Bùn Quỷ Thực - Chương 7: Tiếng Hát Ru Cụ Bà Cuối Làng
Cả đêm hôm ấy tôi không tài nào chợp mắt. Ba tiếng gõ cộc cộc khô khốc lên nan tre sát sau gáy cứ dội đi dội lại giữa hai thái dương, buốt nhói từng cơn…
Nội dung chương
Cả đêm hôm ấy tôi không tài nào chợp mắt. Ba tiếng gõ cộc cộc khô khốc lên nan tre sát sau gáy cứ dội đi dội lại giữa hai thái dương,
buốt nhói từng cơn theo nhịp tim đập loạn. Tôi ngồi chết trân trên chiếc ghế đẩu mục nát cho tới tận khi ngọn đèn dầu cạn bấc, tự lụi tàn trong bóng tối dày đặc, nhường chỗ cho thứ ánh sáng nhờ nhờ xám xịt của buổi bình minh mùa đông miền Lĩnh Nam.
Mưa phùn bắt đầu giăng mắc từ lúc trời chưa rạng.
Khi tôi đẩy then cài cánh cửa liếp bước ra hiên, một luồng gió lạnh ẩm ướt thốc thẳng vào mặt, mang theo hơi nước buốt giá làm tôi khẽ rùng mình. Thung lũng Vọng Ngưu Đôn chìm ngập giữa một tấm màn sương đục ngầu,
dày đặc đến mức đứng ở bậc thềm cũng khó lòng nhìn rõ hàng rào tre cắm cách đó mười bước chân. Mưa không nặng hạt, từng hạt nước nhỏ li ti bám đầy lên tóc, lên vai áo khoác, đọng lại thành những giọt nước lấp lánh như bụi bạc.
Dưới chân tôi, nền đất đỏ đặc trưng của vùng đồi ven Tây Giang đã ngậm no nước mưa,
biến thành một lớp bùn nhão quánh, trơn trượt vô cùng. Mỗi bước đi của tôi đều phát ra âm thanh lép bép nặng nề. Lớp bùn đỏ dẻo quánh như hồ dán, bám chặt lấy đế giày cao su, trĩu nặng từng bước chân.
Tôi bước vòng ra mé chái nhà, nơi có khung cửa sổ bằng nan tre ọp ẹp dẫn vào gian buồng tôi vừa trải qua một đêm dài đằng đẵng. Tôi muốn tận mắt kiểm tra xem thứ gì đã gõ vào vách gỗ đêm qua.
Mặt đất sát chân tường nứa nham nhở những rãnh nước chảy xiết do nước từ mái gianh dột xuống. Lớp đất ẩm bị xới tung lên,
nhưng tất cả dấu vết rễ cây bị nhai vụn hay những vệt cào xé lạo xạo đều đã bị màn mưa phùn buổi sớm làm cho nham nhở, xóa nhòa thành những vũng nước đục ngầu. Dưới bậu cửa sổ bằng tre chỉ trơ trọi vài cọng rơm ướt sũng đang rữa nát.
Cảm giác ngột ngạt, đè nén trong lồng ngực khiến tôi không muốn quay lại căn nhà lá ẩm mốc của lão A Ngưu thêm một giây nào nữa. Lão già vẫn còn ngủ say sau khi uống cạn bát nước gừng nóng đêm qua,
tiếng thở khò khè của lão thỉnh thoảng lại vọng ra qua khe liếp, khô khốc như tiếng củi nỏ cọ vào nhau. Tôi kéo cao cổ áo khoác, quyết định rảo bước ra lối mòn đất đỏ dẫn về phía bìa rừng trúc hoang.
Con đường mòn men theo sườn đồi quanh co, hai bên bờ cỏ dại mọc lút đầu gối,
đẫm nước mưa rạp cả xuống lối đi. Càng đi xa khỏi xóm nhỏ, sương mù càng quánh lại. Rừng trúc cổ thụ hiện ra lờ mờ sau màn mưa bụi, thân trúc mảnh dẻo cọ xát vào nhau dưới sức gió bấc, phát ra những thanh âm kẽo kẹt rợn cả gáy.
Đúng lúc bước qua một mô đất cao, mắt tôi bất chợt bắt gặp một bóng người phía trước.
