Bùn Quỷ Thực - Chương 13: Vành Khăn Tang Trắng Trên Đường Làng

Gió đêm thổi ràn rạt qua vạt rừng trúc phía sau, dập dồn xô vào những bức vách đất trơ trọi của gian nhà bỏ hoang. Ngôi nhà nằm tách biệt hẳn với trục…

Nội dung chương

Gió đêm thổi ràn rạt qua vạt rừng trúc phía sau,

dập dồn xô vào những bức vách đất trơ trọi của gian nhà bỏ hoang. Ngôi nhà nằm tách biệt hẳn với trục đường chính của thôn Vọng Ngưu Đôn, nép mình sát mép đầm lầy, mái rạ sụp một nửa để lộ những rui mè gãy vụn chìa ra tua tủa giữa nền trời đặc quánh.

Tôi nhấc cây đèn bão lên cao, dịch từng bước thận trọng qua khoảng sân lầy lội đầy cỏ gai. Bùn dưới đế ủng dính chặt lấy từng bước đi, nặng trịch và phát ra những tiếng bì bõm nhớp nháp.

Cánh cửa liếp đan bằng nứa của chái bếp đã mục nát hoàn toàn, xiêu vẹo rũ xuống và chỉ còn dính lại trên khung bao nhờ một sợi dây mây khô giòn.

Tôi giơ tay đẩy nhẹ, cánh liếp phát ra tiếng kêu cọt kẹt rợn cả gáy rồi rơi tuột xuống nền đất, vỡ tan thành những mảnh dăm xơ xác.

Ngay khi cánh liếp đổ xuống, một luồng khí ẩm mốc ngột ngạt xộc thẳng vào cánh mũi tôi.

Mùi ẩm lạnh của rạ mục quyện chặt với mùi tanh tưởi của bùn ứ đọng nhiều năm dưới móng nhà, tạo nên một thứ xú khí lợm giọng làm lồng ngực tôi thắt lại.

Tôi bước qua bậu cửa sứt sẹo.

Chái bếp này tối tăm và chật hẹp, diện tích chưa đầy mười thước vuông. Sương đêm luồn qua những mảng mái rạ thủng lỗ chỗ, rỏ từng giọt buốt giá xuống sàn đất nện nghe tong tỏng. Ở góc bếp,

chiếc chạn bát bằng tre dựng sát vách đất đã mủn mục, những mảnh sành vỡ của bát đĩa thời xưa nằm ngổn ngang, phủ một lớp rêu xanh nhờn nhợt. Gian bếp hoàn toàn lạnh ngắt, không có hơi ấm của con người, chỉ có thứ lạnh giá chết chóc ngấm sâu vào từng thớ đất.

Tôi đặt cây đèn bão lên bệ đá cạnh cửa, ánh lửa vàng vọt lập lòe hắt những vệt sáng run rẩy lên lòng bếp lò đắp bằng đất sét ở chính giữa gian phòng. Bếp lò đã nguội tanh tự bao giờ, tro tàn bên trong đóng lại thành từng tảng xám xịt, cứng đơ như đá.

Tôi tháo ba lô, rút máy ghi âm và cuốn sổ tay bìa da đặt cẩn thận trên một phiến đá tương đối khô ráo. Ngón tay tôi vừa bấm nút khởi động máy ghi âm thì tai tôi chợt bắt được một âm thanh lạ lùng.

Tách. Lách tách.

Tiếng nổ giòn tan vang lên rất khẽ, giống hệt âm thanh của những nhánh củi khô bắt lửa.

Tôi nín thở nhìn trừng trừng vào bếp lò. Bếp hoàn toàn không có lấy một đốm lửa, miệng lò đen ngòm và lạnh buốt,

nhưng tiếng lách tách vẫn tiếp tục nổ đều đặn, mỗi lúc một dồn dập hơn. Cùng với âm thanh đó, một làn khói mỏng màu xám đục từ từ bốc lên từ kẽ nứt của bệ đất nung, mang theo mùi khét lẹt của lông tóc và mỡ ôi bị thiêu cháy.

Dưới ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn bão, một bóng đen còng queo bắt đầu ngưng tụ bên cạnh góc chạn bát vỡ.

