Bùn Quỷ Thực - Chương 59: Từng Dòng Mực Ghi Lại Nỗi Đau
Bóng chiều tà rớt xuống mái ngói rêu phong của chái đình hoang thôn Vọng Ngưu Đôn. Mặt trời lặn sau dãy đồi đất đỏ, để lại một dải ráng hồng sẫm màu như…
Nội dung chương
Bóng chiều tà rớt xuống mái ngói rêu phong của chái đình hoang thôn Vọng Ngưu Đôn. Mặt trời lặn sau dãy đồi đất đỏ,
để lại một dải ráng hồng sẫm màu như máu loãng quét ngang bờ Tây Giang. Gió từ mặt đầm Bồ Tầm thổi ngược lên triền dốc, không còn mùi tanh nồng tởm lợm của Quỷ Thực Nê ngày nào, chỉ mang theo hơi ẩm nồng hậu của đất ải và xác lá mục.
Tôi đẩy cánh cửa gỗ ken két bước vào gian chái mé tây đình làng. Nơi này từng là chỗ chứa đồ tế tự mục nát,
mạng nhện giăng kín các góc xà ngang, nền gạch nung nứt toác mọc đầy cỏ dại. Suốt những ngày qua bám trụ ở mảnh đất này, đây là nơi tôi tựa lưng chợp mắt sau những đêm dài lặn lội ngoài bãi lầy.
Tôi đặt ba lô xuống nền đất nện, xắn tay áo dọn dẹp góc bàn gỗ mun đã gãy mất một bên chân,
phải kê tạm bằng ba viên gạch vồ xám xịt. Tôi rút chiếc khăn tay cũ tẩm chút nước suối, lau sạch lớp bụi bặm đóng dày trên mặt bàn. Từng thớ gỗ nứt nẻ hiện ra, đen thẫm, lạnh ngắt dưới lòng bàn tay.
Chiếc đèn bão bằng sắt tây han gỉ được tôi đặt ngay ngắn giữa bàn. Tôi nhấc chụp thủy tinh ám khói, châm que diêm vào sợi bấc vải dầu. Ngọn lửa bùng lên một tiếng tách nhỏ,
tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt tù mù cùng mùi dầu hỏa khen khét quen thuộc. Tôi hạ chụp đèn xuống, vặn nút chỉnh cho tim đèn nhô cao vừa đủ, xua tan bóng tối đang đặc quánh lại quanh bốn góc cột lim.
Từ trong túi áo ngực, tôi cẩn thận rút cuốn sổ tay bìa da nâu đã sờn rách bốn góc mép. Cuốn sổ này đã theo tôi suốt chặng đường điền dã từ Quảng Đông sang đất Hồ Nam,
lặn lội qua biết bao thôn cùng xóm vắng ven dòng Tây Giang. Giấy bên trong đã ố vàng, nhiều trang quăn queo vì ngấm hơi sương lạnh và khói nhang trừ tà.
Tôi mở nắp lọ mực đen bằng thủy tinh dày, đặt cạnh ngòi bút máy vỏ thép đã trầy xước nước sơn. Đêm nay là đêm cuối cùng tôi nán lại thôn Vọng Ngưu Đôn trước khi rời đi. Mọi oán hận dưới đáy đầm Bồ Tầm đã lắng xuống,
lão thợ rèn A Ngưu đã nhắm mắt thanh thản, nhưng bổn phận của một kẻ chép sử dạo như tôi vẫn còn một món nợ lớn chưa trả xong.
Đó là món nợ với những linh hồn đã chết trong trận đói năm 1937.
Những đêm bách quỷ dạ thoại nơi bờ sông, nơi bìa rừng trúc hay bên miệng hố bùn sâu thẳm,
biết bao âm thanh nghẹn ngào, bao lời trăn trối đứt quãng từng rót vào tai tôi. Họ tìm đến tôi vì tôi nghe được tiếng thì thầm của cõi âm, vì họ cần một người ở chốn dương gian nhớ rằng họ từng sống, từng chịu đựng nỗi đớn đau tột cùng của một kiếp làm người.
Tôi lật từng trang giấy ghi chép lộn xộn, những mảnh ký ức vụn vỡ bắt đầu ráp nối lại dưới ánh đèn bão leo lét.
