Bùn Quỷ Thực - Chương 11: Cây Đa Già Và Vong Hồn Đói
Con đường mòn dẫn ra mé tây thôn Vọng Ngưu Đôn chìm ngập giữa cỏ dại cao lút đầu gối. Gió bấc từ triền sông Tây Giang thổi thốc lên từng cơn rát mặt,…
Nội dung chương
Con đường mòn dẫn ra mé tây thôn Vọng Ngưu Đôn chìm ngập giữa cỏ dại cao lút đầu gối. Gió bấc từ triền sông Tây Giang thổi thốc lên từng cơn rát mặt,
mang theo cái lạnh cắt da của vùng Lĩnh Nam lúc đêm muộn. Bầu trời không có lấy một ánh sao, mảnh trăng non mỏng dính lẩn khuất sau những tầng mây xám xịt, hắt xuống mặt đất thứ ánh sáng lờ nhờ, bàng bạc.
Tôi lần theo sơ đồ vẽ tay trong cuốn sổ cũ mà lão A Ngưu đưa cho trước khi rời khỏi căn nhà rạ. Từng nét mực tàu đã ố vàng chỉ rõ một lối rẽ qua rặng duối cằn cỗi, nơi có một miệng giếng cạn bị bỏ hoang từ nạn đói năm Đinh Sửu.
Đến gần rặng duối, tiếng gió luồn qua các kẽ đá nứt toác của thành giếng tạo thành chuỗi âm thanh rít ráo buốt óc. Cảm giác gai lạnh chạy dọc sống lưng quen thuộc lại trỗi dậy,
báo hiệu giác quan thứ sáu trong tôi bắt đầu bắt được luồng từ trường khác thường của cõi âm. Tôi dừng chân cách miệng giếng chừng năm bước, rọi đèn pin kiểm tra xung quanh.
Thành giếng được ghép bằng những tảng đá xanh xẻ thô,
qua mấy chục năm sương gió đã nghiêng ngả, nứt nẻ chằng chịt. Đất xung quanh sụt lún tạo thành một lòng chảo nông, lớp rêu phong bám trên đá khô quắt lại, bong tróc từng mảng lớn. Đáy giếng sâu hun hút, tối đen như một họng súng chĩa ngược lên trời.
Tôi đặt ba lô xuống một phiến đá tương đối bằng phẳng, lấy chiếc máy ghi âm kỹ thuật số gắn lên giá đỡ ba chân nhỏ, hướng micro định hướng thẳng vào lòng giếng cạn. Kế đó,
tôi rút ba nén nhang thơm bọc giấy đỏ mang theo từ thị trấn, bật que diêm châm lửa. Đốm lửa đỏ bùng lên, tỏa ra mùi trầm nồng đậm giữa không gian hoang vắng. Tôi cắm ba nén nhang vào một khe nứt sâu hoắm ngay mép đá thành giếng.
Khói nhang màu xám đục vừa bốc lên thì không khí xung quanh đột ngột đặc quánh lại. Gió bấc ngoài bãi cỏ vẫn thổi ào ào,
nhưng ngay tại khoảng đất quanh miệng giếng, từng sợi khói lại đứng thẳng tắp, không hề lay động. Nhiệt độ tụt xuống nhanh chóng, hơi thở của tôi phả ra biến thành từng luồng khói trắng xóa.
Dưới chân tôi, mặt đất nện bắt đầu rỉ ra một lớp bùn nhão dính dấp. Thứ bùn đen ngòm này từ các kẽ đá trào lên chậm rãi,
mang theo mùi chua thối nồng nặc của ngũ cốc lên men thiu mục lẫn mùi bùn rác ủ lâu ngày. Mùi vị ấy xộc thẳng vào mũi, gay gắt đến mức làm tôi phải lấy tay bịt chặt miệng để ngăn cơn buồn nôn đang dâng lên cuống họng.
Lách cách. Lách cách.
Tiếng sỏi đá rơi lạo xạo vọng lên từ đáy giếng sâu thẳm.