Cách tôi chừng hai mươi bước chân, trên con đường mòn lầy lội, bóng lưng một bà lão đang lặng lẽ tiến bước giữa màn mưa phùn.
Bà lão vận một chiếc áo dài bằng vải chàm thô, thứ màu xanh đen pha sắc tím than đặc trưng của người vùng cao Lĩnh Nam thuở trước.
Tà áo chàm ấy đã sờn bạc nhiều chỗ, hai bên vai áo vá chằng chịt những mảnh vải màu xám tro, rủ xuống quá đầu gối.
Đầu bà đội một chiếc nón lá cũ kỹ rách vành, mép nón sụp xuống che khuất hoàn toàn khuôn mặt và gáy.
Điều khiến tôi sững sờ là dáng đi của bà lão.
Đường đất sau cơn mưa trơn trượt như bôi mỡ, ngay cả một thanh niên khỏe mạnh mang giày leo núi như tôi cũng phải bấm chặt từng ngón chân,
dò dẫm từng bước để tránh ngã nhào. Vậy mà bà lão kia lại bước đi vô cùng nhẹ nhàng, hai bàn chân thoăn thoắt lướt trên mặt bùn, tà áo chàm bay nhè nhẹ theo từng cử động dẫu gió bấc đang thổi rát mặt.
- Bà ơi!
-
- Tôi cất tiếng gọi lớn, phá tan sự tĩnh mịch của cánh rừng
- Bà đi đâu sớm thế này?
Tiếng gọi của tôi vang vào vách đá ven đồi rồi dội ngược lại, vỡ vụn giữa tiếng gió xào xạc.
Bà lão hình như không nghe thấy. Chiếc nón lá rách vành vẫn hướng thẳng về phía trước, tà áo chàm tiếp tục nhấp nhô giữa màn mưa bụi trắng xóa. Bà không hề ngoái đầu lại, nhịp chân vẫn đều đặn, khoan thai lướt đi trên mặt đường dốc.
Tôi vội vã rảo bước đuổi theo. Bùn đỏ bắn tung tóe lên ống quần bò ướt sũng, những hòn sỏi nhọn đội lên dưới đế giày làm lòng bàn chân đau nhói. Tôi tăng tốc, sải những bước dài gấp đôi, hy vọng sẽ bắt kịp bóng áo chàm chỉ sau vài nhịp thở.
Thế nhưng, một chuyện kỳ quặc xảy ra khiến da đầu tôi tê rần.
Dù tôi chạy nhanh đến mức thở dốc, hai lá phổi ran rát vì hít phải luồng khí lạnh buốt, khoảng cách giữa tôi và bà lão vẫn không hề thay đổi. Mười lăm bước, rồi vẫn đúng hai mươi bước chân. Bà lão chỉ bước từng bước ngắn,
thong thả như người đi dạo trong vườn nhà, nhưng mỗi bước của bà lại vượt qua một quãng đường dài đến mức phi lý. Tôi chạy nhanh thì bóng áo chàm lướt nhanh, tôi dừng lại thở dốc thì chiếc nón lá phía trước cũng chậm lại theo đúng một nhịp điệu cố định.
Giác quan thứ sáu trong người tôi bắt đầu căng lên, đánh thức từng tế bào cảnh giác.
Tôi khẽ lấy lại bình tĩnh qua cánh mũi, chuẩn bị đón nhận cái mùi bùn rữa nồng nặc và tanh tưởi từng bám riết lấy tôi suốt những ngày qua ở đầm Bồ Tầm. Nhưng không hề có thứ mùi hôi hám của xác chết đói hay bùn lầy giáp hạt.
Tạt qua sống mũi tôi lúc này là một làn hương hoàn toàn khác biệt.
Đó là mùi thơm thanh nhẹ, ấm áp của vỏ bưởi phơi khô được đốt trên than củi, hòa lẫn với mùi lá tràm cay nồng và hương trầm cổ truyền phảng phất. Mùi hương ấy tinh khiết đến lạ lùng,
bay bổng giữa làn mưa phùn buốt giá, xua tan đi cảm giác ẩm mốc tanh tao của bùn đất xung quanh. Mùi hương này rất đỗi quen thuộc, giống hệt thứ mùi trầm hương mà các thầy cúng, các bà đồng bản địa thường dùng trong các nghi lễ tẩy uế trừ tà từ thời xa xưa.
