Bùn Quỷ Thực - Chương 5: Đụn Đất Mọc Lưng Chừng Đồi
Trời vừa hửng sáng, một màn sương đục ngầu giăng kín khắp mặt nước vũng Bồ Tầm. Hơi lạnh buốt giá từ đầm lầy bốc lên quyện chặt với sương muối, phủ một…
Nội dung chương
Trời vừa hửng sáng,
một màn sương đục ngầu giăng kín khắp mặt nước vũng Bồ Tầm. Hơi lạnh buốt giá từ đầm lầy bốc lên quyện chặt với sương muối, phủ một lớp màng trắng bợt bạt lên những tán sậy già và gai góc ven bờ. Cái rét đầu mùa xộc thẳng vào cuống họng, buốt nhức từng kẽ răng.
Sau một đêm co quắp sau tấm vách nứa mục nát,
hai chân tôi tê dại đi vì lạnh và sợ hãi. Bóng đen với chiếc cổ vặn ngược đã biến mất vào làn sương xám xịt từ lúc nào, nhưng ánh nhìn rỗng hoác của hắn vẫn ám chặt lấy gáy tôi, nặng trĩu. Tôi đẩy nhẹ cánh liếp nứa, bước chân ra ngoài bãi đất ẩm.
Ngay dưới mép nước, nơi kẻ đó từng quỳ gập người ngấu nghiến nuốt từng vốc bùn, mặt đất vẫn còn in hằn hai vệt lõm sâu hoắm. Cỏ dại xung quanh dập nát, rũ rượi, dính bết một thứ dịch đen quánh tanh tưởi.
Tôi ghé sát mắt nhìn xuống lớp bùn nhão. Có một chuỗi dấu chân trần còn rất mới. Những dấu chân dài ngoằng,
ngón chân tõe rộng bấm sâu vào nền đất trơn trượt, rỉ ra thứ nước bùn đen ngòm chưa kịp lắng cặn. Dấu chân ấy không hướng xuống đáy nước sâu hoang lạnh, mà quay ngược trở lại, dẫn thẳng lên triền đồi cỏ tranh rậm rạp phía sau lưng đầm lầy.
Tôi siết chặt quai chiếc túi máy ảnh bên hông, bẻ một cành cây khô bên đường làm gậy dò dẫm bước theo.
Đất trên triền đồi dốc đứng, lởm chởm những tảng đá mồ côi và rễ cây trồi lên mặt đất như những búi gân guốc.
Cỏ tranh mọc lút đầu người, sắc nhọn như dao cạo, cứa vào vạt áo khoác phát ra những tiếng xoàn xoạt khô khốc.
Càng leo lên cao, hơi sương lạnh càng quấn chặt lấy hai ống quần, làm da thịt buốt cóng.
Những giọt nước sương dính bùn đen từ đầu ngọn cỏ quệt vào mu bàn tay tôi, rin rít và lạnh ngắt.
Dấu chân trần kia vẫn cắm sâu vào từng bậc đất dốc, bước đi loạng choạng, kéo lê từng vệt bùn dài sẫm màu trên nền đất đỏ khô cằn của sườn đồi.
Khi vượt qua khỏi rặng trúc gai mọc chắn ngang lối mòn, sườn đồi thoai thoải bỗng mở rộng ra một khoảng đất trống.
Tôi sững người dừng bước, gậy chống trong tay suýt trượt khỏi lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh.
Hiện ra trước mắt tôi là hàng chục nấm mồ vô danh nằm rải rác khắp lưng chừng đồi.
Chúng nằm lộn xộn, chen chúc giữa những bụi cỏ tranh xơ xác, hoàn toàn không có bia ký, không có bát hương hay một viên gạch xếp nào để đánh dấu.
Điểm quái dị nhất đập thẳng vào mắt tôi chính là màu sắc của những nấm đất này.
Toàn bộ sườn đồi Vọng Ngưu Đôn vốn dĩ mang chất đất đỏ pha sỏi cứng cằn cỗi, thế nhưng mấy chục nấm mồ kia lại được đùn lên bằng thứ bùn đen nhẫy, bóng dầu, đặc quánh y hệt thứ bùn sâu dưới đáy vũng Bồ Tầm.
