Bùn Quỷ Thực - Chương 8: Nấm Mồ Không Tên Ven Rừng Trúc

Trời xế chiều buông xuống thung lũng Vọng Ngưu Đôn một màu xám đục như nước vo gạo thiu. Hạt mưa phùn bám đầy hai bả vai áo tôi, lạnh ngắt và ẩm ướt. Rời…

Nội dung chương

Trời xế chiều buông xuống thung lũng Vọng Ngưu Đôn một màu xám đục như nước vo gạo thiu. Hạt mưa phùn bám đầy hai bả vai áo tôi,

lạnh ngắt và ẩm ướt. Rời khỏi bờ rào miếu cổ sau khi tận mắt thấy nhúm tro giấy màu đỏ tươi trượt nước một cách kỳ lạ, tôi theo chân lão A Ngưu rẽ vào một con ngõ hun hút đầy đất nhão ở phía đông làng.

Lão A Ngưu đi trước, ống quần xắn cao quá đầu gối để lộ hai bắp chân gân guốc lấm lem bùn đất. Chiếc nón mê trên đầu lão rỏ nước từng giọt tong tòng xuống nền đá dăm. Lão không nói năng gì suốt dọc đường,

chỉ thỉnh thoảng liếc nhìn tôi bằng ánh mắt nặng trĩu âu lo. Mãi cho đến khi dừng lại trước một căn nhà vách đất lợp tranh mục nát, xung quanh ken dày những bụi chuối hột còi cọc, lão mới khẽ tằng hắng một tiếng rồi đẩy nhẹ cánh liếp tre.

- Đến nơi rồi. Cậu vào đi, bước nhẹ chân thôi. Cụ Bảy dạo này tai nghễnh ngãng nhưng tính tình khó ở lắm.

Tôi cúi đầu bước qua bậu cửa thấp lè tè. Gian bếp tối tăm mù mịt,

nồng nặc mùi khói củi ướt quyện với mùi ẩm mốc của rơm rạ mục lâu ngày. Ở góc trong cùng, cạnh chiếc kiềng sắt ba chân han rỉ đang đỏ lửa, một bóng người gầy gò co ro ngồi trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít.

Đó là cụ Bảy, người cùng lứa với ông bố của lão A Ngưu, nay đã ngoài tám mươi tuổi. Toàn thân cụ teo tóp chỉ còn một bộ xương bọc lấy lớp da đồi mồi nhăn nheo,

hai cẳng tay khẳng khiu vươn ra sưởi trên bếp than giống hệt hai cành củi khô cong queo. Đôi mắt cụ đã lòa từ lâu, hai tròng mắt trắng đục vô hồn hướng thẳng vào khoảng không vô định trước mặt, không hề chớp lấy một lần dù khói bếp mù mịt phả thẳng vào mặt.

Lão A Ngưu bước lại gần, đặt ấm nước nhôm móp méo lên kiềng củi rồi cất giọng sang sảng:

- Bác Bảy, cháu dẫn thằng cháu làm nghề viết văn trên tỉnh về thăm bác đây. Nó muốn hỏi chuyện ngày xưa, cái đợt nước ngập đói kém năm ba mươi bảy ấy.

Bàn tay cụ Bảy run rẩy dừng lại giữa không trung. Những ngón tay khô khốc như rễ tre từ từ hạ xuống,

lần mò trên mặt bàn gỗ nứt nẻ chằng chịt những vết chém cũ kỹ. Khóe miệng móm mém của cụ giật giật hai nhịp, phát ra những tiếng thở khò khè nghẽn đặc trong cuống họng.

- Năm ba mươi bảy à...

-

- Giọng cụ khản đặc, nghe như tiếng hai mảnh sành vỡ cọ xát vào nhau

- Cái năm tao mất sạch cả nhà... Cái năm mà người ta phải tranh nhau từng miếng đất sét để nhét vào mồm... Có gì hay ho đâu mà hỏi...

Tôi kéo chiếc ghế gỗ con ngồi xuống đối diện cụ,

cẩn thận đặt chiếc máy ghi âm kỹ thuật số lên mặt bàn gỗ, tránh để vụn tro bếp bám vào micro. Ánh lửa bập bùng từ đáy kiềng hắt lên khuôn mặt đầy nếp nhăn sâu hoắm của người già, biến từng đường gân trên gò má cụ thành những rãnh nứt nẻ kỳ dị.