Mùi hương bưởi khô dẫn lối cho tôi, làm tan biến phần nào nỗi sợ hãi đang thắt nghẹt nơi cổ họng. Tôi không cất tiếng gọi nữa, chỉ lẳng lặng bám theo bóng áo chàm sờn bạc đang dẫn sâu vào lòng rừng trúc.
Càng đi sâu, con đường mòn càng thu hẹp lại, hai bên trúc mọc dày đặc, đan cài vào nhau tạo thành một vòm mái che u tối. Ánh sáng ban ngày ở đây mờ mịt, chỉ còn le lói vài vệt sáng bàng bạc xuyên qua kẽ lá đẫm sương.
Đến một khúc ngoặt hiểm trở, nơi vách đồi thụt vào tạo thành một khoảng đất trống rậm rạp dây leo và cỏ dại, hiện ra phế tích của một ngôi miếu cổ.
Ngôi miếu nhỏ chỉ cao chừng đầu người, mái ngói âm dương đã sụp đổ hơn một nửa,
rêu xanh phủ kín những bức tường gạch nung nứt nẻ. Trước cửa miếu mọc sừng sững một gốc trúc cổ thụ to bằng bắp đùi người lớn, thân trúc đen bóng, rễ cây trồi lên mặt đất uốn lượn như những con rắn khổng lồ bám chặt vào chân móng gạch.
Bóng áo chàm bước đến trước gốc trúc cổ thụ ấy.
Bà lão dừng chân lại, bóng lưng gầy guộc hơi nghiêng về phía ngôi miếu hoang tàn. Trong một phần nghìn giây ngắn ngủi,
tôi thấy chiếc nón lá hơi ngước lên, để lộ ra góc nghiêng của một khuôn mặt nhăn nheo với làn da xám ngoét vì thời gian, nhưng đôi mắt bên dưới vành nón lại sáng rực một cách kỳ lạ.
Bà lướt vòng ra phía sau thân trúc đen.
- Chờ đã cụ ơi!
-
- Tôi vội hô lên, lao cả người về phía trước, bất chấp lớp bùn trơn trượt suýt làm tôi trượt ngã dúi dụi.
Tôi vòng qua thân cây trúc cổ thụ, hai tay giơ ra định níu lấy vạt áo chàm.
Nhưng sau thân trúc không có một bóng người.
Chỉ còn lại một khoảng đất trống ngổn ngang gạch vụn và những bụi tầm gai ướt đẫm nước mưa. Phía sau miếu là vách đá dựng đứng rêu phong,
tuyệt nhiên không có đường thoát nào khác. Màn sương mù mỏng tanh khẽ cuộn tròn lại một vòng rồi tan biến vào không trung, mang theo mùi hương vỏ bưởi khô thanh khiết lụi tàn dần giữa không khí ẩm ướt.
Tôi đứng chôn chân tại chỗ, ngực phập phồng thở dốc, mắt mở trừng trừng nhìn xuống mặt đất dưới chân gốc trúc.
Đất ở đây mềm nhũn, nhão nhoét vì hứng trọn nước mưa dột từ vòm trúc bên trên rớt xuống. Vũng bùn đỏ tươi quánh đặc như một chậu cháo loãng. Nhưng trên nền bùn ấy, ngoài dấu giày leo núi to bản và nham nhở của chính tôi vừa in hằn sâu hoắm, hoàn toàn phẳng lặng.
Không hề có một vết lõm, không có một vết gót chân hay ngón chân nào của người vừa đứng ở đây. Lớp bùn lầy nguyên vẹn như thể chưa từng có bất kỳ sinh vật nào đặt chân qua suốt hàng chục năm ròng rã.
Gáy tôi lạnh toát. Tôi lùi lại nửa bước, lưng va phải thân trúc đen buốt giá.
- Này! Thằng nhóc kia! Mày làm cái giống gì ở đấy thế hả?
Một tiếng quát tháo the thé vang lên từ phía lối mòn sau lưng làm tôi giật bắn mình.