Ngòi bút sắt chấm sâu vào lòng mực đen, đặt nét chữ đầu tiên gai góc lên mặt giấy xơ xác. Tiếng ngòi bút rào rào cọ vào thớ giấy vang lên rành rọt giữa không gian thanh vắng của gian đình đổ nát.
Người đầu tiên tôi đặt bút ghi là Trần Lão Lục.
Trần Lão Lục, ba mươi hai tuổi, quê ở phủ Triệu Khánh, vốn là phu kéo xe tay quanh bến sông.
Tháng Năm năm ba bảy, quân giặc dội bom cắt đứt đường tàu hỏa, mùa màng thất bát, một bát gạo đổi một xâu tiền mà không có người bán.
Lão Lục dắt theo ông bố già mù lòa đi bộ hơn trăm dặm về hướng Vọng Ngưu Đôn tìm đường sống.
Dọc đường, cha lão kiệt sức ngã xuống vệ cỏ.
Lão Lục cõng cha trên lưng suốt hai ngày đói lả, hai mép khô nứt rỉ máu, ruột cồn cào như có bàn tay vò xé.
Khi đến bờ bãi Bồ Tầm, cha lão đã tắt thở từ bao giờ.
Lão Lục dùng mười đầu ngón tay tóe máu bới đất chôn cha, rồi vì quá đói, lão bốc từng vốc bùn non bên bờ đầm nhét vào mồm nuốt ực.
Đất sét nghẽn lại ở cuống họng, trương phềnh trong dạ dày, lão Lục quằn quại trên vũng lầy rồi chết rũ bên cạnh nấm mồ chưa kịp đắp xong của ông bố già.
Từng nét chữ của tôi run rẩy chạy dài trên trang giấy trắng. Mực đen thấm sâu, in hằn sang cả mặt sau. Khi dòng chữ ghi lại cái chết của Trần Lão Lục vừa dừng lại, tôi cảm nhận được một luồng gió nhẹ thoảng qua ngoài cửa sổ.
Tôi ngẩng đầu lên.
Bóng đêm đã nuốt trọn giây lát chạng vạng. Bên ngoài hiên đình hoang, ánh trăng non mỏng manh như một lát cùi dừa rọi xuống sân gạch mọc đầy cỏ đuôi chồn.
Dưới bóng râm của cây bồ đề già trước sân, một bóng người gầy guộc, hai bả vai nhô cao còng rạp về phía trước đang đứng bất động. Khuôn mặt bóng ấy mờ nhạt trong làn sương đêm,
nhưng đôi mắt hốc hác không còn rỉ máu hay trợn trừng vẻ đói khát hung tợn. Bóng đen ấy đứng chắp hai tay trước ngực, lặng lẽ nhìn vào ngọn đèn bão trên bàn tôi, chăm chú lắng nghe tiếng ngòi bút chạy trên giấy như người ta lắng nghe một bài kinh cầu siêu độ.
Tôi không hề hoảng sợ, cũng không cầm lấy bùa chú hay nắm tro chu sa phòng thân. Tôi cúi đầu, chấm lại mực, lật sang trang tiếp theo.
Người thứ hai là Lục Cửu Muội, người làng quen gọi là cô Ba Cửu.
Cô Ba Cửu mười chín tuổi, con gái thứ ba của một gia đình thợ nhuộm vải bên bờ sông.
Cô có đôi bàn tay khéo léo, thêu hoa mẫu đơn đẹp nổi tiếng khắp mấy tổng quanh vùng.
Năm ba bảy đói kém tràn qua, kho thóc của các phú hộ đóng chặt then cài, lính gác cầm súng đứng gác ngày đêm.
Gia đình cô chết dần từng người một.
Cô Ba Cửu đem bán tấm áo cưới bằng lụa đỏ mình tự tay thêu ròng rã hai năm trời, đổi lấy lưng bát cám mốc để nấu cháo loãng cầm hơi cho đứa cháu mồ côi.
Nhưng cám mốc cũng hết, đứa cháu lịm đi trên tay cô giữa một trưa nắng cháy.
Tuyệt vọng và nhục nhã vì không tìm nổi một mẩu khoai thừa để sống, cô Ba Cửu mặc lại mảnh áo rách tả tơi, gieo mình xuống dòng nước xoáy bờ Tây Giang.
Xác cô trôi dạt vào bãi bùn Bồ Tầm, bị lớp đất quỷ nuốt chửng linh hồn, giam cầm suốt mấy mươi năm trong cơn đói triền miên.
