Bùn Quỷ Thực - Chương 10: Lời Thề Giữ Ngôi Miếu Hoang

Chiếc xương gà khô cắm ngược trên nền đất nện đã được lão A Ngưu dùng kẹp sắt gắp bỏ vào một vò sành bịt kín bằng tro bếp, nhưng mùi thịt thối rữa nồng…

Nội dung chương

Chiếc xương gà khô cắm ngược trên nền đất nện đã được lão A Ngưu dùng kẹp sắt gắp bỏ vào một vò sành bịt kín bằng tro bếp, nhưng mùi thịt thối rữa nồng nặc thì vẫn bám chặt lấy từng thớ gỗ mục của căn buồng.

Đêm càng về khuya, cái rét buốt của vùng sông nước Lĩnh Nam càng ngấm sâu qua khe vách nứa.

Tôi nằm trở mình trên chiếc phản gỗ cứng ngắc, hai mắt mở trừng trừng nhìn lên xà nhà phủ đầy bồ hóng.

Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc ngoài gian khách rớt từng giọt khô khốc vào không gian tĩnh mịch, nhưng tuyệt nhiên không cách nào đè nén được nỗi cồn cào đang bóp nghẹt dạ dày tôi.

Cơn đói không xuất phát từ thể xác.

Nó giống một cảm giác trống rỗng truyền từ cuống họng xuống tận đáy lòng, khô rát và nhằng nhẵng bám riết lấy tâm trí.

Mỗi lần tôi nhắm mắt lại, đoạn băng ghi âm rạng sáng lúc ba giờ mười lăm phút lại tự động phát ra bên tai.

Tiếng trèo qua nan tre sột soạt, tiếng nhầy nhụa của bùn ướt dẫm trên đất khô, và tiếng rên the thé của đứa trẻ đòi ăn bánh đất sét trắng cứ lặp đi lặp lại không ngừng nghỉ.

Giấc ngủ đã trở thành một thứ xa xỉ nằm ngoài tầm với.

Tôi ngồi dậy, với lấy chiếc áo khoác bông khoác lên người rồi bước lại gần khung cửa sổ. Khe liếp hé mở một khoảng chừng nửa gang tay để đón chút gió đêm loãng bớt mùi ẩm mốc. Bên ngoài,

trời tối đen như mực. Mây xám trĩu nặng che lấp toàn bộ trăng sao, chỉ để lại một màn đêm quánh đặc bao trùm lấy bãi sình Bồ Tầm và vạt rừng trúc sau thôn Vọng Ngưu Đôn.

Ngay khi mắt tôi vừa quen với bóng tối của khu vườn sau, một vệt sáng kỳ lạ bất ngờ đập vào thị giác.

Sâu bên trong rừng trúc rậm rạp, cách hàng rào tre nhà lão A Ngưu chừng hơn trăm bước chân, có hai đốm lửa màu đỏ sẫm đang lập lòe lay động.

Chúng không bốc cao thành ngọn như lửa đuốc củi, cũng chẳng bập bùng chao liệng như ánh đèn bão của người đi soi ếch.

Hai chấm sáng ấy tròn xoe, đỏ quạch như hai hòn than đượm vùi dưới tro bếp, nằm ngang nhau và cách mặt đất chừng ngang tầm mắt người lớn.

Chúng đứng yên bất động giữa những thân trúc đung đưa, chĩa thẳng cái nhìn lạnh lẽo về phía khung cửa sổ buồng tôi.

Tôi chớp mắt hai lần, định thần nhìn kỹ lại.

Hai đốm lửa đỏ vẫn ở nguyên vị trí ấy, xuyên qua từng kẽ lá trúc dày đặc, im lìm và nhẫn nại.

Một luồng điện giật chạy dọc từ đốt sống cụt lên tận đỉnh đầu.

Bản năng của một kẻ làm nghề cầm bút và giác quan nhạy cảm bẩm sinh mách bảo tôi rằng, thứ ánh sáng đỏ kia không phải hiện tượng lân tinh bốc lên từ bùn lầy thông thường.

Nó đang đợi tôi.

Có một sự liên kết vô hình nhưng rõ rệt kéo căng giữa tôi và bóng đen sau rặng trúc kia, hệt như sợi dây thừng vừa được quăng ra từ lòng đất ẩm ướt năm 1937.

Tôi quay người, vớ lấy chiếc đèn pin cầm tay bằng kim loại nặng trịch trên đầu giường, nhét thêm chiếc máy ghi âm vào túi áo trong. Tôi nhẹ nhàng mở chốt then cài cửa buồng,

cố gắng không phát ra bất kỳ tiếng động nào để tránh đánh thức lão A Ngưu đang ngủ say sau một ngày dài kiệt sức vì sợ hãi. Cánh cửa gỗ khẽ rít lên một tiếng nhỏ rồi khép lại.