Tôi quay phắt lại. Một người đàn ông trung niên mặc áo tơi lá cọ,
chân đi ủng nhựa xỉn màu đang đứng sững ở khúc ngoặt con đường. Hai vai ông ta gánh một đôi bồ tre đựng đầy mạ non xanh mướt, nước mưa chảy ròng ròng từ chóp nón mê xuống đôi gò má gầy gò khắc khổ.
Thấy tôi đứng ngơ ngác cạnh ngôi miếu sụp, ông ta vội vã đặt gánh mạ xuống vệ đường, bước nhanh tới rồi vươn bàn tay thô ráp, gân guốc giật mạnh cánh tay tôi kéo lùi ra xa khỏi gốc trúc.
Cú giật dứt khoát và mạnh mẽ khiến tôi suýt trượt chân ngã ngửa. Bác nông dân trừng mắt nhìn tôi, lồng ngực phập phồng tức giận:
- Mày từ đâu đến? Có biết đây là chỗ nào không mà dám bén mảng vào? Muốn mất mạng hay sao mà đứng ngây ra trước cửa miếu Hương Bà thế này?
Tôi nuốt một ngụm nước bọt cay đắng, cố gắng lấy lại nhịp thở bình thường:
- Cháu... cháu là người từ tỉnh về ghi chép tư liệu. Cháu vừa thấy một bà cụ mặc áo chàm đi vào đây nên mới đi theo hỏi thăm đường xá...
- Áo chàm?
-
- Nét giận dữ trên mặt người đàn ông lập tức đông cứng lại, thay vào đó là một vẻ kinh hãi tột cùng khiến hai hốc mắt ông ta giật giật liên hồi
- Mày bảo... mày vừa nhìn thấy người mặc áo chàm? Lại còn đi vào gốc trúc này?
- Vâng. Một bà lão đội nón rách, mặc áo chàm sờn vai, người thơm mùi vỏ bưởi khô đốt trên than củi. Cháu vừa đuổi theo bà ấy đến tận đây thì bà ấy biến mất tăm...
Bác nông dân buông tay tôi ra,
lùi lại hai bước, môi dưới run rẩy run bần bật. Ông ta vội vàng chắp hai tay lại trước ngực, hướng về phía ngôi miếu hoang mà vái lia lịa ba vái, miệng lầm rầm khấn vái đôi câu bằng thứ tiếng địa phương Lĩnh Nam cổ rất khó nghe.
Sau khi vái xong, ông ta quay sang nhìn tôi với ánh mắt vừa thương hại vừa kiêng dè, giọng hạ thấp xuống chỉ còn đủ nghe qua tiếng mưa rơi lộp bộp:
- Mày phúc tổ bảy đời còn lớn đấy con ạ. Cái bóng áo chàm ấy... ở cái đất Vọng Ngưu Đôn này, người sống không ai dám nhắc đến tên thật đâu. Người ta chỉ gọi là Hương Bà.
- Hương Bà? Có phải người từng làm lễ trừ tà mà lão A Ngưu nhắc tới?
-
- Tôi sốt sắng hỏi dồn.
- Chứ còn ai vào đây nữa!
-
- Người đàn ông thở hắt ra một hơi khói trắng đục giữa trời đông giá buốt
- Từ cái dạo đói kém năm Đinh Sửu 1937, người chết rải rác khắp bờ sông Tây Giang, bùn ma trỗi dậy đòi nuốt người sống.
Chính Hương Bà là người đã lập đàn tràng ở cái miếu này suốt bốn mươi chín ngày đêm, đốt hàng gánh vỏ bưởi khô và trầm hương để trấn giữ cửa rừng, không cho tà khí từ đầm Bồ Tầm tràn vào làng.
Nhưng rồi...
sau cái năm kinh hoàng ấy, bà ấy cũng bặt vô âm tín.
Có người bảo bà ấy kiệt sức mà hóa đi, có người bảo bà ấy đã lấy thân mình chôn sâu dưới gốc trúc này để đè chặt một thứ đáng sợ ghê gớm lắm ở đáy huyệt.
Người đàn ông chỉ tay về phía gốc trúc cổ thụ to lớn, nơi rễ cây trồi lên uốn lượn như xích sắt trói chặt nền gạch vỡ.