Cái bóng ấy ngồi thu lu, hai đầu gối nhô cao chạm cằm, toàn thân co quắp run rẩy từng hồi. Khi làn khói xám dạt qua bệ bếp, hình hài của một bà lão hiện rõ dần trước mắt tôi. Mụ mặc chiếc áo bông vá chằng vá đụp bằng những mảnh vải ba thô ráp,

lưng còng rạp xuống đến mức phần gáy gần như gập vuông góc với sống lưng. Hai bàn tay mụ thâm sì, những ngón tay gầy guộc chỉ còn da bọc xương, móng tay bám đầy những vệt đen cáu bẩn.

Kinh hoàng nhất là gương mặt mụ. Lớp da mặt nhăn nheo dúm dó như vỏ cây khô,

hai hốc mắt sâu hoắm chỉ trơ ra một màu trắng đục dại dại. Quanh khóe miệng móm mém của mụ, từng vệt bùn đen quánh nhờn vẫn còn bám chặt, rỉ ra những giọt nước nhầy nhụa rơi xuống ngực áo.

Đó là mụ Cả Lý, người đàn bà năm xưa chết thảm trong chính chái bếp này vào những ngày cuối cùng của mùa đông năm 1937.

Mụ Cả Lý không nhìn tôi. Cả thân hình mụ run bần bật, mười đầu ngón tay co quắp bắt đầu cào cấu điên cuồng vào lòng bếp lò. Mụ bới tung những tảng tro tàn lạnh ngắt,

mặc cho tro bụi xám xịt bay mù mịt quanh thân thể. Móng tay mụ miết trên nền gạch nung phát ra những tiếng ken két chói tai, như thể mụ đang tuyệt vọng tìm kiếm một vật gì đó đã bị chôn vùi từ kiếp trước.

- Đâu rồi... giấu ở đâu rồi...

-

- Giọng mụ rít qua kẽ răng móm mém, khàn đặc và the thé như tiếng kim loại cào vào đá nhám

- Thịt của tao... mẩu thịt của tao đâu rồi...

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt, bước lên nửa bước, giữ cho giọng mình bình tĩnh hết mức:

- Mụ Cả Lý, mụ đang tìm cái gì dưới tro?

Nghe thấy tiếng tôi, động tác cào bới của mụ đột ngột khựng lại. Mụ ngẩng phắt đầu lên, chiếc cổ khẳng khiu phát ra tiếng lục cục khô khốc. Đôi mắt trắng dã hướng thẳng về phía tôi, nhưng ánh nhìn hoàn toàn trống rỗng, chứa đầy sự điên loạn và hối hận tột cùng.

- Cậu là ai?

-

- Mụ the thé hỏi, nước dãi lẫn bùn đen ứa ra khóe môi

- Cậu đến cướp thịt của tao phải không? Không có đâu! Tao giấu kỹ lắm... tao nhét sâu trong hốc bếp này... không ai tìm được đâu!

Nói xong câu đó, mụ bỗng nhiên ôm lấy đầu, giộng trán chan chát vào bức vách đất bên cạnh. Cú va đập mạnh đến nỗi vôi vữa và rơm mục từ vách tường rơi lả tả xuống sàn.

- Tội nghiệt... tội nghiệt trút xuống đầu tao rồi trời đất ơi!

-

- Mụ gào lên, tiếng khóc nghẹn lại trong cuống họng đặc bùn

- Đêm mùa đông năm đó... tuyết rơi buốt xương... Cái nhà này chết gần hết, chỉ còn tao với con cháu dâu với đứa chắt mới sinh...

Mụ dừng lại, hai tay ôm chặt lấy ngực, toàn thân run rẩy theo từng nhịp nấc nghẹn ngào.

Ký ức của năm 1937 ùa về qua lời kể đứt quãng của hồn ma đói.

Năm ấy, giặc giã và hạn hán biến cả vùng Lĩnh Nam thành địa ngục trần gian. Cây cỏ ngoài đồng bị bứt sạch, vỏ cây trên đồi bị bóc trơ trụi, người ta ăn đến cả rễ tranh và đất trắng. Trong căn nhà đất này,

người chết nối tiếp người chết. Con trai mụ gục ngoài bờ đầm, con dâu chết rét ngoài ngõ. Trong chái bếp chỉ còn lại ba mạng người thoi thóp: mụ Cả Lý, đứa cháu dâu vừa qua tuổi đôi mươi và đứa chắt sơ sinh còn chưa kịp đặt tên.

