Bùn Quỷ Thực - Chương 2: Bát Cơm Nguội Của Lão A Ngưu
Mùi rơm ẩm và khói trấu nồng nặc phả ra từ phía sau vách nứa, xua bớt thứ mùi sình lầy tanh lợm vừa bám chặt lấy tôi ngoài bãi sông. Tôi dùng hết sức…
Nội dung chương
Mùi rơm ẩm và khói trấu nồng nặc phả ra từ phía sau vách nứa, xua bớt thứ mùi sình lầy tanh lợm vừa bám chặt lấy tôi ngoài bãi sông. Tôi dùng hết sức bình sinh giật mạnh gót giày ra khỏi hố bùn nhớp nháp,
loạng choạng bước thêm mấy chục bước trĩu nặng trên mặt đường lổm chổm sỏi đá, cuối cùng cũng chạm đến mép hiên của căn quán nhỏ dựng tạm ven đường dẫn vào làng Vọng Ngưu Đôn.
Mái quán lợp bằng lá gồi đã mục rữa từng mảng, rũ xuống lòa xòa như mớ tóc rối của người chết đuối.
Dưới bóng tối nhập nhoạng của buổi chập tối, căn chòi bằng tre nứa này xiêu vẹo nghiêng về một phía, tựa hồ một cơn gió lớn từ mép sông Tây Giang thổi thốc lên cũng đủ sức bẻ gãy những chiếc cọc chống khẳng khiu.
Trên một thanh tre vắt ngang mái hiên, người ta treo một chiếc đèn bão đã cáu bẩn muội than.
Ngọn lửa vàng vọt bằng hạt ngô leo lét chao đảo sau lớp thủy tinh đục ngầu, tỏa ra mùi dầu hỏa hăng nồng, đặc quánh khói đen bay là là trên đầu.
Gió bãi bồi luồn qua các khe liếp thưa thớt, rít lên từng hồi run rẩy nghe buồn bã khôn xiết.
Trong quán trống huếch trống hoác.
Không có tiếng chuyện trò ồn ã của khách đi đò, cũng không có người bán hàng đứng đon đả mời chào.
Chỉ có một chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách đất nứt nẻ và vài ba cái ghế đòn con bằng gỗ mộc đã mòn vẹt bốn góc.
Ở chiếc bàn con góc trong cùng, nơi ánh đèn dầu bão rọi tới yếu ớt nhất, có một bóng người đang ngồi bất động.
Đó là một ông lão gầy gò, lưng còng rạp xuống như một thân cây khô bị bão đánh dập. Ông mặc chiếc áo cánh nhuộm củ nâu bạc phếch,
hai vai áo vá chằng vá đụp bằng những miếng vải vụn khác màu, cổ áo sờn rách để lộ hai xương quai xanh nhô cao gồ ghề. Cả thân hình ông rút lại trong bóng tối, tựa một đống giẻ rách bị ai đó bỏ quên giữa chốn đồng không mông quạnh.
Tôi bước qua bậu cửa thấp lè tè, dẫm lên nền đất nện đã mòn lõm từng chỗ. Tiếng đế giày bết bùn va vào đất vang lên lẹt xẹt, làm kinh động không gian tù đọng.
Ông lão không ngước nhìn lên. Đôi mắt trũng sâu của ông dán chặt xuống mặt chiếc bàn tre trước mặt.
Tôi dừng chân, kéo chiếc ghế đòn đối diện lùi ra một chút rồi cẩn thận ngồi xuống.
Đặt ba lô bạt lên đùi, tôi đưa mắt nhìn mặt bàn tre mốc thếch.
Trên bề mặt phủ một lớp bụi mỏng màu xám tro, chỉ có một bát sành da lươn đã sứt mẻ gần nửa miệng bát.
Trong bát không có thịt cá, cũng chẳng có chút rau xanh hay nước canh chan vào.
Đáy bát chỉ đựng một vốc cơm nguội khô khốc, những hạt gạo rời rạc, ngả sang màu vàng ệch và quắt queo lại vì để gió thổi quá lâu.