- Mấy chục năm nay, dân làng quanh đây đi làm đồng sớm tuyệt đối không bao giờ dám đi qua khúc ngoặt này lúc trời còn mờ sương, nhất là những ngày mưa phùn giáp hạt cuối đông. Người già bảo, những ngày này hơi bùn dưới đất lại trồi lên,
Hương Bà lại hiện về tuần tiễu rừng trúc để canh chừng phong ấn. Ai nhẹ vía mà đụng phải bóng bà ấy, không ốm thập tử nhất sinh thì cũng phát điên phát dại. Cậu may mắn có vía dữ, lại không nói năng bậy bạ nên mới còn đứng vững ở đây đấy!
Nói đoạn, người đàn ông không đợi tôi kịp hỏi thêm câu nào, vội vã quay trở lại chỗ đòn gánh, xốc đôi bồ mạ non lên vai rồi bước thoăn thoắt đi về hướng con đường lớn dẫn ra bờ ruộng, miệng liên tục lẩm bẩm những lời cầu khẩn an lành.
Bóng người nông dân nhanh chóng chìm nghỉm sau màn sương trắng đục và những rặng trúc xào xạc.
Không gian quanh ngôi miếu cổ lại rơi vào sự im ắng lạnh lẽo đến rợn cả gáy.
Mưa phùn vẫn rơi đều đặn, rải những hạt nước lạnh buốt lên vai áo tôi.
Những lời kể chắp vá của người nông dân càng làm cho bức màn bí ẩn bao trùm lên vùng đất Vọng Ngưu Đôn và thảm họa năm 1937 trở nên dày đặc, ma quái hơn bao giờ hết.
Hương Bà là ai?
Bà đã dùng thứ pháp thuật dân gian gì để phong ấn bùn ma?
Và tại sao linh hồn của bà lại dẫn dắt tôi đến tận ngôi miếu đổ nát này?
Tôi chầm chậm bước lại gần gốc trúc cổ thụ một lần nữa.
Cảm giác ớn lạnh vẫn mơn man trên da thịt, nhưng sự tò mò của một kẻ đi tìm sự thật đã lấn át nỗi kinh sợ lờ mờ. Tôi quan sát kỹ từng thớ vỏ cây trúc đen bóng, nhìn xuống những chùm rễ cây ngoằn ngoèo cắm sâu vào lòng đất đỏ ẩm ướt.
Bất chợt, ánh mắt tôi khựng lại ở một khe nứt nhỏ nằm ngay giữa chẽ ba của bộ rễ trúc trồi lên khỏi mặt bùn.
Nơi bóng áo chàm vừa tan biến ban nãy, lấp ló sau một phiến đá xanh vỡ vụn, có một vật gì đó mang sắc màu đỏ rực, hoàn toàn đối lập với màu bùn xám xịt và màu xanh mướt của rêu phong.
Tôi ngồi thụp xuống, đưa bàn tay run rẩy gạt nhẹ mấy cọng rác mục sang một bên.
Đó là một nhúm tro giấy màu đỏ tươi, mịn như bột phấn, nằm gọn ghẽ trong một hốc rễ cây khô ráo. Nhúm tro ấy trông giống như phần sót lại của một lá bùa phong ấn bằng giấy chu sa vừa mới được đốt cháy cách đây không lâu.
Thế nhưng, điều làm các khớp ngón tay tôi đông cứng lại vì kinh ngạc không phải là sự xuất hiện của nhúm tro giấy.
Mưa phùn bên ngoài vẫn giăng mắc trắng trời, từng giọt nước mưa từ tàn lá trúc trên cao liên tục trĩu nặng rơi thẳng xuống vị trí hốc rễ cây. Nhưng kỳ lạ thay,
mỗi khi một giọt nước sắp chạm vào nhúm tro màu đỏ tươi ấy, giọt nước lại trượt vòng qua một bên một cách vô hình, rơi tọt xuống lớp bùn nhão bên cạnh.
Hạt mưa rơi xuống đều trượt đi, không một giọt nước nào làm ướt được nhúm tro đỏ rực rỡ, khô ráo một cách dị thường giữa đất trời đang chìm trong mưa gió bão bùng.