Đứa trẻ khóc ngặt nghẽo vì bà mẹ cạn sạch sữa,

bầu ngực teo tóp chỉ còn lớp da nhăn nheo rớm máu vì con cắn. Đứa cháu dâu nằm liệt trên manh chiếu rách dưới chân cột bếp, đôi mắt trũng sâu nhìn mụ Cả Lý cầu xin một ngụm cháo loãng hay một mẩu củ mài để cứu đứa bé.

Nhưng mụ Cả Lý lúc đó có một bí mật.

Hai ngày trước, mụ nhặt được một miếng thịt ôi thiu từ xác một con vật chết thối trôi dạt vào mé rừng trúc. Trong cơn đói điên cuồng làm mờ mắt nhân tính,

mụ không dám đem nấu công khai vì sợ đứa cháu dâu nhìn thấy sẽ đòi chia cho đứa chắt. Mụ bọc mẩu thịt hôi thối vào một chiếc lá chuối khô, nhét sâu vào một hốc gạch khuất sau bệ lò nung, phủ tro lạnh lên che giấu kỹ lưỡng.

Mụ quyết định giữ mẩu thịt ấy cho riêng mình, để chờ một mình sống sót qua nạn đói.

- Tao nghe thấy tiếng đứa chắt khóc...

-

- Mụ Cả Lý vừa khóc vừa đập hai bàn tay gầy trơ xương xuống đất

- Nó khóc yếu dần... yếu dần rồi chỉ còn rên ư ử như con mèo con. Con cháu dâu tao lết đến ôm lấy chân tao, nó dập đầu chảy cả máu trán... Nó van tao: "Bà ơi, bà cứu lấy thằng bé, nhà mình còn gì ăn được không bà..."

Tao nhẫn tâm lắm... tao quay mặt đi... tao bảo trong nhà hết sạch rồi, đến nắm tro cũng chẳng còn mà nuốt...

Đêm đông năm ấy rét căm căm. Gió bấc rít qua khe liếp như tiếng quỷ gào.

Đến nửa đêm, tiếng rên của đứa chắt tắt ngấm. Cơ thể mềm oặt của nó lạnh ngắt trong vòng tay bà mẹ. Đứa cháu dâu phát ra một tiếng nấc nghẹn uất nghẹn từ tận đáy họng rồi gục đầu xuống nền đất,

mắt vẫn mở trừng trừng nhìn về phía bếp lò, hai bàn tay vẫn co quắp giữ chặt lấy đứa con đã chết cóng.

Cả gian bếp chìm vào sự im lặng ghê rợn.

- Tao biết chúng nó chết rồi...

-

- Mụ Cả Lý run rẩy, hai hốc mắt trắng đục ứa ra hai dòng chất lỏng đen ngòm

- Gian bếp chỉ còn xác chết và tao. Tao mừng thầm... tao nghĩ cuối cùng tao cũng được ăn miếng thịt đó mà không phải chia cho ai cả. Tao bò lại bếp lò... tao thò tay vào hốc gạch moi mẩu thịt ra...

Mụ há to miệng, làm điệu bộ như đang nhét một vật gì đó vào cổ họng. Khóe môi mụ toét ra, để lộ hàm nướu đỏ lòm không còn một chiếc răng nào:

- Tao đói quá... dạ dày tao cào xé như có ngàn con kiến lửa cắn rách ruột gan. Mắt tao hoa lên, tai tao ù đi... Tao bốc lấy bốc để, không kịp nhai, cứ thế nuốt chửng miếng thịt vào bụng...

Nhưng ngay khi vật đó trôi qua cổ họng mụ, tai họa giáng xuống.

Mẩu thịt mụ giấu giếm không hề có vị tanh của thịt thối. Thay vào đó là một mùi tanh tưởi khác,

ngai ngái và mặn chát của bùn đầm lầy. Ngũ quan của mụ bị thứ tà lực quái ác đánh lừa trong cơn đói cùng cực. Mẩu thịt mà mụ tưởng rằng mình đã giấu kỹ trong hốc bếp, từ bao giờ đã biến thành một cục bùn sét nén chặt, quánh đặc và đen ngòm.