Gió đêm lập tức tạt thẳng vào mặt tôi khi bước chân vừa chạm xuống khoảng sân gạch rêu phong. Không khí mang theo vị mặn chát của hơi nước sông Tây Giang và mùi ngai ngái,

tanh nồng của bùn mục rữa từ bãi Bồ Tầm thổi dạt vào. Tôi men theo con đường mòn nhỏ đầy cỏ may găm vào ống quần, luồn qua cánh cổng tre khép hờ để tiến thẳng vào rừng trúc.

Rừng trúc đêm dày đặc và u tối hơn nhiều so với ban ngày. Những thân trúc cao vút, gầy guộc chen chúc nhau mọc dày như một bức tường thành xanh xám. Gió thổi qua từng kẽ lá tạo nên những âm thanh xào xạc rợn cả gáy,

nghe như tiếng hàng ngàn bàn tay gầy gò đang chà xát vào nhau để tìm kiếm chút hơi ấm. Dưới chân tôi, lớp lá trúc rụng mục nát lún xuống sột soạt, thỉnh thoảng lại có tiếng cành khô gãy giòn tan vang lên rành rọt giữa đêm thanh vắng.

Tôi bật đèn pin, quét luồng sáng vàng vọt về phía trước. Ánh sáng chỉ rọi được một khoảng chừng vài mét rồi bị sương đêm và những thân trúc ken dày nuốt chửng. Nhưng lạ lùng thay,

hai đốm lửa đỏ sẫm kia hình như không hề bị lóa đi bởi ánh đèn điện. Càng tiến sâu vào rừng, tôi càng thấy chúng hiện rõ hơn, đỏ rực một cách ma quái giữa vòm lá đen ngòm.

Mặt đất bắt đầu dốc dần lên. Tôi nhận ra mình đang bước lên gò đất cao ven rìa bãi Bồ Tầm. Đây chính là khu vực giáp ranh giữa nền đất thịt của rừng trúc và vùng sình lầy ngập nước. Không khí ở đây đặc quánh lại,

lạnh buốt thấu xương. Mùi bùn tanh ở chỗ này nồng nặc đến mức làm tôi phải đưa tay lên che mũi, cổ họng ngứa ngáy từng cơn muốn nôn mửa.

Khi tôi cách vị trí hai đốm lửa chừng mươi bước chân, luồng sáng đèn pin run rẩy chiếu trúng một gốc trúc cổ thụ to bằng bắp đùi người lớn. Dưới gốc trúc ấy, một bóng người đang đứng sừng sững.

Tôi khựng lại, mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, ngón tay ghì chặt vào thân kim loại lạnh toát của chiếc đèn pin.

Hai đốm sáng đỏ rực ban nãy không phải là lửa. Chúng là một đôi mắt.

Đó là đôi mắt sắc lẹm, sáng quắc của một bà lão có vóc người nhỏ nhắn, gầy guộc.

Bà đứng nép bên thân trúc xám xịt, trên mình vận một bộ áo chàm sẫm màu đã bạc thếch ở hai bên vai, gấu áo buông dài chấm gót chân trần đang giẫm ngập trong lớp lá rụng ẩm ướt.

Gương mặt bà lão chìm trong bóng tối dày đặc của tán trúc, chỉ để lộ ra hai gò má cao hốc hác, lớp da mặt nhăn nheo như vỏ cây khô và sống mũi gầy gò nhô lên lạnh lùng.

Ánh mắt đỏ quạnh của bà xoáy thẳng vào mặt tôi, mang theo sự trang nghiêm cổ kính xen lẫn nét thê lương đến rợn cả gáy.

Tôi nhận ra bóng hình này. Dù chưa từng đối mặt trực diện ngoài đời thực, nhưng qua những lời kể thì thầm đầy sợ hãi của người dân trong thôn và những vết tích ngải cứu xua tà quanh các ngôi nhà cổ,

tôi biết đây chính là Hương Bà. Bà là người phụ nữ bí ẩn từng nắm giữ những bí thuật trừ tà của vùng đất này nhiều thập kỷ trước, kẻ mà dân làng đồn rằng đã vùi thân mình dưới lòng bùn lầy từ lâu lắm rồi.

- Bà... bà là Hương Bà?

-

- Tôi cố nén cơn run rẩy nơi đầu lưỡi, cất tiếng hỏi khẽ.

Âm thanh phát ra từ miệng tôi chìm nghỉm vào tiếng lá trúc xào xạc. Người phụ nữ vận áo chàm không hề nhúc nhích,

cũng không mở miệng đáp lại lấy một lời. Bà đứng đó, bất động như thể một pho tượng tạc bằng rễ cây, chỉ có đôi mắt đỏ vẫn rực lên từng chặp ánh sáng lạnh lùng, áp chế toàn bộ không gian xung quanh khiến tôi không dám tiến thêm một bước nào nữa.