Tôi lùi lại nửa bước, tay phải siết chặt chiếc bật lửa, mắt dán chặt vào miệng giếng đá. Một đôi bàn tay gầy guộc khẳng khiu như cành củi khô,
các đầu ngón tay dính đầy đất cát bẩn thỉu, bất thần thò lên bấu chặt vào gờ đá trơn trượt. Móng tay của đôi bàn tay ấy đã bật gốc từ lâu, để lộ những đầu ngón thâm tím, nham nhở vết cào xước.
Một cái đầu từ từ nhô lên khỏi miệng giếng cạn.
Đó là bóng ma của một người đàn ông trung niên, gương mặt tóp teo chỉ còn da bọc xương, hai gò má nhô cao nhọn hoắt. Đôi mắt lão là hai hốc sâu hoắm tối om,
không có tròng mắt, chỉ có hai dòng nước nhớp nháp đen ngòm đang rỉ ra, chảy dài xuống tận cằm. Đáng sợ nhất là phần cổ họng của lão, da thịt nơi ấy bị cào cấu rách tơi tả, để lộ từng thớ thịt đỏ sẫm khô khốc bên trong.
Lão trườn nửa thân trên ra khỏi giếng, nằm rạp xuống mép đá nứt. Hai bàn tay gầy gò của lão không ngừng cào vào cổ họng mình,
phát ra những tiếng sột soạt ghê rợn. Mỗi lần lão cử động, từ cuống họng rách toác lại phát ra một chuỗi âm thanh khò khè, nghẹn ứ, như thể có một khối dị vật khổng lồ đang chẹn cứng đường thở.
- Nước...
-
- Giọng nói khô ráp vang lên từ hư vô, đâm thẳng vào màng nhĩ tôi
- Làm ơn... cho tôi xin... một ngụm nước...
Tôi bấm nút ghi âm trên máy, lồng ngực đập thình thịch từng hồi nặng nề. Tôi cố giữ cho giọng mình bình thản, không bộc lộ sự hoảng sợ:
- Bác là Trần Lão Lục ở xóm Tây?
Hồn ma ngừng cào cấu cổ họng, cái đầu khô quắt quay ngoắt về phía tôi. Hốc mắt đen ngòm hướng thẳng vào ngực tôi, nơi chiếc máy ghi âm đang nhấp nháy đèn tín hiệu màu đỏ. Lão thở hắt ra một hơi nồng nặc mùi mốc, rồi run rẩy gật đầu.
- Trần Lão Lục... đúng rồi... người làng gọi tôi là Lão Lục...
-
- Tiếng lão run bần bật, lẫn trong tiếng răng va vào nhau lập cập
- Cổ họng tôi nghẹn... nghẹn suốt mấy chục năm nay rồi... Cậu có nước không... chỉ một giọt thôi... một giọt nước lã thôi cũng được...
- Giếng này cạn khô rồi, bác Lục.
-
- Tôi đáp chậm rãi, chân vẫn đứng vững trên lớp bùn chua
- Bác kể cho tôi nghe chuyện năm ba bảy đi. Bác nghẹn thứ gì trong cổ họng?
Cái tên năm ba bảy vừa thốt ra khỏi miệng tôi, toàn thân bóng ma Trần Lão Lục giật bắn lên một cái. Lão ôm lấy đầu,
gục trán xuống phiến đá xanh, miệng phát ra những tiếng rên rỉ ai oán xé lòng. Ký ức đau đớn bị chôn vùi dưới lớp bùn lầy của nạn đói năm Đinh Sửu hình như lại trỗi dậy, cấu xé lấy tàn hồn của lão.
- Năm ấy... trời làm đại hạn, rồi sau đó là lụt lội thối đất thối cát...
-
- Lão Lục bắt đầu cất giọng kể, từng lời nói đứt quãng, xen lẫn tiếng rít gió khô khốc qua kẽ răng
- Mùa đông năm ba bảy,
cái rét Lĩnh Nam ngấm buốt vào tận tủy xương. Cả làng Vọng Ngưu Đôn này không còn một hạt thóc dính mép bồ. Cây cối ngoài đồi bị người ta lột sạch vỏ, rễ cỏ tranh dưới chân đê cũng bị bới tung lên mà nhai. Nhà tôi... nhà tôi có bốn miệng ăn...