Thứ bùn ấy nuốt vào thì dễ, nhưng khi rơi xuống dạ dày, nó lập tức hút cạn mọi dịch vị trong bụng mụ, vón cục lại và đông cứng thành một khối đá sắc nhọn.

- Nó cứng lại...

-

- Mụ Cả Lý rít lên một tiếng đau đớn, hai tay cào cấu điên cuồng vào bụng mình, xé toạc lớp áo bông rách rưới để lộ lớp da bụng thâm tím, nhằng nhịt những vết cào rách máu me

- Nó không tiêu được... Nó như tảng đá đè nát ruột tao... Tao muốn nôn ra nhưng không nôn được, cổ họng tao bị bùn bịt kín mít...

Cục bùn sét Quỷ Thực Nê trương nở trong ổ bụng mụ Cả Lý. Mụ không thể bài tiết,

cũng không thể nôn mửa. Khối bùn sét khô cứng chặn đứng mọi đường thở và đường tiêu hóa. Suốt ba ngày ba đêm sau đó, mụ Cả Lý quằn quại trên nền đất lạnh của chái bếp, ngay bên cạnh hai thi thể lạnh ngắt của đứa cháu dâu và đứa chắt vô tội.

Mụ cào xé da thịt, đập đầu vào bệ bếp, gào thét trong tuyệt vọng cho đến khi cuống họng rách toạc trào ra bùn đen.

Cái giá của sự ích kỷ và tàn nhẫn trong nạn đói năm 1937 là một cái chết đau đớn kéo dài, biến thân xác mụ thành một khối bùn đất đông cứng trước khi trút hơi thở cuối cùng trên nền đất ẩm thấp.

- Tao đói... nhưng tao không dám ăn nữa...

-

- Mụ Cả Lý gục đầu xuống đống tro tàn, tiếng khóc nhỏ dần rồi biến thành những tiếng thì thào rên rỉ

- Bùn nuốt tao rồi... Quỷ ăn bùn bắt tao đền mạng rồi...

Cơn gió ngoài rừng trúc đột ngột đổi chiều, gầm thét dữ dội hơn qua những rặng tre gai. Gió thốc qua mái rạ thủng, cuộn vào chái bếp tạo thành một cơn lốc nhỏ.

Tiếng khóc sám hối của mụ Cả Lý loãng dần, hòa vào tiếng xào xạc rợn cả gáy của lá trúc khô va vào vách đất. Đống tro tàn trong lòng bếp lò tự động xoáy tròn thành một cột lốc xám nhạt, bốc cao lên tận nóc bếp rồi tan biến vào hư không.

Bóng hình còng queo của mụ Cả Lý mờ nhạt dần theo làn khói tro. Từng mảng thân thể mụ rã ra như đất sét gặp nước, hóa thành những hạt bụi xám li ti bay lơ lửng giữa không trung.

Cơn gió lốc đem theo tro tàn bay lả tả, phủ một lớp bụi lạnh ngắt lên vai áo và cuốn sổ tay của tôi.

Gian bếp lại chìm vào sự tĩnh lặng chết chóc ban đầu. Chỉ còn tiếng nước sương rơi tong tỏng từ mái rạ rách xuống nền đất nện.

Tôi đứng yên tại chỗ, cố gắng điều hòa lại nhịp thở đang dồn dập. Bàn tay cầm máy ghi âm của tôi ướt đẫm mồ hôi lạnh. Sự tàn khốc của nạn đói năm 1937 không dừng lại ở sự thiếu thốn vật chất,

mà nó bóp méo lương tri, dồn ép con người vào những ngõ cụt tăm tối nhất của sự tha hóa, để rồi Quỷ Thực Nê lợi dụng chính sự tham lam và tuyệt vọng ấy mà gieo rắc tai ương.

Tôi bước lại gần bệ bếp, rút chiếc khăn tay nhỏ ra lau nhẹ lớp bụi tro bám trên mặt cuốn sổ.

Ánh đèn bão hắt nghiêng vào lòng bếp lò vừa bị mụ Cả Lý cào bới bung bét. Dưới đáy của đống tro nguội xám xịt, có một vệt sáng đỏ sẫm bất thường đập vào mắt tôi.

