Bùn Quỷ Thực - Chương 60: Đứa Trẻ Cười Dưới Nắng Năm Ba Bảy
Nắng rạng đông tràn qua kẽ nứa của gian chái đình hoang, hắt những vệt sáng thẳng tắp xuống nền đất nện đã khô ráo. Không khí ban mai mang theo hơi sương…
Nội dung chương
Nắng rạng đông tràn qua kẽ nứa của gian chái đình hoang, hắt những vệt sáng thẳng tắp xuống nền đất nện đã khô ráo.
Không khí ban mai mang theo hơi sương lạnh của dòng Tây Giang và vị ngai ngái quen thuộc của rơm rạ mục bên hiên.
Tôi ngồi bất động bên chiếc bàn gỗ cập kê thêm một lúc lâu, lắng tai nghe tiếng chim sâu chuyền cành ríu rít trên ngọn đa cổ thụ.
Suốt nhiều đêm liền sống giữa tiếng gầm gào của oán khí và mùi bùn tanh nồng, tiếng chim sớm lúc này nghe trong trẻo đến mức làm tai tôi hơi rung lên ngỡ ngàng.
Tôi đưa tay khép cuốn sổ bìa da màu nâu sẫm.
Trang giấy cuối cùng đã khô mực, từng con chữ ngay ngắn ghi lại từng cái tên, từng tuổi đời, từng cái chết tức tưởi của sáu mươi bốn con người năm ba bảy nay nằm yên tĩnh dưới lớp giấy thô.
Dấu chấm cuối cùng đen nhánh, tròn trĩnh, ngăn cách dĩ vãng đói nghèo với cuộc sống đang cựa mình ngoài kia.
Tôi nâng niu cuốn sổ, cẩn thận bọc nó vào hai lớp túi ni lông chống ẩm rồi đặt sâu vào ngăn giữa của chiếc ba lô du lịch, cạnh chiếc máy ghi âm đã cạn pin và tập bản đồ địa hình Lĩnh Nam đã sờn rách mép.
Gian chái nhỏ chẳng còn lại gì nhiều. Ngọn đèn bão cạn dầu nằm im lìm trên góc bàn,
bấc đèn cháy xém đen sì tỏa ra một vệt khói mỏng cuối cùng rồi tan biến vào thinh không. Tôi quét dọn sạch sẽ những mẩu tàn hương rơi vãi trên bệ cửa sổ, xốc lại quai ba lô lên vai, bước chân qua ngưỡng cửa gỗ mục nát.
Thôn Vọng Ngưu Đôn đã thức giấc từ lúc trời còn tờ mờ.
Phía đầu ngõ, khói bếp từ những nếp nhà ngói âm dương lững lờ bốc lên, quyện lấy làn sương mỏng giăng ngang ngọn tre.
Tiếng gầu sòng va vào thành giếng lách cách, tiếng lợn ủi máng đòi ăn, và xa xa trên triền đê là tiếng cười nói râm ran của nhóm người vác cuốc đi sớm.
Mảnh đất bồi Bồ Tầm vừa hồi sinh sau gần một thế kỷ ngập trong bùn quỷ đang chờ đón những hạt giống đầu tiên.
Những sinh linh sống sót qua cơn bão dữ của lịch sử nay lại cặm cụi cúi đầu xuống mặt ruộng, tiếp tục vòng quay nhọc nhằn mà bền bỉ của sự sống.
Tôi rảo bước theo con đường đất đỏ dẫn ra khỏi làng, hai bên bờ rào dâm bụt trổ hoa đỏ thắm hứng những giọt sương mai long lanh. Khi đi ngang qua ngã ba dẫn về phía chái bếp nhà thím Bảy, tôi dừng lại giây lát. Thím Bảy đã dậy từ canh năm,
cời than đồ một chõ xôi nếp trắng ngần để cúng tạ đất trời. Biết tôi chuẩn bị rời đi, thím cứ nằng nặc nhét vào tay tôi một gói xôi lớn bọc trong lá chuối hơ lửa mềm mại, hạt nếp dẻo quánh còn bốc hơi ấm sực, thơm nức mùi gạo mùa mới.