Từng đụn đất đen trồi lên khỏi mặt cỏ úa vàng, trông giống như những chiếc bụng trâu trương phềnh sau cơn lũ lớn. Mặt ngoài của chúng trơn láng một cách bất thường,
không có một ngọn cỏ nào mọc nổi bên trên. Dưới ánh sáng lờ nhờ của buổi sớm mùa đông, lớp bùn đen óng ánh một thứ nhờn nhợt ghê rợn, rịn ra từng giọt nước đùng đục có váng màu rỉ sắt.
Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt nghẹn ứ nơi cổ họng, chậm rãi bước lại gần một nấm mồ nhô cao nhất ở ngay mép đồi.
Dấu chân bùn ướt mà tôi đuổi theo từ dưới đầm lầy dẫn thẳng tới chân nấm mồ này rồi đột ngột biến mất.
Mùi tử khí tanh nồng bốc lên nặc mũi, đặc quánh đến mức khiến lồng ngực tôi nghẹt lại.
Đó là sự pha trộn kinh khiếp giữa mùi xác rữa thối rữa lâu ngày ngâm trong nước tù và mùi đất sét tanh lòm của lòng đầm Bồ Tầm.
Gió lạnh thổi tạt qua mang theo cái mùi hôi hám ấy đập thẳng vào mặt, làm dạ dày tôi quặn thắt từng cơn buồn nôn dữ dội.
Tôi đưa tay bịt mũi, cố nén cảm giác nôn nao để quan sát kỹ hơn. Bề mặt nấm đất đen nhẫy này chằng chịt những kẽ nứt nẻ ngoằn ngoèo,
sâu hun hút, từ bên trong các khe nứt rỉ ra thứ khói mỏng manh mang theo hơi nóng ấm bất thường. Giữa tiết trời buốt giá làm run rẩy cả xương tủy, một đụn đất ẩm ướt lại tỏa ra hơi ấm, đây là điều hoàn toàn nghịch lý.
Sự tò mò nghề nghiệp cùng giác quan thứ sáu nhức nhối thúc giục tôi. Tôi khom lưng, từ từ đưa bàn tay trần lại gần bề mặt nấm mồ, dừng lại cách lớp bùn đen chừng vài phân.
Một luồng hơi ẩm ấm sực phả vào lòng bàn tay tôi.
Tôi nín thở, hạ thấp tay thêm một chút nữa. Lòng bàn tay tôi cảm nhận được một sự chấn động kỳ dị truyền qua làn không khí lạnh buốt. Đụn đất đen trước mắt tôi đang chuyển động.
Lớp bùn không hề nằm yên. Nó phập phồng co bóp theo từng nhịp đều đặn, chậm rãi nhưng rõ ràng đến mức rùng mình. Nhịp phập phồng ấy nâng lên rồi hạ xuống,
co thắt nhịp nhàng hệt như nhịp đập của một trái tim khổng lồ đang giấu mình dưới lòng đất sâu, hoặc giả là một lồng ngực bằng thịt nát đang cố sức thoi thóp thở từng ngụm hơi tàn trong sự ngột ngạt của bùn lầy.
Mỗi lần đụn đất phập phồng, những kẽ nứt trên bề mặt lại hơi há ra rồi khép lại, đẩy ra từng làn hơi tanh tưởi và những bọt nước bùn li ti nổ tanh tách.
Toàn thân tôi cứng đờ, máu trong huyết quản như đông cứng lại thành đá. Tôi muốn giật tay lại, muốn lùi xa khỏi thứ quái thai bằng đất bùn này,
nhưng ánh mắt tôi bị ghim chặt vào nhịp co bóp ma quái kia. Cả vạt đồi tĩnh mịch đến mức tôi nghe rõ tiếng máu chảy rần rật bên thái dương mình, hòa lẫn với tiếng thở dốc nhọc nhằn hình như phát ra từ chính những kẽ đất đen nứt nẻ dưới chân.
- Tránh xa nó ra! Cậu muốn bị nó kéo tuột xuống làm mồi à?
Một tiếng quát khàn đặc, đanh thép bất ngờ xé toạc màn sương tĩnh mịch.
Tôi giật nảy mình, ngã ngửa ra sau, hai bàn tay đập mạnh xuống nền đất sỏi buốt nhói.
Từ sau bụi gai rậm rạp bên sườn đồi, bóng người cao gầy trong bộ quần áo vải chàm sờn rách bước ra.
Lão A Ngưu lù lù tiến lại, trên vai vác chiếc cuốc sắt hoen gỉ, lưỡi cuốc dính đầy những vệt đất sét vàng vọt đã khô cong.