Bóng ma run rẩy giơ ba ngón tay xương xẩu lên trước ngọn đèn pin:
- Vợ tôi và hai đứa con thơ... Chúng nó nằm liệt trên chiếc chõng tre rách rưới trong căn chòi rạ đằng kia. Mười lăm ngày ròng rã, trong nhà chỉ có nước lã nấu với lá xoan khô đắng ngắt. Đứa con út bốn tuổi bụng trướng to như cái trống cơm,
khóc không thành tiếng, chỉ biết thoi thóp gọi "cha ơi đói quá". Tôi là trụ cột trong nhà, vậy mà tôi bất lực... Tôi nhìn chúng nó lả đi từng ngày, mắt lõm sâu, hơi thở yếu dần như ngọn đèn cạn dầu trước gió...
Lão Lục dừng lại, hai bàn tay lại vô thức đưa lên bấu chặt lấy cổ họng rách nát, móng tay cào sâu vào da thịt vô hình:
- Đến ngày thứ mười sáu, cái đói cồn cào bốc lên đầu làm tôi phát điên. Đầu óc tôi quay cuồng,
mắt hoa lên, trong tai chỉ toàn nghe thấy tiếng gào thét của loài quỷ đói. Tôi lảo đảo bò vào góc bếp mục nát, cạy viên gạch lát dưới đáy vò sành đựng mắm cũ đã vỡ vụn từ năm ngoái. Trời đất ơi... dưới đáy vò ấy, tôi tìm thấy một bọc vải dầu cũ kỹ...
Giọng lão nghẹn lại, đầy vẻ nhục nhã và ghê tởm chính bản thân mình:
- Trong bọc vải dầu là nửa vốc cám gạo lẫn trấu vụn. Nửa vốc cám mốc meo mà tôi lén giấu giếm từ vụ xay lúa thuê cho nhà phú hộ hồi đầu mùa, phòng khi cùng đường mang ra đổi lấy chút muối. Bột cám lúc ấy đã ngả màu xanh xám,
bốc mùi hôi thối, ẩm ướt và đầy mạt cưa. Đáng lẽ... đáng lẽ tôi phải mang bọc cám ấy vào chòi, nấu thành một bát cháo loãng chia cho vợ và hai đứa con để cứu mạng chúng nó... Đáng lẽ tôi phải làm một ông bố, một ông nhà...
- Nhưng bác đã không làm thế?
-
- Tôi hỏi khẽ.
- Cơn đói nó nuốt mất tính người của tôi rồi!
-
- Lão Lục gào lên thảm thiết, hai hốc mắt rỉ ra thứ bùn lỏng sền sệt
- Cái mùi cám mốc xộc lên mũi tôi lúc bấy giờ thơm tho hơn bất cứ thứ sơn hào hải vị nào trên đời! Cổ họng tôi co thắt lại vì thèm thuồng. Tôi sợ... Tôi sợ nếu mang vào chòi,
chia cho ba mẹ con nó thì mỗi người chỉ được một hớp nước đục, tôi sẽ không được miếng nào, tôi sẽ chết đói trước chúng nó! Cái ý nghĩ đê hèn ấy nó siết lấy tim gan tôi!
Lão đập mạnh hai bàn tay xuống miệng giếng đá, tạo thành những tiếng chát chúa:
- Tôi giấu bọc cám vào trong manh áo tơi rách, lén lút bò ra khỏi chòi rạ. Tôi không dám quay đầu lại nhìn chiếc chõng tre, nơi vợ con tôi đang rên rỉ yếu ớt. Tôi cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng ra phía bờ giếng cạn này,
trốn sau tảng đá lớn chắn gió. Tôi ngồi thụp xuống bùn lầy, run rẩy mở bọc vải dầu ra. Gió bấc thổi làm bụi cám bay vào mắt cay xè, nhưng tôi không màng đến nữa...