- Cậu cầm lấy mà đi đường,
- thím Bảy dặn dò, đôi mắt có đuôi chân chim ánh lên nét đôn hậu hiếm thấy. -
- Đói lòng thì ăn một nắm cho ấm dạ. Nhờ phúc cậu ghi lại tên họ cho người làng, từ rày mồ mả ông bà mới có nơi có chốn mà nương tựa. Đi đường bình an nhé cậu nhà báo.
Tôi siết chặt gói xôi ấm nóng trong tay, cúi đầu tạ từ người đàn bà cả đời gánh chịu dư âm của nạn đói, rồi quay gót hướng về phía vạt rừng trúc già nơi sườn đồi.
Đó là nơi lão A Ngưu vừa nằm xuống chiều qua. Nấm đất mới đắp còn ẩm ướt màu đất son, nằm lặng lẽ dưới bóng mát rười rượi của những thân tre ngà vươn thẳng lên trời xanh. Chung quanh nấm mộ,
những vòng cọc đào cắm đất hôm trước đã được người làng nhổ bỏ, thay vào đó là bốn phiến đá cuội xám phẳng phiu chặn bốn góc để giữ cho đất khỏi chuồi lở khi mưa lũ tràn về.
Gió từ thung lũng thổi ngược lên, làm vòm lá trúc trên cao va vào nhau xào xạc như một khúc nhạc tiễn đưa êm dịu. Tôi bước chậm rãi đến trước nấm mồ, cởi ba lô đặt xuống một tảng đá phẳng cạnh đó, rồi quỳ một gối xuống lớp lá rụng khô.
Tôi mở lớp lá chuối xanh,
bẻ một nửa nắm xôi nếp trắng dẻo, cung kính đặt lên mô đất đỏ trước tấm bia đá tạm chưa kịp khắc chữ. Mùi thơm ngào ngạt của hạt gạo trần gian bay tỏa trong không gian thanh sạch, át đi mọi tàn tích cay nồng của tro than và máu gà hôm nào.
Lão A Ngưu đã sống trọn vẹn kiếp người đầy đọa để canh giữ một bí mật kinh hoàng,
đã dùng chính mạng sống cùng ngọn lửa thiêng để thiêu rụi tà niệm của bãi bùn quỷ. Giờ đây, thân xác lão đã tan vào lòng đất mẹ bao dung, không còn phải cắn răng chịu đựng những cơn đau nhức nhối mỗi khi gió chướng đưa tiếng gào đói từ đầm sâu dội về.
- Bác A Ngưu,
- tôi thì thầm, giọng chìm vào tiếng xào xạc của rừng trúc. -
- Cháu đi đây. Đất này đã sạch bóng bùn độc rồi. Lúa ngô lại sắp mọc xanh bãi bồi. Bác yên lòng nhắm mắt.
Một cơn gió sớm mát lành lướt qua gò má tôi, thổi bay vài sợi tro xám còn sót lại trên mô đất, cuốn chúng bay lên nền trời biếc. Dưới vòm trúc đan cài chằng chịt,
ánh mặt trời ban mai bắt đầu dâng cao hơn bờ Tây Giang, rọi những luồng sáng vàng rực rỡ xuyên qua từng kẽ lá. Những hạt bụi sương li ti lấp lánh trong luồng sáng ấy, biến lối mòn đất đỏ thành một khoảng không rực rỡ và ấm áp lạ thường.
Ngay giữa quầng sáng ấm áp rọi xuống vệ đường, một bóng người nhỏ bé dần dần hiện rõ.
Tôi nín thở, hai bàn tay vô thức siết nhẹ mép vạt áo.
Đó là đứa trẻ mặc manh áo vải gai rộng thùng thình, sứt chỉ từng đường tơ kẽ tóc, đôi ống quần xắn cao để lộ đôi cẳng chân gầy guộc khẳng khiu như hai que củi khô. Mấy đêm trước,
trong những cuộc trò chuyện ma mị nơi chái đình hoang, hình ảnh đứa trẻ này luôn gắn liền với lớp bùn đen tanh tưởi bết chặt từ đầu đến chân, đôi mắt đục ngầu đói khát và cái bụng trướng to biến dạng vì nuốt đất sét trừ bữa.