- Thưa cụ, cháu đi tìm tư liệu thực tế về nạn đói bên bờ Tây Giang.

-

- Tôi hạ thấp giọng, cố gắng giữ ngữ điệu thật từ tốn

- Dân làng đồn rằng năm đó quanh vùng đầm Bồ Tầm có chuyện ăn đất sét thay cơm. Cháu muốn nghe người trong cuộc kể lại ngọn ngành.

Cụ Bảy không đáp ngay. Cụ ngửa mặt lên trần nhà hun khói đen kịt,

lồng ngực lép kẹp phập phồng sau lớp áo chàm rách tả tơi. Lão A Ngưu với tay lấy chiếc điếu cày dựng ở góc cột, dùng que đóm châm đóm lửa rồi rít lên một sòng sọc dài. Làn khói thuốc lào xanh biếc bay bảng lảng qua mặt bàn, quẩn quanh giữa ba người chúng tôi.

- Đói...

-

- Cụ Bảy thốt ra một tiếng khô khốc, hai bàn tay lại bắt đầu run bần bật cào cào xuống mặt bàn gỗ

- Chú mày sinh thời bình, chú mày không biết được cái đói nó xé nát ruột gan con người ta ra sao đâu. Mùa đông năm Đinh Sửu ấy,

đầm Bồ Tầm nước cạn trơ đáy sình, lúa ngoài đồng thối rữa hết vì lụt sớm, trâu bò thì lăn ra chết vì dịch tả. Đến tháng mười một, cả cái làng Vọng Ngưu Đôn này không kiếm đâu ra một hạt thóc, một cọng rau.

Tôi im lặng lắng nghe, ngón tay giữ nhẹ mép sổ tay. Tiếng củi mục nổ lép bép trong bếp lò càng làm cho không gian thêm phần u uất.

Cụ Bảy tiếp tục, giọng cụ mỗi lúc một trầm xuống, kéo lê thê từng từ một:

- Ban đầu người ta đi bóc vỏ cây sau đồi.

Vỏ xoan, vỏ lim, vỏ sung...

người ta dùng dao róc sạch từng mảng thân cây trắng hếu, đem về ngâm nước suối ba ngày cho bớt vị đắng chát rồi giã nhuyễn ra nấu cháo.

Nhưng cây cối quanh làng có hạn, chỉ nửa tháng sau là cả khu rừng sau miếu trơ trọi như đàn cọc mục.

Người ta bắt đầu lần mò xuống các mương rãnh đào củ chuối.

Củ chuối nằm sâu dưới ba thước bùn cũng bị đào bới sạch bách, rễ cây mục cũng bị móc lên nhai sống.

Khi cỏ rác ngoài bãi tha ma cũng bị cạo trọc lóc, mắt người ta bắt đầu đổi màu.

Lão A Ngưu ngồi bên cạnh thở dài sườn sượt, gõ nhẹ chiếc nõ điếu cày xuống chân kiềng:

- Hồi ấy tôi còn ẵm ngửa, nhưng nghe cha tôi kể lại, người làng lúc đó đi lại ngoài đường ngật ngưỡng như những cái bóng ma. Bụng ai nấy đều ỏng to bè bè, cẳng chân cẳng tay quắt lại như nhánh củi rào, da dẻ xám ngoét một màu bùn chết.

- Nhìn nhau chỉ chực chờ ai ngã xuống trước để tranh nhau vạt áo rách.

-

- Cụ Bảy tiếp lời, khóe mắt mờ đục rỉ ra hai dòng nước đục ngầu

- Thế rồi đàn bà trong làng rỉ tai nhau về một thứ có thể làm no bụng. Họ bảo nhau kéo lên tận vách đồi hoang phía sau đầm Bồ Tầm, nơi có một vỉa đất sét trắng phau nằm sâu dưới tầng đá ong. Người ta gọi thứ bùn đất đó là đất Quan Âm.

- Đất Quan Âm?

-

- Tôi buột miệng hỏi.

- Phải, đất Quan Âm.