Tôi ngồi xổm xuống, dùng đầu một cành củi khô gạt lớp tro dính bết sang hai bên.

Một mảnh vỡ bằng gốm nung hiện ra.

Đó là một mảnh vỡ của viên ngói nung hình lòng máng, dày khoảng nửa lóng tay, màu đất nung đỏ quạch như máu đọng lâu ngày. Trên bề mặt mảnh ngói vỡ,

ai đó đã dùng dao nhọn khắc sâu những đường nét phù chú uốn lượn kỳ dị. Những nét khắc này sắc lẹm, bên trong rãnh khắc còn đọng lại một lớp bột chu sa mịn màng không hề bị thời gian làm phai nhạt.

Tôi dùng nhíp kim loại trong túi đồ nghề cẩn thận gắp mảnh ngói nung lên quan sát dưới ánh đèn bão.

Các nét phù chú ngoằn ngoèo mang đậm phong cách bùa chú tế lễ của vùng núi Tương Tây, hoàn toàn đồng nhất với thủ pháp phong ấn từng thấy trên mảnh giấy bùa thắt ở vành nón rách của cô Ba Cửu ngoài đầm Bồ Tầm.

Nhưng mảnh ngói này không phải dùng để trấn yểm linh hồn dưới nước.

Những ký tự khắc trên mặt ngói có hình ngọn lửa bị trói chặt bởi dây thừng, một loại bùa ếm hỏa thực cổ xưa thường được những kẻ tà đạo sử dụng để cắt đứt sinh khí và gieo rắc sự đói khát triền miên vào gian bếp của gia chủ.

Ai đó đã cố ý chôn mảnh ngói yểm bùa này vào tận đáy bếp lò của nhà mụ Cả Lý trước khi nạn đói bùng phát.

Kẻ thủ ác năm 1937 không hành động ngẫu nhiên. Chúng đã rải những đạo bùa đói khát này vào từng chái bếp,

từng giếng nước, từng góc nhà của thôn Vọng Ngưu Đôn. Chúng nhằm thúc đẩy cơn đói biến thành sự điên cuồng. Chúng biến con người thành những kẻ mất hết nhân tính, để dâng hiến linh hồn và thể xác cho thứ bùn quỷ dưới đáy đầm lầy.

Bàn tay tôi siết chặt cán nhíp, một cảm giác căm phẫn lạnh buốt lan khắp sống lưng.

Bỗng nhiên, từ đáy bếp lò nguội ngắt vừa lộ ra mảnh ngói, một âm thanh kỳ dị vang lên.

Bục. Lục bục.

Lớp tro tàn khô cứng dưới đáy lò bắt đầu nứt toác ra. Từ những kẽ nứt ấy, một vũng bùn đen đặc quánh như hắc ín bắt đầu sủi bọt, đùn lên từng đợt nhờn nhột. Mùi tanh tưởi nồng nặc lập tức lấn át toàn bộ không gian chái bếp.

Vũng bùn đen không ngừng dâng cao, bọt khí nổ lép bép nhả ra những làn khói xám bốc mùi thối rữa.

Tôi vội lùi lại một bước, tay phải nắm chặt cán đèn bão, mắt không rời khỏi vũng sình lầy đang biến dạng giữa lòng bếp.

Ngay giữa tâm điểm của vũng bùn đang sôi sục, mặt bùn đen bỗng nhô cao lên thành một khối u kỳ dị. Bùn nhão chảy tràn sang hai bên, để lộ ra một vật thể khô quắt, khẳng khiu đang chầm chậm trồi lên từ lòng đất sâu.

Đó là một bàn tay trẻ con.

Bàn tay nhỏ thó chỉ bằng nắm tay người lớn,

da thịt teo tóp bọc chặt lấy những đốt xương mong manh, toàn thân phủ một màu xám xịt của tro chết quyện với bùn non. Năm ngón tay khẳng khiu run rẩy xòe ra giữa không trung, từng kẽ móng tay còn đọng lại những giọt bùn đen rỉ xuống bệ lò.

Bàn tay khô quắt ấy từ từ xoay chuyển các khớp xương kêu răng rắc, rồi vươn thẳng về phía tôi, hướng về vạt áo tôi đang đứng như một lời cầu cứu ai oán không lời phát ra từ lòng đất lạnh.

Chương khác

Xem thêm