Cạnh bát sành là một nhúm muối hạt xám xịt, ẩm ướt, hạt muối to tướng đóng thành từng tảng nhỏ đục ngầu tạp chất.
Trong đôi tay gầy guộc chỉ bọc một lớp da mồi mỏng dính,
những đường gân xanh nổi chằng chịt như rễ si già bám trên đá, ông lão đang cầm một đôi đũa tre so le một dài một ngắn. Ông cẩn thận dùng đầu đũa gắp từng hạt cơm nguội một cách chậm rãi, nhón thêm một hạt muối hạt, rồi đưa vào miệng.
Cơ hàm của ông co bóp nhọc nhằn. Tiếng hạt cơm khô cứng bị nghiền vỡ dưới những chiếc răng già nua lạo xạo vang lên giữa gian quán tĩnh mịch. Ông nhai thật lâu,
nhai kỹ lưỡng đến mức từng thớ cơ trên gò má nhô cao giần giật theo từng nhịp, giống như đang nghiền ngẫm một thứ cao lương mỹ vị hiếm có trên đời.
Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt để xua tan cảm giác khô khốc nơi cổ họng, chủ động cất tiếng phá vỡ sự im lặng ngột ngạt:
- Bác ơi, quán này còn nước nóng không? Cho cháu xin một bát chè xanh ấm bụng với. Đi đò qua sông Tây Giang gió lạnh quá.
Ông lão vẫn không ngẩng đầu. Bàn tay cầm đũa dừng lại trong không trung vài giây,
rồi ông dùng ngón trỏ khều chiếc ấm sành cũ bọc trong rổ rơm bên cạnh, đẩy nhẹ về phía tôi. Miệng ấm sứt một mảng to tướng, tỏa ra chút hơi ấm mong manh cùng mùi lá vối nấu đặc chát ngắt.
- Nước đó. Tự rót lấy mà uống. Người xứ khác tới làng này làm gì vào giờ này?
Giọng ông khàn đặc, khô khốc như tiếng hai thanh tre cọ vào nhau giữa trưa hè hạn hán. Từng âm thanh phát ra nặng nhọc, đứt quãng, mang đậm thổ âm của dải đất Lĩnh Nam cổ.
Tôi cảm ơn một tiếng, với lấy chiếc bát đàn bằng sành nằm úp trên khay gỗ,
rót một bát nước đầy. Hơi nước ấm phả lên mặt làm dịu bớt cái lạnh buốt đang ngấm vào da thịt sau sự cố ngoài mép sông. Tôi nhấp một ngụm nhỏ, vị chát đắng lập tức xông thẳng lên vòm họng, đọng lại sau cùng là một chút ngọt hậu nhàn nhạt.
Tôi tháo chiếc túi bạt đeo chéo, lấy ra cuốn sổ tay tác nghiệp bọc da và chiếc bút máy cài sẵn bên mép túi. Ánh mắt ông lão lúc này mới liếc nhìn bàn tay tôi,
rồi dừng lại ở cuốn sổ tay và chiếc máy ghi âm kim loại màu xám tro nằm lấp ló trong ngăn kéo. Đôi lông mày bạc trắng, thưa thớt của ông hơi nhíu lại, vẻ cảnh giác hiện rõ trên khuôn mặt khắc khổ đầy nếp nhăn sâu hoắm.
- Cháu là Tô Triều Hành, người làm công việc ghi chép chuyện cũ
- Tôi từ tốn giới thiệu, cố gắng giữ giọng điệu hòa nhã và tôn kính nhất có thể - Cháu từ trên tỉnh xuống đây, muốn tìm hiểu về những ký ức xưa của vùng đất bãi bồi này.
Nghe người lái đò bến dưới bảo thôn ta là nơi còn lưu giữ nhiều chuyện cũ nhất về đợt hạn đói năm ba mươi bảy, lại có cả những truyền thuyết dân gian về thứ gọi là Quỷ Thực Nê vùi thân trong bùn lầy.
Cháu ghé quán mong được nghe người già trong làng chỉ bảo đôi điều.
Khi hai chữ "năm ba mươi bảy" vừa thốt ra khỏi miệng tôi, không khí trong quán nước bỗng chốc như ngưng đọng lại.