Bất chợt, một cơn gió lạnh từ phía bãi sình Bồ Tầm thốc ngược lên, làm tà áo chàm của bà lão bay phần phật trong đêm.

Bà từ từ nâng cánh tay gầy guộc khẳng khiu như cành củi khô lên khỏi lớp vạt áo rộng. Bàn tay bà nhợt nhạt,

các khớp xương ngón tay nổi rõ từng gồ ghề dưới làn da xám xịt. Không một động tác thừa thãi, cổ tay bà khẽ rung lên, vung ra một dải vật thể mỏng manh xuôi theo chiều gió về phía tôi.

Dải vật thể ấy chao lượn lơ lửng giữa không trung, phát ra tiếng phần phật khe khẽ như cánh bướm đêm.

Theo phản xạ tự nhiên, tôi giơ bàn tay trái lên đón lấy. Một mảnh giấy ráp chạm vào lòng bàn tay tôi. Ngay khi năm ngón tay tôi khép lại giữ chặt lấy mảnh giấy,

một luồng khí lạnh buốt lập tức chạy dọc từ lòng bàn tay xộc thẳng vào kinh mạch, khiến cả cánh tay tôi tê rần trong giây lát.

Tôi ngước mắt nhìn lên gốc trúc cổ thụ.

Bà lão áo chàm đã biến mất hoàn toàn. Dưới thân trúc chỉ còn lại một làn khói mỏng màu xám tro đang từ từ tan loãng vào sương đêm. Cùng lúc đó,

mùi bùn tanh nồng nặc bị đẩy lùi bởi một hương thơm thảo mộc quen thuộc. Mùi ngải cứu phơi khô cay nồng thoang thoảng quẩn quanh chóp mũi tôi, thanh khiết và ấm áp, xua tan đi phần nào cảm giác ngột ngạt ghê rợn vừa rồi.

Tôi đứng chết trân giữa rừng trúc đêm, trán rịn ra một lớp mồ hôi lạnh ngắt. Tôi đưa đèn pin soi xuống vật vừa rơi vào tay mình.

Đó là một dải giấy bùa dài chừng nửa gang tay, nhuộm màu vàng nghệ cổ kính đã ngả sang sắc úa của thời gian. Trên mặt giấy, những đường nét ngoằn ngoèo được vẽ bằng chu sa đỏ tươi vô cùng sắc sảo. Nét bút uốn lượn như rồng rắn cuộn tròn,

dứt khoát và mạnh mẽ, toát lên một uy lực trấn áp ma quỷ dị thường. Mực chu sa đỏ rực dưới ánh đèn pin, tươi mới như thể vừa mới được hạ bút cách đây vài khắc, hoàn toàn tương phản với vẻ cũ kỹ của thớ giấy bùa.

- Cậu Tô! Cậu Tô ơi!

Một tiếng gọi hớt hải, vỡ vụn vang lên từ phía sau lưng làm tôi giật nảy mình.

Tiếng bước chân chạy thình thịch đạp lên lá khô dồn dập kéo đến. Một đốm lửa bập bùng màu vàng cam xé toạc màn đêm của rừng trúc. Lão A Ngưu tay cầm một bó đuốc bện bằng rơm rạ tẩm dầu,

tay kia lăm lăm chiếc xẻng sắt ngắn, vừa thở hồng hộc vừa chạy trối chết về phía gò đất cao. Quần áo lão xộc xệch, chân trần dính đầy bùn đất, mặt cắt không còn một hột máu.

- Cậu... cậu làm cái giống gì mà nửa đêm nửa hôm chui rúc vào đây hả?

-

- Lão A Ngưu hổn hển gào lên, dừng lại thở dốc bên cạnh tôi, ngọn lửa đuốc trên tay lão chao đảo hắt những bóng đen nhảy múa lên thân trúc

- Tôi tỉnh dậy thấy cửa buồng mở toang, lần theo vết chân mới biết cậu đâm đầu về phía bãi Bồ Tầm! Cậu chán sống rồi sao? Nơi này đêm hôm là chỗ tụ họp của...

Lời nói của lão A Ngưu nghẹn ứ lại nơi cuống họng. Đôi mắt lão mở trừng trừng, tròng mắt như muốn rớt ra ngoài khi nhìn thấy dải giấy bùa màu vàng nghệ đang nằm gọn trong lòng bàn tay tôi.

Ngọn đuốc trên tay lão run rẩy dữ dội, tàn lửa rớt lách tách xuống lớp lá khô ẩm ướt dưới chân. Chiếc xẻng sắt tuột khỏi tay lão rơi cắm phập xuống nền đất mềm.