-

- Cụ Bảy gật đầu thật chậm

- Đất ấy trắng mịn như phấn thoa mặt của các cô đào hát thời bấy giờ,

mát rượi và dẻo quánh. Đàn bà con gái mang gùi, mang thúng, dùng cuốc chim đào sâu vào vách đồi để moi từng tảng đất sét trắng ấy ra. Họ gánh từng đôi bồ nặng trĩu về làng giữa đêm hôm khuya khoắt, giấu giấu giếm giếm như gánh vàng gánh bạc.

Cụ Bảy dừng lại,

đưa bàn tay run rẩy bốc một nhúm tro bếp nguội lạnh bên mép kiềng, xoa xoa vào hai lòng bàn tay khô ráp. Động tác của cụ thuần thục và chậm rãi, hệt như đang tái hiện lại một nghi thức quái đản đã ăn sâu vào xương tủy từ hơn tám mươi năm trước.

- Về đến nhà, mẹ tao đổ tảng bùn đất ấy vào chiếc chậu sành to nhất, múc nước giếng dội vào rồi dùng hai tay nhào bóp liên tục.

Phải bóp thật kỹ, đãi đi đãi lại nhiều lần qua mảnh vải mùng rách để lọc sạch cát sỏi và sạn đá li ti.

Cát sỏi chìm xuống đáy chậu, còn lại bên trên là một lớp bùn trắng tinh, nhuyễn mịn như sữa đặc.

Mẹ tao gạn hết phần nước trong, chỉ giữ lại thứ bùn dẻo quánh dính chặt vào đáy chậu.

- Người ta ăn sống thứ bùn đất đó sao cụ?

-

- Cổ họng tôi nghẹn lại, một cảm giác nhờn nhợt dâng lên tận khoang miệng.

- Không nuốt sống được, bùn dính chặt vào răng vào lưỡi khó chịu lắm.

-

- Cụ Bảy lắc đầu, ánh mắt lộ ra nỗi ám ảnh tột cùng

- Mẹ tao vét trong góc bồ lúa mục được một nhúm cám bổi ẩm mốc, thứ cám dành cho lợn đã bốc mùi chua loét. Bà trộn nhúm cám mục ấy vào thau bùn trắng,

dùng sức nhào nhào nặn nặn cả buổi trưa. Bùn quyện với cám biến thành một thứ bột dẻo có màu ngà ngà. Rồi bà nặn thứ hỗn hợp ấy thành từng chiếc bánh tròn xoe, dẹp dẹp, to bằng lòng bàn tay.

Cụ Bảy xòe hai bàn tay gầy trơ xương ra trước ngọn lửa bập bùng, làm động tác ép một vật tròn tưởng tượng.

- Những chiếc bánh bùn trắng tinh, tròn trịa hệt như những chiếc bánh bột gạo ngày hội làng. Mẹ tao xếp chúng lên chiếc vỉ sắt rỉ sét, đặt ngay ngắn trên bếp than hồng này đây. Đất nung trên than xèo xèo,

bốc lên mùi ngai ngái nồng nặc của bùn suối lẫn mùi chua khét của cám mốc. Hơ một lúc thì mặt ngoài chiếc bánh se lại, khô giòn và nứt nẻ thành những đường vân nhỏ li ti, nhưng bên trong ruột bánh vẫn nhão nhoét, dẻo quánh như keo hồ.

Lão A Ngưu nhổ một bãi nước bọt vào góc tường bếp, giọng trầm đục chen vào:

- Bánh nướng xong trông ngon mắt lắm. Trẻ con nhìn thấy tưởng là bánh khảo, bánh dày ngày Tết, xúm lại đòi ăn cho bằng được.

- Đúng thế...

-

- Cụ Bảy nấc nghẹn một tiếng, bờ vai gầy nhô lên thụt xuống theo từng nhịp thở dốc

- Cắn một miếng bánh đất vào miệng, cảm giác đầu tiên là khô khốc và bùi bùi.

Đất sét mịn trôi qua cuống họng ráp như giấy nhám, nhưng nó lấp đầy cái dạ dày đang rỗng tuếch.

Ăn hết một chiếc bánh đất trắng, uống thêm một bát nước mưa đầy là cái bụng lập tức no căng.

Cảm giác no căng tức thì ấy nó êm ái vô cùng, nó làm dịu đi cơn đói đang cào xé từng khúc ruột như lang sói cắn trộm.