Nhưng lúc này, đứng dưới vạt nắng sớm chan hòa của rừng trúc, đứa bé hoàn toàn khác biệt.
Lớp bùn độc Quỷ Thực Nê nhớp nhúa đã tróc sạch khỏi da thịt em.
Khuôn mặt nhỏ nhắn hơi hóp lại vì thiếu ăn nhưng sạch sẽ tinh tươm, hai gò má ửng hồng dưới ánh dương quang.
Đôi mắt em không còn màu đỏ ngầu của oán hận hay vẻ dại dại của cơn đói hành hạ, mà trong veo như nước giếng làng sau cơn mưa rào.
Manh áo vải gai năm ba bảy vẫn rách bươm, nhưng vạt áo đã khô ráo, phấp phới bay nhè nhẹ theo làn gió đồi.
Đó là Tiểu Mã, đứa con út của gia đình họ Mã từng gục ngã bên bờ đầm Bồ Tầm vào mùa đông năm đói kém ấy, linh hồn nhỏ bé từng cất tiếng khóc đòi mẹ làm tim tôi thắt nghẹn suốt những ngày qua.
Tiểu Mã đứng cách tôi chừng năm bước chân,
rụt rè nép nửa thân mình sau một gốc tre ngà bóng loáng. Đôi bàn chân trần bé xíu của em dẫm lên lớp lá tre khô xốp mềm, không để lại một dấu vết nào, nhưng tôi cảm nhận được rõ ràng sự hiện diện dịu dàng của em giữa nhân gian này.
Đứa bé đưa mắt nhìn tôi, rồi ánh mắt em dừng lại nơi gói xôi nếp trắng ngần đang bốc hơi nghi ngút đặt trên nấm đất của lão A Ngưu. Cánh mũi nhỏ xíu của em khẽ phập phồng, đón lấy mùi thơm ngọt ngào của lúa gạo mới gặt.
Tôi mỉm cười, một nụ cười xuất phát từ tận đáy lòng sau chuỗi ngày dài căng thẳng đến kiệt cùng. Tôi đưa tay đón lấy nửa nắm xôi còn lại trong lớp lá chuối, nâng niu trên hai lòng bàn tay, khẽ vẫy gọi đứa trẻ:
- Lại đây, Tiểu Mã. Lại đây ăn chút xôi nếp đi em.
Đứa bé chớp chớp mắt, đôi con ngươi đen láy mở to đầy ngạc nhiên. Em nhìn tôi,
rồi nhìn nắm xôi trắng muốt. Bàn chân em khẽ nhấc lên, ngập ngừng tiến về phía trước từng bước một. Không còn bước chân lẹp bẹp nặng nề của xác chết đội bùn sống dậy, bước chân em nhẹ tênh như một chiếc lá trúc rơi nghiêng trong gió.
Khi đến gần quầng sáng trước mặt tôi, Tiểu Mã dừng lại.
Em cúi đầu nhìn nắm xôi đang tỏa hơi ấm sực trên tay tôi.
Đôi bàn tay gầy khẳng khiu, những ngón tay nhỏ nhắn run rẩy đưa ra, ôm trọn lấy luồng hơi ấm bốc lên từ hạt nếp dẻo thơm.
Em không nhét vội nhét vàng thứ gì vào miệng như những đêm cuồng loạn vì đói khát trước kia.
Em chỉ hít thật sâu, đôi mắt nhắm nghiền lại để cho hương thơm thanh khiết của mùa màng gột rửa đi mọi đắng cay, tanh tưởi mà em từng phải chịu đựng suốt tám mươi mấy năm ròng rã dưới đáy đầm lầy lạnh buốt.
Cơn đói năm ba bảy cuối cùng đã rời bỏ thân xác còi cọc này. Nỗi sợ hãi cái chết và sự ruồng bỏ của trần gian đã tan thành mây khói dưới ánh sáng rạng đông.