Khuôn mặt già nua với những nếp nhăn sâu hoắm của lão đanh lại dưới vành nón lá rách tơi tả.
Đôi mắt vàng đục của lão nhìn xoáy vào tôi, rồi quét qua những đụn đất đen đang phập phồng khắp triền đồi, nét mặt nặng trĩu một vẻ u ám thê lương.
Lão vung tay hạ chiếc cuốc sắt xuống đất. Cán gỗ va mạnh vào mặt đá phát ra tiếng "cộp" khô khốc.
- Lão... Lão A Ngưu?
-
- Tôi run rẩy chống tay ngồi dậy, hơi thở vẫn còn gấp gáp
- Mấy thứ này... rốt cuộc là cái gì vậy? Sao đất ở đây lại chuyển động được?
Lão A Ngưu không trả lời ngay. Lão tháo chiếc nón lá xuống,
vỗ nhẹ vào đùi để giũ đi lớp sương muối đọng trên mặt lá cọ, rồi đưa mắt nhìn bao quát cả triền đồi. Gió sớm thổi qua làm bay những sợi tóc bạc lơ thơ trước trán lão, để lộ ra vết sẹo hình vòng cung đen ngòm nơi cẳng tay gầy guộc.
- Tôi đã dặn cậu đêm qua không được ra khỏi phòng, sáng sớm càng không được bén mảng lại gần mé đầm
- Giọng lão trầm đục, nghẹn ngào như có sỏi cát kẹt trong cổ - Cậu tưởng theo chân thứ đó là hay ho lắm sao? Cậu chưa thấy cảnh người ta chết nghẹn vì nuốt bùn nên cậu chưa biết sợ.
Tôi đứng dậy, phủi lớp bụi đất bám ở đầu gối, ánh mắt vẫn không thể dời khỏi đụn đất đen đang khẽ co thắt nhịp nhàng sau lưng lão:
- Đêm qua tôi ở trong căn lán bỏ hoang bên bờ vũng Bồ Tầm. Tôi đã nhìn thấy một bóng người... Hắn ngồi bốc bùn ăn ngấu nghiến. Khi hắn quay đầu lại... đầu hắn vặn ngược ra sau lưng. Sáng nay tôi lần theo dấu chân trần của hắn,
dấu chân dẫn thẳng lên nấm mồ này. Lão A Ngưu, có phải những người chết đói năm ba mươi bảy đang bị chôn ở đây không?
Lão A Ngưu thở dài một hơi nặng nhọc, luồng khói trắng từ miệng lão phả ra tan biến nhanh chóng vào màn sương xám:
- Chôn cất cái gì. Gọi là vùi xác thì đúng hơn. Năm ấy người chết la liệt từ bờ sông Tây Giang rải dài lên tận mé đồi này. Không có hòm ván,
không có vải liệm, đến một manh chiếu rách để đắp lên mặt người chết cũng chẳng đào đâu ra. Người sống lúc đó đói đến mức hai mắt hoa lên, chân tay bủn rủn, lấy đâu ra sức mà đào sâu chôn chặt?
Lão đưa tay chỉ mũi cuốc sắt về phía những đụn đất đen nằm rải rác:
- Mấy chục cái xác trần truồng cứ thế bị quẳng vào mấy cái hố nông choèn đào vội ven đồi. Nhưng đất ở đây cứng lắm, toàn sỏi với đá ong, cuốc xuống chỉ bật ra tia lửa. Thế là người ta phải xuống đầm Bồ Tầm, xúc từng sọt bùn non nhão nhoét gánh ngược lên đây,
đổ ụp lên xác người để lấp đi mùi thối rữa và ngăn chuột bọ, quạ kền kền rỉa thịt. Cậu nhìn xem, bùn đen của vũng sình phủ lên xác chết đói, ngót nghét mấy chục năm trời mà chất đất vẫn không thể hòa lẫn vào nền đất đỏ của núi đồi.
Tôi nhìn theo đầu mũi cuốc của lão, sống lưng lại dấy lên một cơn ớn lạnh:
- Nhưng tại sao đất lại co bóp? Tôi vừa áp tay lại gần, đụn đất này rõ ràng đang đập từng nhịp, giống hệt một cơ thể còn sống.