Ngọn đèn bão trên đầu chao đảo mạnh, bóng tối trên vách đất giật nảy một cái. Bàn tay cầm đôi đũa tre của ông lão bỗng nhiên run rẩy dữ dội. Sự run rẩy không phải vì tuổi già sức yếu,
mà là một cơn co giật phát ra từ tận đáy lòng sâu kín, khiến các khớp ngón tay co quắp lại. Đôi đũa tre va lách cách vào mép bát sành mẻ.
Hai hạt cơm nguội khô khốc kẹp dở giữa đầu đũa trượt ra, rơi lả tả xuống mặt bàn tre mốc thếch, bật nảy lên rồi lăn tròn vào một khe hở trên mặt dát tre.
Ông lão trừng mắt nhìn hai hạt cơm vừa rơi xuống. Khuôn mặt già nua bỗng chốc co rúm lại, hiện rõ một nỗi đau đớn và hoảng loạn đến tột cùng. Ông vội vàng buông đũa, vươn những ngón tay khô ráp như cành củi mục ra,
luống cuống bới tìm kẽ nứt của chõng tre để moi hai hạt cơm lên. Ngón tay run rẩy gẩy được hạt cơm dính đầy bụi tro đặt trở lại lòng bàn tay, ông đưa thẳng lên miệng nuốt chửng, không buồn thổi đi lớp bụi bẩn bám xung quanh.
Nuốt xong, ông thở hắt ra một hơi dài rười rượi, ngực phập phồng dưới lớp áo rách rưới. Mãi một lúc sau, ông mới ngẩng mặt lên nhìn thẳng vào tôi.
Dưới ánh đèn dầu chập chờn,
tôi nhìn thấy tròng mắt của ông đục ngầu một màu vàng khè, xung quanh con ngươi chằng chịt những tia máu đỏ lòm. Da mặt ông sạm đen, dính sát vào xương gò má, trông không khác gì một cái đầu lâu bọc da khô vừa được đào lên từ dưới huyệt mộ.
- Cậu trẻ...
-
- Ông lão cất giọng, âm thanh khàn khàn như rít qua kẽ răng
- Cậu từ thành phố sung sướng về đây, ăn no mặc ấm, biết cái quái gì về năm Đinh Sửu ba mươi bảy mà đòi ghi với chép? Người ta no bụng thì thích bàn chuyện ma quỷ,
thích thêu dệt những chuyện rùng rợn để mua vui. Còn lũ già sót lại như lão A Ngưu này... nghe đến hai chữ đói kém là xương tủy đã lạnh toát rồi.
- Thưa bác A Ngưu, cháu không đến đây để mua vui
- Tôi nhìn thẳng vào mắt ông, giọng chân thành - Cháu muốn ghi lại đúng sự thật. Ký ức của người xưa phải được chép lại, nếu không theo thời gian, những gì cha ông từng chịu đựng sẽ tan biến vào bùn đất Tây Giang, không còn ai nhớ đến nữa.
Lão A Ngưu im lặng. Ông nhìn tôi chằm chằm hồi lâu, ánh mắt đục ngầu như muốn soi thấu xem trong lời nói của tôi có chứa sự dối trá nào không. Sau đó, lão buông thõng hai tay xuống mặt bàn, những khớp xương gồ ghề đập nhẹ lên mặt tre kêu lộc cộc.
Gió bên ngoài bỗng thốc mạnh vào mép liếp quán, mang theo hơi ẩm nồng nặc và mùi hôi thối quen thuộc từ bãi sình lầy mé sông. Ngọn đèn dầu bão phụt khói đen mù mịt, ánh lửa chao nghiêng in bóng hai chúng tôi lên vách đất thành hai vệt đen kỳ dị, méo mó.
- Năm đó... trời không cho ai sống cả
- Lão A Ngưu bắt đầu nói, giọng trầm xuống thành một âm điệu rầu rĩ, xa xăm - Tháng tư hạn hán nứt toác đồng ruộng,
đất nẻ sâu cả sải tay, rễ lúa cháy khô thành than đen ngoài đồng. Đến tháng sáu, nước từ thượng nguồn đổ về ngập trắng xóa cả dải bãi bồi Vọng Ngưu Đôn này. Lúa mới trổ đòng bị ngâm nước mười ngày, thối rữa mục nát nổi lềnh bềnh như xác chuột.
