cụ dồn dập, đứt quãng thành từng tiếng rít chói tai phát ra từ cuống họng khô khốc.
- Nhưng chưa đầy nửa khắc sau... Độc ngấm vào ruột gan...
Thân hình già nua của cụ run bắn lên, hai cánh tay co quắp lại như đang cố ôm lấy những sinh linh bé nhỏ vào lòng:
- Thằng Cả bỗng ôm bụng thét lên một tiếng man dại rồi ngã vật ra sàn đất...
Cả người nó co giật dữ dội, hai mắt trợn ngược lên trần nhà...
Tiếp theo là cái Hai, rồi thằng Ba...
Lục phủ ngũ tạng của chúng nó bị chất độc cắn xé tơi bời...
Chúng nó không kêu thành tiếng được nữa, chỉ còn những tiếng rên hừ hừ trong cổ họng...
Chúng nó lăn lộn trên nền đất, cào cấu móng tay vào ngực áo rách đến toác cả da thịt...
Máu đen đặc quánh trào ra từ khóe miệng, từ hai lỗ mũi, trào ra cùng với những bãi bùn đất nhão nhoét mà chúng nó từng lén nuốt mấy ngày trước...
Cụ Bảy gục đầu xuống gối, hai bàn tay cụt ngón cào mạnh vào lớp vỏ đa xù xì:
- Bà mù lòa... Bà không nhìn thấy gì cả... Bà chỉ nghe thấy tiếng chúng nó đập đầu vào vách đất... Tiếng chúng nó thở hắt ra từng cơn... Bà quờ quạng hai tay trên sàn nhà lạnh ngắt,
chạm vào đứa nào thì đứa đó đang giãy chết... Thân thể chúng nó lạnh dần, cứng đờ lại dưới bàn tay bà... Đứa nhỏ nhất tắt thở trên đùi bà, miệng vẫn còn ngậm chặt ngón tay cụt của bà không chịu nhả... Cả năm đứa... Cả năm đứa cháu của bà... Chết sạch trong một đêm...
Nỗi thống khổ ngưng đọng thành một bức màn vô hình bóp nghẹt lấy lồng ngực tôi. Tôi lặng im đứng trước vong linh người bà tội nghiệp,
thấu hiểu đến tận cùng sự tàn khốc mà nạn đói năm 1937 đã giáng xuống những phận người nhỏ bé nơi vùng quê Lĩnh Nam này. Sự đói khát đã tước đoạt đi sự sống, biến tình thương ruột thịt thành một lưỡi dao oan nghiệt.
Cụ Bảy bỗng ngẩng phắt đầu dậy. Gương mặt đầy máu của cụ hướng thẳng về phía tôi, đôi môi mỏng run rẩy hé mở:
- Nhưng bà không muốn giết chúng nó...
Có người đã chỉ đường cho bà...
Trước hôm đó ba ngày, có một người đàn ông mặc áo chàm Tương Tây đi ngang qua cổng làng...
Người đó xách theo một chiếc đãy vải thêu hình bùa bát quái, tay cầm chuông đồng lắc từng tiếng lạnh buốt...
Hắn nhìn thấy đàn cháu bà đang nằm chờ chết bên vệ đường, bèn ghé tai bà bảo...
Bùn dưới đầm Bồ Tầm sắp trỗi dậy ăn hồn
Nếu để lũ trẻ chết vì nuốt bùn, hồn phách chúng sẽ vĩnh viễn bị giam cầm dưới đáy đầm lầy làm nô lệ cho quỷ dữ...
Chi bằng hái rễ cỏ đuôi chuột về đun canh cho chúng uống...
Chết vì cỏ độc thì hồn còn nguyên vẹn, ra đi thanh thản trong giấc ngủ..."
Lời kể của cụ Bảy khiến tôi rùng mình chấn động.
Dấu vết của thuật sĩ Tương Tây lại một lần nữa xuất hiện.
Mảnh ngói yểm bùa hình ngọn lửa bị trói dưới đáy bếp mụ Cả Lý, và giờ đây là lời xúi giục tàn nhẫn đẩy một người bà mù lòa vào cảnh ngộ tự tay đầu độc đàn cháu vô tội.