Người ta thấy no nê, thấy khỏe khoắn trở lại, người lớn lại có sức ra đồng cuốc đất, trẻ con lại thôi khóc lóc vòi ăn.

Tôi nhìn ngọn lửa le lói trên thanh củi mục, mồ hôi lạnh bắt đầu rịn ra trên trán:

- Nhưng đất sét thì làm sao tiêu hóa được trong bụng người?

- Đâu có tiêu hóa được!

-

- Cụ Bảy đột ngột quát to một tiếng khản đặc, hai bàn tay đập mạnh xuống mặt bàn gỗ làm chiếc máy ghi âm nảy lên

- Đất Quan Âm là cái bẫy của con ma đói! Bùn đất vào trong bụng hút hết nước trong cơ thể, trương phềnh lên. Nó không chịu tiêu tan, cũng chẳng trôi xuống ruột dưới được. Nó vón cục lại, đóng kết thành từng khối rắn đanh như đá tảng ngay giữa bao tử!

Âm thanh đập bàn vang lên giữa gian bếp vắng lặng khiến tim tôi giật thót. Cụ Bảy thở hồng hộc, hai hốc mắt lòa trừng trừng nhìn về phía bếp lửa, nơi những thanh củi đang dần tàn lụi thành tro xám.

- Đứa em trai tao...

-

- Giọng cụ Bảy vỡ vụn ra thành từng mảnh vụn đau đớn

- Nó tên là Thạch, năm ấy mới lên sáu tuổi. Thằng bé háu ăn nhất nhà,

thấy mẹ nướng bánh đất thì thích quá, vừa thổi vừa ngoạm liền một lúc ba chiếc bánh to. Đến ngày thứ ba sau khi ăn đất, bụng nó bắt đầu phình to ra. Da bụng nó mỏng dính, căng bóng lên như mặt trống đồng, nổi rõ từng đường gân xanh ngoằn ngoèo chằng chịt.

Cụ Bảy run rẩy đưa bàn tay cào cấu vào lồng ngực mình, như thể chính cụ đang chịu đựng cơn đau đớn năm xưa của người em ruột:

- Nó lăn lộn trên manh chiếu rách dưới đất, hai tay ôm chặt lấy bụng mà gào thét.

Bụng nó cứng ngắc, lấy tay gõ vào nghe côm cốp như gõ vào một phiến đá hoa cương.

Nó muốn đi tiêu mà không sao đi được.

Khối đất sét trong ruột nó đã khô cứng lại thành một cục đá tảng lèn chặt nơi hậu môn, chẹn kín đường ruột.

Mẹ tao khóc ngất đi, lấy que tre vót nhọn tìm cách cạy ra cho nó, nhưng que tre chọc vào chỉ dính ra máu tươi và những mẩu bùn khô xám xịt.

Thằng bé gào khóc đến mức đứt cả cuống họng, mắt lồi ra, rỉ máu tươi ở hai lỗ tai.

Không khí trong gian bếp trở nên ngột ngạt đến nghẹt thở.

Mùi khói củi ướt hình như đặc quánh lại, mang theo một thứ mùi tanh tao âm u của lòng đất ẩm mốc dội ngược vào khoang mũi tôi.

Tôi có thể hình dung ra cảnh tượng hãi hùng trong túp lều rách năm ấy: một đứa trẻ sáu tuổi quằn quại trong vũng máu và bùn non, chết dần chết mòn vì những tảng đá đất sét đông cứng trong chính nội tạng của mình.

- Nó giãy giụa suốt hai ngày hai đêm ròng rã.

-

- Cụ Bảy thì thào, nước mắt rỉ qua những nếp nhăn chảy dài xuống cằm

- Đến đêm thứ ba, người nó lạnh ngắt như đồng tiền kẽm. Thằng bé kiệt sức, chỉ còn thoi thóp thở từng cơn ngắn ngủi. Mẹ tao ôm nó vào lòng, nước mắt nhỏ ròng ròng xuống cái bụng trướng căng như cái trống da bò. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng,

hai hốc mắt sâu hoắm của nó mở to ra, tròng mắt đờ đẫn nhìn trân trân lên mái rạ. Bàn tay nó nhỏ thó, gầy guộc như chân gà, quờ quạng nắm chặt lấy góc vạt áo của tao...