Lão chỉ tay về phía màn đêm đen kịt ngoài cửa quán, nơi có con đường đất dẫn ra bờ sông Tây Giang.
- Nước rút đi, để lại cả cánh đồng toàn bùn đen hôi thối.
Không có một hạt thóc nào sót lại.
Nhà nào khá giả còn vài thúng ngô khô giấu trên gác bếp thì bị cướp phá sạch trơn.
Đầu tiên, người ta bứt sạch lá chuối non, ngọn rau dại ven bờ mương.
Sau đó bới rễ cỏ tranh, rễ lục bình dưới đầm để nhai.
Nhai đến rách toạc cả khóe miệng, nuốt xuống nghẹn ứ ở cổ họng, đi ngoài ra toàn máu tươi.
Nhưng rễ cỏ tranh cũng hết.
Cả cái làng này hơn ba trăm miệng ăn, sáng mở mắt ra chỉ thấy tiếng người rên xiết rồi nằm lả đi bên bậu cửa.
Lão A Ngưu dừng lại, với lấy bát sành cơm nguội. Lão dùng đầu ngón tay nhặt một hạt cơm khô cứng bỏ vào miệng, nhai thật chậm. Tiếng hạt gạo vỡ giòn tan rôm rốp giữa hai hàm răng lão vang lên khô khốc.
- Đói quá thì làm thế nào? Cậu từng nhịn đói ba ngày bao giờ chưa? Chưa đâu. Cậu chưa biết cảm giác ruột gan bị cào xé như có bàn tay thọc vào bóp nát đâu. Lúc đó,
đầu óc người ta mụ mị đi. Mắt mờ, tai lùng bùng, trong mũi chỉ ngửi thấy mùi đất ẩm. Rồi người ta bắt đầu cắm mặt xuống bãi bùn ngoài bờ sông.
Bàn tay tôi vô thức nắm chặt chiếc bút máy. Vết bùn bám ở cổ chân tôi ngoài đường lúc này hình như vẫn còn lưu lại cảm giác lạnh toát, trơn nhẫy.
- Ăn bùn?
-
- Tôi hỏi khẽ.
- Đúng, bới bùn mà nuốt
- Lão A Ngưu cười khẩy, nụ cười méo mó làm các nếp nhăn trên mặt lão dồn lại như một bầy giun đất - Không phải thứ bùn đất cát lạo xạo trên mặt này đâu. Phải lội sâu xuống những bãi lầy nước tù ven Tây Giang,
thọc tay sâu xuống ba thước đất để móc thứ bùn non màu xám trắng lên. Thứ bùn đó mịn như bột nếp, trơn tuột, tanh tưởi mùi rong rêu thối rữa. Người ta nắm bùn non thành từng vắt tròn, đem phơi nắng cho se lại rồi nhét thẳng vào họng mà nuốt.
Lão chép miệng, trong khóe mắt trũng sâu ứa ra một giọt nước mắt đục ngầu, lăn qua gò má nhăn nheo rồi rớt xuống mép bát sành mẻ.
- Nuốt bùn non vào bụng thì êm ru, lừa được cái dạ dày đang cào xé rằng mình đã no.
Nhưng bùn vào ruột rồi thì không tiêu được.
Đất sét gặp nhiệt trong người thì đông cứng lại, vón thành từng cục đặc quánh như đá tảng.
Bụng người nào người nấy trương phình lên như cái trống cái, trướng to đến mức da bụng mỏng dính nhìn thấy cả những sợi gân xanh ngoằn ngoèo bên dưới.
Chân tay thì teo tóp lại như cành củi khô, cổ khẳng khiu không đỡ nổi cái đầu, nhưng cái bụng thì to tướng, nặng trịch.
Họ không đi nổi nữa, chỉ biết nằm bò dưới đất, kêu khóc van xin người khác rạch bụng mình ra để lôi đất đá ra ngoài.