Tiểu Mã mở mắt ra. Đôi mắt trong veo như chứa cả bầu trời thu Lĩnh Nam nhìn thẳng vào mắt tôi.
Và rồi, khóe miệng nhỏ nhắn của đứa trẻ khẽ cong lên.
Em nở một nụ cười.
Đó là nụ cười hồn nhiên, rạng rỡ và trong sáng nhất mà tôi từng được chứng kiến trong đời mình. Một nụ cười trẻ thơ đúng nghĩa, không vướng bận một chút oán thù, không còn vương lại một giọt nước mắt khổ đau,
tươi tắn như thể những ngày tháng trôi dạt đói khát, những miếng đất bùn xé rách ruột gan chưa từng xảy ra với em. Nụ cười ấy làm bừng sáng cả một góc rừng trúc u tịch, xua tan đi tất cả những bóng ma u uất của quá khứ.
Em gật đầu chào tôi một cái thật nhẹ, hai bàn tay nhỏ bé vẫn giữ tư thế ôm lấy hơi ấm của nắm xôi vào lồng ngực.
Ánh nắng sớm từ trên vòm lá rọi xuống mỗi lúc một đậm đà, biến thành những dải lụa vàng óng ả bao bọc lấy thân hình nhỏ bé của Tiểu Mã. Trong luồng sáng ấm áp ấy, bóng dáng đứa trẻ bắt đầu mờ dần đi,
hòa lẫn vào những hạt bụi vàng bay lơ lửng trong không trung. Em tan biến vào ban mai, nhẹ nhõm và thanh thản như một làn sương sớm bốc hơi trước ánh mặt trời, mang theo nụ cười tươi tắn nhất trở về với miền thanh tịnh vĩnh hằng.
Chỉ còn lại vạt nắng sớm vàng ươm rải đều trên thảm lá khô.
Chỉ còn lại tiếng gió ngàn xao xác thổi qua những rặng tre xanh biếc, tấu lên khúc ca tiễn biệt những linh hồn cuối cùng đã được giải thoát.
Tôi quỳ yên tại chỗ rất lâu, để mặc cho những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má rồi rơi xuống nấm đất đỏ trước mặt.
Đó là những giọt nước mắt thanh thản, khép lại một hành trình dài dằng dặc đi tìm lại ký ức đau thương cho mảnh đất bờ Tây Giang này.
Lịch sử có thể chôn vùi nhiều bi kịch,
chiến tranh và thiên tai có thể cướp đi sinh mạng của hàng vạn con người vô tội. Nhưng chừng nào nhân gian còn có người nhớ đến họ bằng tấm lòng trắc ẩn, những linh hồn ấy sẽ không bao giờ bị biến thành loài quỷ đói lang bạt trong bóng đêm.
Tôi đứng thẳng người dậy, lấy lại bình tĩnh lồng ngực đầy ắp không khí trong lành của buổi sớm mai. Tôi cúi đầu vái tạ nấm mồ của lão A Ngưu thêm ba vái, sửa lại quai ba lô cho ngay ngắn rồi quay người bước đi.
Lối mòn xuyên qua rừng trúc dẫn thẳng ra con lộ lớn trải nhựa chạy dọc bờ sông Tây Giang. Nắng sớm đã trải dài trên khắp các sườn đồi,
rực rỡ và ấm áp. Phía xa xa, mặt nước Tây Giang lấp lánh như dát bạc, những con thuyền chở phù sa xuôi ngược bắt đầu cất tiếng còi rúc dài vang vọng vào vách núi. Một ngày mới, một cuộc đời mới đã thực sự bắt đầu trên mảnh đất Vọng Ngưu Đôn.
Tôi rảo bước nhanh hơn về phía bến xe đò đầu huyện, lòng nhẹ tênh. Trong chiếc ba lô nặng trĩu trên vai,
cuốn sổ tay ghi chép tên họ của những con người năm ba bảy đang nằm yên lặng, chờ đợi ngày được bước ra ánh sáng nhân gian. Nhắc nhở đời sau về giá trị thiêng liêng của hạt gạo. Đó là hòa bình, và tình kẻ canh giữa cõi trần trần gian.