Cụ Bảy bặm chặt bờ môi móm mém run rẩy, cả người co rúm lại trên chiếc ghế đẩu:

- Chú mày biết nó trăn trối câu gì không? Nó thì thào vào tai tao... Nó bảo: "Anh Bảy ơi... bụng em đau quá... nhưng em vẫn đói... Mẹ nướng thêm cho em một chiếc bánh đất trắng nữa đi... Em muốn ăn một chiếc nữa thôi..."

Tiếng cụ Bảy im bặt giữa chừng. Gian bếp chỉ còn lại tiếng củi cháy tàn lách tách và tiếng thở dài nặng nề của lão A Ngưu.

Cụ Bảy gục đầu xuống hai bàn tay, bờ vai gầy rung lên bần bật trong cơn đau đớn của ký ức kinh hoàng năm xưa. Đứa trẻ ấy chết đi với một cái bụng chứa đầy bùn đất khô cứng,

và trước khi nhắm mắt lìa đời, điều duy nhất nó khao khát vẫn là được nhét thêm một tảng bùn nữa vào miệng để xoa dịu cơn đói triền miên.

Lão A Ngưu đặt chiếc điếu cày xuống chân bàn, nhìn tôi bằng ánh mắt u ám:

- Cậu thấy đấy. Năm ấy, người chết vì tắc ruột do ăn đất Quan Âm nhiều không đếm xuể. Người ta chết mà bụng phình to như bụng trâu trương nước,

đem đi chôn phải đào những cái hố thật sâu vì xác nặng trịch như đá tảng. Đất sét nhào nặn thành bánh nuôi sống người ta trong vài ngày, nhưng rồi chính thứ đất ấy chôn vùi lục phủ ngũ tạng của họ xuống mồ sâu.

Lão A Ngưu ngừng lại một nhịp, liếc mắt nhìn ra màn mưa phùn đang giăng kín ngoài hiên nhà, giọng hạ thấp xuống đầy vẻ kiêng dè:

- Người làng này tin rằng, những kẻ chết đi vì ăn đất sét trắng năm ấy không bao giờ siêu thoát được. Bùn đất đã ngấm vào xương tủy,

biến họ thành những con ma thèm bùn, đói đất đời đời kiếp kiếp. Linh hồn của họ vất vưởng quanh các đầm lầy, vách đồi sét, luôn chực chờ để lừa gạt người sống ăn thứ bùn nhơ nhớp ấy.

Tôi nhìn xuống chiếc máy ghi âm trên bàn. Đèn tín hiệu màu đỏ vẫn nhấp nháy đều đặn, ghi lại trọn vẹn từng lời kể rợn cả gáy của cụ Bảy.

Một mối liên kết ma quái dần dần hiện rõ trước mắt tôi.

Ký ức tập thể về những chiếc bánh đất trắng năm 1937 không đơn thuần là một câu chuyện đau lòng về nạn đói.

Đó chính là một vết nứt sâu hoắm trong tâm thức của cả một vùng đất ven sông Tây Giang.

Nỗi ám ảnh cùng cực về việc dùng bùn lầy nặn thành thức ăn để đánh lừa cơn đói đã biến thành một cánh cửa vô hình,

mở đường cho thứ tà ma nhơ nhớp mang tên Quỷ Thực Nê. Nó thao túng ngũ quan, gieo rắc ảo giác vào tâm trí những kẻ đói khát cho đến tận ngày hôm nay.

Bên ngoài, trời đã sập tối hẳn. Mưa phùn vẫn rải những hạt lạnh buốt lên mái rạ mục nát, phát ra những tiếng sột soạt kéo dài như tiếng ai đó đang bò trườn trên vách đất.

Tôi với tay tắt máy ghi âm,

khẽ cúi đầu cảm ơn cụ Bảy rồi theo lão A Ngưu bước ra khỏi gian bếp nồng nặc mùi tro than. Gió đêm từ phía đầm Bồ Tầm thổi thốc vào mặt tôi, mang theo hơi lạnh buốt giá và mùi bùn tanh nồng quen thuộc lẩn khuất trong từng thớ không khí ẩm ướt.

Chương khác

Xem thêm