- Trời phật ơi...

-

- Lão A Ngưu lắp bắp, giọng run bần bật như người ngập trong nước đá

- Bùa chu sa... Bùa phong trấn của Hương Bà...

Không một chút do dự, lão A Ngưu quỳ sụp cả hai đầu gối xuống lớp lá mục ướt sũng. Lão chắp hai bàn tay thô ráp lại trước ngực, liên tục vái lạy về phía gốc trúc cổ thụ nơi làn khói mỏng vừa tan biến, trán lão dập mạnh xuống đất từng nhịp nặng nề:

- Đội ơn bà phù hộ... Đội ơn bà còn thương xót cái làng này... Đội ơn bà hiển linh...

Tôi vội đưa tay đỡ lão dậy:

- Lão A Ngưu, bác làm gì vậy? Đứng lên đã! Bà lão đó vừa đứng ở đây, bà ấy đưa cho tôi mảnh giấy này rồi biến mất.

Lão A Ngưu ngước khuôn mặt giàn giụa nước mắt và dính đầy đất cát lên nhìn tôi. Đôi bàn tay lão run rẩy nắm chặt lấy cẳng tay tôi, sức nắm mạnh đến mức làm tôi phát đau:

- Cậu Tô... Cậu không biết đâu! Lá bùa chu sa này là vật trấn áp của Hương Bà để lại từ mấy chục năm trước, lúc bà ấy còn sống cũng chỉ vẽ được đúng ba lá! Đêm nay bà ấy hiển linh đưa nó cho cậu, nghĩa là... nghĩa là cái giờ khắc ấy đã đến rồi!

- Giờ khắc nào cơ?

-

- Tôi cau mày gặng hỏi, trực giác nghề nghiệp lại trỗi dậy mạnh mẽ.

Lão A Ngưu liếc mắt nhìn quanh rừng trúc tối om, rồi nhìn về phía dải sình lầy Bồ Tầm đen ngòm phía xa xa, giọng hạ xuống thì thầm run rẩy:

- Dưới bãi Bồ Tầm... những kẻ chết đói năm ba bảy đang cựa quậy. Chiếc bánh đất trắng của thằng bé Tiểu Mã đêm qua chỉ là cái điềm báo mở đường thôi! Đại họa bách quỷ thức giấc dưới bùn lầy sắp sửa tràn vào thôn rồi! Nếu không có lá bùa này giữ vía,

cậu bước chân ra khỏi ranh giới rừng trúc là bị lũ ma thèm đất nó hút cạn tinh khí, lừa cho cậu ăn bùn nhão đến nứt ruột mà chết như thằng bé năm xưa!

Lời cảnh báo của lão A Ngưu như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào đầu tôi.

Mảnh giấy bùa chu sa trên tay bỗng nhiên trở nên nặng trịch.

Tôi nhận thức sâu sắc rằng, những gì tôi đang theo đuổi không còn là một truyền thuyết dân gian đơn thuần nằm trên trang giấy ghi chép.

Những oan hồn chết đói vì nuốt đất sét trắng năm 1937 thực sự đang tồn tại dưới tầng bùn sâu thẳm kia, tích tụ nỗi hận thù và cơn đói khát qua hàng thập kỷ, chỉ chực chờ một cơ hội để kéo những kẻ tò mò xuống chôn vùi cùng chúng.

Gió đêm rít qua vòm trúc gầy guộc mỗi lúc một dữ dội hơn, thổi tạt ngọn đuốc của lão A Ngưu nghiêng ngả, khói dầu bốc lên cay xè.

Tôi đứng thẳng người, lấy lại bình tĩnh để định thần, rồi đưa ngón tay lật mặt sau của lá bùa màu vàng nghệ xem còn ký hiệu nào khác hay không.

Ngay lúc bề mặt sau của mảnh giấy vừa lật qua trước mắt tôi, toàn bộ rặng trúc xung quanh đột ngột im bặt tiếng xào xạc.

Gió vẫn thổi rát mặt, nhưng không có lấy một tiếng lá va chạm vào nhau. Sự im lặng chết chóc ập xuống quá nhanh khiến màng nhĩ tôi căng tức như đang lặn sâu dưới đáy nước.

Và rồi, từ sâu thẳm trong lòng đất nện dưới chân chúng tôi,

một âm thanh ùng ục trầm đục bắt đầu rung chuyển. Tiếng động phát ra nghe nhớp nháp, nặng nề và quánh đặc, như thể một xoáy nước bùn khổng lồ nơi vũng lầy Bồ Tầm vừa ngoác miệng nuốt trọn một sinh linh còn đang giãy giụa.

Chương khác

Xem thêm