Kẻ thủ ác năm 1937 đã tính toán từng bước, lợi dụng sự tuyệt vọng cùng cực của con người để gieo rắc cái chết hàng loạt theo những nghi thức tế lễ tà đạo man rợ.
- Hắn lừa bà... Hắn lừa một mụ già mù lòa...
-
- Giọng cụ Bảy gầm lên thê thiết, hai hốc mắt cụ trào ra hai dòng huyết lệ đỏ thẫm
- Chúng nó chết trong đau đớn quằn quại chứ có thanh thản gì đâu...
Oán khí của năm đứa trẻ bốc lên nghi ngút...
Khi chúng nó vừa tắt thở, gã áo chàm kia lại xuất hiện...
Hắn dùng chuông đồng gom lấy từng luồng khói đen bốc ra từ miệng lũ trẻ...
Hắn cười sằng sặc rồi biến mất vào màn mưa...
Còn bà...
Bà ôm xác năm đứa cháu đến khi thịt da chúng thối rữa thành bùn...
Rồi bà cũng đập đầu vào gốc đa này mà chết...
Cụ Bảy từ từ nâng chiếc bát sành nứt toác bằng cả hai tay, run rẩy vươn về phía tôi:
- Canh ấm lắm cháu ơi... Uống một húp đi cho ấm bụng... Đừng để bùn non ngoài đầm nó nuốt mất hồn... Uống đi cháu...
Bát sành đưa đến sát trước mặt tôi. Bên trong lòng bát bỗng trào dâng một thứ nước sền sệt màu xanh đen sủi bọt lục bục, bốc lên mùi hăng nồng của rễ cỏ thối và mùi máu tanh tưởi.
Tôi lùi lại nửa bước, chắp hai tay trước ngực cúi đầu thật sâu:
- Cụ Bảy, năm đứa nhỏ đã siêu thoát khỏi cơn đói khát năm ba bảy rồi. Oán thù của cụ và dân làng, cháu sẽ ghi chép lại từng dòng, trả lại công lý cho những người đã khuất dưới bùn lầy.
Lời nói của tôi vừa dứt, một cơn gió sớm từ mé sông Tây Giang thổi thốc qua khuôn viên ngôi đình phế tích.
Bóng hình cụ bà Bảy mờ dần trong làn gió lạnh. Nụ cười méo mó đầy đau xót đọng lại trên gương mặt nhăn nheo trước khi toàn bộ thân thể cụ tan loãng thành một làn sương xám nhạt, hòa quyện vào những chùm rễ đa cổ thụ rồi biến mất không còn tăm tích.
Choảng!
Tiếng gốm sứ vỡ vụn vang lên sắc lẹm trên nền đất nện.
Chiếc bát sành màu da lươn rơi từ trên không trung xuống mỏm đá bên dưới, vỡ toác thành nhiều mảnh vụn. Trong số những mảnh vỡ văng tung tóe dưới gốc đa, một mảnh gốm cổ hình tam giác cắm phập sâu vào lớp bùn nhão.
Tôi bước lại gần, ngồi xổm xuống xem xét mảnh gốm vừa rơi xuống.
Trên bề mặt cong cong của mảnh bát sành,
một dòng chất lỏng màu đỏ tươi như máu sống từ từ ứa ra từ các thớ gốm nứt nẻ, chảy tràn xuống mặt bùn tanh tưởi. Dòng máu ấy không hề đông lại mà rỉ ra ngày một nhiều, đỏ rực như chu sa tươi vừa mài trên nghiên đá.
Bỗng nhiên, từ bên trong túi ngực áo khoác của tôi, một luồng nhiệt lượng dữ dội bùng phát.
Mảnh ngói vỡ mang phù chú chu sa phong ấn hỏa thực mà tôi lấy từ đáy bếp lò của mụ Cả Lý bắt đầu rung chuyển kịch liệt.
Nhiệt độ tăng vọt trong tích tắc khiến lớp vải áo bên ngực trái tôi nóng ran lên như bị một hòn than đỏ dí chặt vào da thịt.
Mùi khét lẹt của sợi vải cháy âm ỉ bốc lên nồng nặc trong màn sương sớm buốt giá.