Lão Lục há to miệng, hai tay làm động tác bốc từng vốc lớn nhét vào mồm:
- Tôi bốc từng nắm cám mốc lẫn vỏ trấu khô khốc tọng thẳng vào miệng! Tôi nhai ngấu nghiến, nhai như một con thú hoang đói khát lâu năm! Nhưng cám khô quá... trấu vụn nhọn hoắt đâm nát cả vòm họng và đầu lưỡi tôi! Tôi không có nước! Giếng cạn khô đáy,
không có lấy một giọt nước để nuốt trôi! Cám bã gặp chút nước bọt ít ỏi trong miệng liền vón cục lại, trương phềnh lên như một tảng đá xốp!
Khuôn mặt bóng ma co rúm lại trong sự kinh hoàng tột độ, tái hiện lại phút giây hấp hối năm xưa:
- Tôi cố nuốt... Tôi dùng hết sức bình sinh để nuốt trôi khối cám bã ấy xuống dạ dày! Nhưng nó nghẽn lại! Khối trấu bã nở bung ra,
chẹn cứng ngắc ngay giữa cuống họng tôi! Nó bít kín đường thở! Tôi không hít vào được, cũng không thở ra được! Tôi há hốc mồm muốn nôn ra, nhưng trấu sắc nhọn đã găm chặt vào thành họng, dính bết lại thành một khối rắn như đất sét nung!
Lão Lục ngã vật ra phiến đá, hai chân giãy giụa đạp loạn xạ vào không khí, hai tay cào cấu điên cuồng vào cổ họng mình:
- Tôi ngạt thở...
Mắt tôi nổ đom đóm lòa xòa...
Tôi quằn quại ngã dúi dụi xuống vũng bùn rêu quanh giếng.
Trong cơn giãy chết nghẹt thở, mắt tôi trợn trừng nhìn qua khe rặng duối, hướng về phía chòi rạ rách nát của gia đình tôi.
Ánh đèn dầu leo lét bên trong vừa tắt ngấm...
Vợ tôi và hai đứa con tôi đã tắt thở trong căn chòi lạnh ngắt ấy...
Chúng nó chết đói, còn tôi...
tôi chết nghẹn vì một nắm cám thiu giấu giếm!
Tôi là một con súc sinh!
Một con quỷ đói đê tiện!
Tiếng khóc của hồn ma Trần Lão Lục biến thành chuỗi âm thanh rít the thé, quằn quại trong sự ân hận tột cùng đã giam cầm lão suốt hàng chục năm qua dưới lòng giếng cạn. Tôi đứng lặng người nhìn bóng ma vật vã trên bờ đá,
một nỗi xót xa lạnh buốt trào dâng trong lòng. Cái đói năm 1937 không chỉ cướp đi sinh mạng của hàng vạn con người bên dòng Tây Giang, mà nó còn bẻ gãy nhân tính, biến những con người khốn khổ thành những kẻ tội đồ mang theo sự dằn vặt sang tận thế giới bên kia.
Đột nhiên, lão Lục ngừng giãy giụa. Lão chống hai cánh tay run rẩy, gượng ngồi dậy, hốc mắt đen ngòm ngước nhìn về phía rặng duối già phía sau lưng tôi.
- Lúc tôi đang quằn quại cào họng sắp chết...
-
- Giọng lão bỗng hạ thấp xuống, run rẩy một cách kỳ lạ
- Có người đứng ở đó...
Tôi quay phắt đầu lại nhìn rặng duối. Những cành cây khẳng khiu chỉ có gió bấc rít qua từng hồi, không có lấy một bóng người.
- Ai đứng ở đó?
-
- Tôi quay lại gặng hỏi lão.
- Một người đàn bà...
-
- Lão Lục thều thào, ngón tay run lẩy bẩy chỉ về phía gốc duối cổ thụ
- Bà ta mặc áo vải thô màu đen, cổ tay lần một chuỗi hạt gỗ mun tròn nhẵn. Bà ta đứng dưới gốc cây, lặng lẽ nhìn tôi đang giãy chết trong vũng bùn. Tôi cố bò về phía bà ta,
giơ tay ra cầu xin một ngụm nước cứu mạng... Nhưng bà ta không nhúc nhích. Ánh mắt bà ta lạnh như tảng băng dưới đáy sông mùa đông, cứ thế nhìn trừng trừng vào tôi cho đến khi tôi tắt thở... Chuỗi hạt gỗ mun ấy... trên mặt hạt có khắc hình hoa văn kỳ quái...