Ánh mắt lão A Ngưu chùng xuống, đen thẳm và thê lương đến rợn cả gáy. Lão bước tới gần nấm đất nhô cao nhất, chiếc bóng gầy guộc của lão đổ dài trên mặt cỏ đẫm sương:
- Bùn nơi này đã nuốt quá nhiều oán niệm của những kẻ chết đói. Khi một con người chết đi trong cơn thèm khát điên cuồng, khi dạ dày rỗng tuếch cào xé ruột gan cho đến hơi thở cuối cùng,
cái đói ấy không chết theo thể xác. Nó ngấm vào từng thớ thịt, rỉ vào từng thớ bùn bao bọc lấy họ. Bùn đất nuốt oán khí của họ, rồi chính cái oán khí ấy lại nuôi dưỡng đống bùn lầy, biến nó thành một thứ tà lực quái gở.
Lão dừng lại một chút, giọng nói gằn xuống từng tiếng nặng trịch:
- Chúng không bao giờ chịu nằm yên dưới lòng đất. Cứ đến mùa sương muối, vào những ngày giáp hạt đói kém nhất của năm, hơi bùn dưới mồ lại sôi lên. Những kẻ nằm dưới kia vẫn tưởng mình chưa chết,
vẫn đang ra sức há mồm nuốt bùn, nuốt đất, co bóp dạ dày để tìm kiếm một chút no đủ trong cơn mê muội vĩnh hằng. Đất phập phồng là vì ruột gan của họ dưới đó đang quằn quại, đang thèm ăn!
Lời giải thích của lão già làm tôi rùng mình ớn lạnh.
Những ghi chép vụn vặt về Quỷ Thực Nê mà tôi tìm kiếm trong các tập tài liệu cổ ở thư viện tỉnh dần dần hiện hình qua từng câu nói của lão.
Đất đai vùng Vọng Ngưu Đôn này đã bị thứ tà lực đói khát xâm nhiễm quá sâu sắc.
Đói kém năm 1937 không chỉ cướp đi sinh mạng của hàng ngàn con người khốn khổ bên bờ Tây Giang, mà nó còn để lại một vết thương lở loét chưa bao giờ khép miệng trong lòng đất mẹ.
Những nấm mồ tự cựa mình này là minh chứng rùng rợn cho nỗi thống khổ bị phong kín suốt bao năm qua.
- Nếu cứ để thế này...
-
- Tôi ngập ngừng lên tiếng, cổ họng khô khốc
- Chuyện gì sẽ xảy ra?
- Nếu không trấn áp, bùn sẽ theo mạch nước ngầm tràn ngược vào giếng khơi,
ngấm vào đất canh tác của thôn xóm. Lão A Ngưu siết chặt cán cuốc sắt, các khớp ngón tay trắng bệch ra. Người uống phải nước bùn ấy, ăn hạt lúa mọc trên thứ đất ấy, dần dần thần trí sẽ lú lẫn, mắt mờ đi rồi biến thành những kẻ thèm ăn đất cát như họ. Ngày xưa... khi chuyện này bùng phát,
trong làng từng có người phải đứng ra dùng thuật trừ tà của Hương Bà để trấn giữ những nấm đất này, nhưng bao năm qua... người biết phép tắc ấy đã lần lượt nằm xuống cả rồi.
Gió lạnh trên đồi bỗng nhiên thổi mạnh hơn, rít qua những thân trúc gai nghe như tiếng rên rỉ than khóc của hàng trăm người đói khát. Màn sương muối bao phủ sườn đồi hình như quánh lại, dày đặc hơn, che khuất cả rặng cây phía xa xa.
Đúng lúc đó, một âm thanh lép bép khô khốc vang lên ngay dưới chân chúng tôi.
Tôi và lão A Ngưu đồng loạt cúi đầu nhìn xuống.
Nấm mồ bùn đen cao nhất trước mặt bỗng nhiên rung chuyển dữ dội. Lớp bùn trơn láng bóng dầu trên đỉnh mồ bắt đầu căng phồng lên như một cái bọc nước sắp vỡ. Những kẽ nứt nẻ ngoằn ngoèo xé toạc ra, để lộ một khoảng trống đen ngòm bên trong lòng đất ẩm.
Tiếng bùn nhão cọ xát lạo xạo mỗi lúc một lớn hơn, kèm theo mùi tanh tưởi bốc lên ngùn ngụt, nồng nặc đến mức khiến hai mắt tôi cay xè, nước mắt giàn giụa.
Mặt bùn đen trên nấm mồ bỗng nứt toác, để lộ ra một bàn tay khô quắt xám xịt đang nắm chặt lấy một nhúm lá ngải cứu khô đã ngả sang màu đen thẫm.