Rồi từng người, từng người một nghẹn thở mà chết trong đống bùn đất do chính mình thải ra.
Lão A Ngưu nói bằng một giọng đều đều, không có chút cao giọng, nhưng từng từ từng chữ rớt vào tai tôi buốt lạnh như những giọt nước đá rỉ ra từ vách hang sâu.
Tôi nhìn vốc cơm nguội khô khốc trong chiếc bát sành mẻ trước mặt lão. Những hạt gạo vàng ệch, thô kệch, không có chút bóng bẩy của giống gạo dẻo hiện đại, vậy mà lão coi nó như tính mạng, rơi hai hạt cũng phải moi bằng được dưới kẽ tre lên nuốt vào bụng.
- Thế còn... Quỷ Thực Nê?
-
- Tôi khẽ cất tiếng hỏi tiếp, hướng câu chuyện về truyền thuyết mà mình đang theo đuổi
- Những người chết vì nuốt bùn đó... dân gian truyền lại rằng họ biến thành thứ quái dị vùi mình dưới lòng sông?
Lão A Ngưu đột ngột ngừng nhai.
Ánh mắt lão từ từ chuyển từ bát cơm sành sang nhìn chằm chằm vào tôi. Trong đáy mắt vàng đục của lão lóe lên một tia sáng kỳ dị, vừa kinh hãi, vừa mang theo một sự căm hận sâu kín đã bị chôn vùi hàng chục năm ròng dưới lớp đất thời gian.
- Quỷ Thực Nê không phải do trời sinh ra
- Lão A Ngưu thì thào, giọng nói chìm nghỉm trong tiếng gió rít qua vách nứa - Nó sinh ra từ cái đói. Khi người ta đói đến mức quên mất mình là người,
thì bùn đất dưới chân cũng biến thành ma quỷ kéo lê linh hồn họ xuống đáy sâu. Cậu bảo cậu nghe thấy tiếng thở dài dưới đất ven đường lúc nãy?
Tôi giật thót mình. Tôi chưa từng kể với lão về việc bước chân mình bị níu lại ở hố bùn ngoài đầu làng, cũng chưa hé răng nửa lời về âm thanh thở dài buốt lạnh vang lên từ lòng đất tối tăm.
Lão A Ngưu nhìn thấu sự ngỡ ngàng của tôi, khóe môi nhếch lên một nụ cười thảm hại:
- Đừng ngạc nhiên. Đất làng này là đất chết. Máu và bùn năm ba mươi bảy ngấm sâu vào ba thước đất dưới chân,
chưa từng khô bao giờ. Thứ trườn lết dưới bùn lầy ven bờ sông kia... nó không bao giờ no đâu. Nó vẫn đang tìm kẻ thay thế để nhét đầy bùn đất vào họng.
Lão run rẩy vươn tay cầm lấy đôi đũa tre, lại cẩn thận gắp lấy một hạt cơm nguội duy nhất,
chấm vào đống muối hạt xám xịt rồi bỏ vào mồm. Lão nhắm nghiền mắt lại, tiếp tục nhai trân trọng từng hạt một cách chậm rãi, như thể trên thế gian này ngoài hạt cơm cứng queo kia ra, chẳng còn thứ gì đáng để lão bận tâm nữa.
- Ăn đi...
-
- Lão lẩm bẩm trong miệng, tiếng nhai lạo xạo ngắt quãng lời nói thì thào
- Chỉ có những kẻ từng thấy ruột gan mình thối rữa vì đất bùn mới biết hạt cơm sống này quý giá đến mức nào. Còn sống để nhai được cơm... là còn chưa bị chúng nó kéo xuống hố.
Gió ngoài trời bỗng nổi lên ầm ầm, thổi bay tung tấm liếp nứa che cửa quán. Luồng không khí lạnh buốt tràn vào cuốn theo mùi bùn ươn tanh nồng,
làm ngọn lửa đèn bão chực tắt. Trên nền đất nện ẩm ướt ngay trước bậu cửa quán, một vệt nước màu xám đục đang từ từ rỉ ra từ lòng đất, loang rộng thành hình một bàn tay khẳng khiu năm ngón.