Trang phục áo đen và chuỗi hạt gỗ mun. Những chi tiết lão Lục vừa miêu tả hoàn toàn trùng khớp với bóng hình của bà lão bí ẩn đã trao cho tôi lá bùa chu sa đêm qua ở rừng trúc,
người mà lão A Ngưu tôn kính gọi là Hương Bà. Nếu năm 1937 Hương Bà đã có mặt để chứng kiến cái chết của lão Lục, thì người phụ nữ tôi gặp đêm qua hoặc là một linh hồn chưa tan, hoặc là người kế thừa dòng dõi của bà ta.
- Bà ta không cứu tôi...
-
- Lão Lục nấc nghẹn một tiếng
- Bà ta đứng chờ tôi tắt thở, rồi bước đến mép giếng, ném xuống đáy một nắm bùn đen... Bà ta bảo... đó là cái giá cho kẻ tham ăn nuốt trộm...
Một cơn gió lạnh thấu xương từ mé đầm Bồ Tầm đột ngột thổi thốc qua rặng duối, dập tắt ngúm đốm đỏ của ba nén nhang cắm trên khe đá.
Bóng ma của Trần Lão Lục bắt đầu mờ nhạt dần,
thân hình lão tan rã thành những làn khói xám nhạt bay ngược trở lại vào lòng giếng cạn. Trước khi biến mất hoàn toàn vào bóng tối hun hút, tiếng thì thào đứt quãng của lão vẫn còn vọng lại qua kẽ đá, mang theo sự cảnh báo kinh hoàng:
- Đi đi... Cậu Tô... đừng ở lại đây... Bùn đen... thứ bùn đen dưới đáy giếng đang thức giấc rồi... Đêm nay nó ngửi thấy mùi tro nhang... nó sắp trồi lên rồi...
Làn khói xám tan biến hẳn. Gió bấc lại gầm gào thổi qua miệng giếng đá rỗng tuếch.
Tôi thở phào một hơi dài,
đưa tay lau mồ hôi lạnh đang rịn ra trên trán. Dưới chân tôi, lớp bùn nhão có mùi chua thối lúc nãy đã biến mất, chỉ còn lại một nắm tro cám cháy dở đen sì nằm trơ trọi trên phiến đá nứt toác, bốc lên chút khói mảnh mờ mịt rồi lụi tàn.
Tôi cúi người xuống, lấy một chiếc túi zip nhỏ bọc lấy nắm tro cám cháy dở cất vào ba lô. Đây là chứng tích vật lý hiếm hoi còn sót lại từ một ký ức đói kém đau thương.
Thu dọn đồ đạc xong, tôi đưa tay với lấy chiếc máy ghi âm trên giá đỡ để tắt nguồn. Màn hình tinh thể lỏng nhỏ xíu vẫn sáng ánh xanh dịu.
Tôi vừa chạm ngón tay vào phím dừng thì chiếc máy bỗng nhiên rung lên bần bật.
Các bánh răng cơ học bên trong phát ra tiếng cọt kẹt chói tai. Thanh thời lượng trên màn hình không dừng lại, mà các con số bắt đầu chạy thụt lùi với tốc độ chóng mặt. Chiếc máy đang tự động tua ngược đoạn băng vừa ghi âm.
Cạch.
Đoạn băng dừng lại ở phút thứ mười bốn.
Không cần tôi ấn nút phát, từ chiếc loa ngoài nhỏ bằng đồng xu của máy ghi âm, một chuỗi âm thanh méo mó bắt đầu phát ra rành rọt giữa đêm vắng.
Đó không phải là giọng nói của tôi, cũng không phải lời tự thuật của Trần Lão Lục.
Khẹc... ặc... ực...
Đó là tiếng thở nghẹn ứ đến nghẹt thở của một người đang bị dị vật bít chặt đường thở, tiếng móng tay cào cấu điên cuồng vào da thịt rách nát.
Và xen lẫn giữa tiếng hấp hối ghê rợn ấy, là tiếng bùn đất nhão nhoét nhóp nhép đang chuyển động từng đợt, phát ra từ một nơi rất sâu, ngay dưới phiến đá nơi tôi đang đứng.