Tiếng bút sắt cào trên giấy sột soạt, xé toang sự tĩnh lặng của đêm khuya.
Nước mực đen nhánh chảy ra từ ngòi bút, vẽ nên hình hài của một cô gái trẻ với mái tóc dài bện đuôi sam và đôi bàn tay từng biết thêu hoa dệt gấm. Tôi ghi rõ họ tên cô, ngày cô qua đời, cùng nỗi đau đớn cô mang theo khi trút hơi thở cuối cùng.
Ngoài bậc thềm đá chái đình, một bóng người thanh mảnh trong tà áo xanh mờ nhạt từ từ xuất hiện. Bóng hình ấy nép mình bên cạnh gốc cột cái, hai bàn tay đan vào nhau đặt ngay ngắn ngang hông,
đầu khẽ cúi xuống. Không có tiếng khóc ai oán, không có những âm thanh cào cấu man rợ đòi ăn thịt sống như những đêm ma quỷ trỗi dậy. Chỉ có sự tĩnh lặng đón nhận, một sự chờ đợi trang nghiêm dành cho bản cáo trạng về số phận oan nghiệt của chính mình.
Tôi tiếp tục viết, không dám dừng tay lại dù những ngón tay cầm bút đã bắt đầu mỏi nhừ và tê dại.
Trang giấy thứ ba dành cho mụ Cả Lý, người đàn bà góa xóm Chài.
Mụ Cả Lý ôm đứa con trai ba tuổi dắt díu đàn con chạy loạn qua đồi trúc Vọng Ngưu Đôn.
Chồng mụ bị giặc bắt đi phu rồi bỏ thây nơi xứ lạ.
Một mình mụ gánh hai đầu bồ, một bên là đứa con đỏ hỏn, một bên là mẩu chiếu rách cùng nắm củ chuối chát xít.
Khi củ chuối cũng cạn kiệt, bầu ngực mụ khô quắt không còn một giọt sữa.
Đứa con ba tuổi khát sữa khóc ngằn ngặt cả đêm lẫn ngày.
Mụ Cả Lý dùng mảnh sành cứa đầu ngón tay mình, nhét ngón tay đẫm máu vào miệng con để dỗ cho đứa bé nín.
Máu chảy cạn, đứa bé lịm dần rồi tắt thở trong lòng mẹ giữa cơn mưa rào tháng Bảy năm ba bảy.
Mụ Cả Lý phát điên, ôm xác con nhảy thẳng xuống vũng lầy bùn non đang sôi sục tà khí.
Càng viết, cổ họng tôi càng nghẹn ứ lại. Một giọt nước mắt không kìm được rớt xuống mép trang giấy, làm nhòe đi một vệt mực đen vừa ráo. Tôi vội đưa mu bàn tay áo quệt ngang mắt, lấy lại bình tĩnh để lấy lại sự bình tĩnh.
Mỗi cái tên được viết ra trên trang giấy này không đơn thuần là những ký tự vô tri. Đó là một sinh mạng, một cuộc đời từng bằng xương bằng thịt, từng biết yêu thương, biết hy vọng, biết sợ hãi trước khi bị cái đói dã man tước đoạt nhân tính và thể xác.
Khi cơn đói năm ba bảy quét qua vùng Lĩnh Nam này, chiến tranh và sự bần cùng đã biến con người thành những bóng ma lay lắt.
Người ta tranh nhau từng cọng cỏ dại, từng nắm đất bùn để nhét vào miệng hòng lừa dối cái dạ dày đang co bóp đến rách toác.
Rồi khi chết đi trong sự uất nghẹn và nhục nhã, họ không có nổi một cỗ ván thiên, không một nấm mồ đắp vội, thậm chí không có một ai sống sót để nhớ lấy tên họ trên đời.
Linh hồn họ bị vùi lấp dưới lớp bùn độc Bồ Tầm suốt gần một thế kỷ. Nỗi đói kém lưu cữu qua năm tháng biến thành oán niệm sâu hoắm,
biến họ thành những con Quỷ Thực Nê hung hãn, cắn xé bất cứ sinh linh nào bén mảng qua đầm lầy. Người đời sau chỉ biết khiếp sợ loài quỷ bùn tanh tưởi, dựng miếu lập bàn thờ trừ tà, nhưng không mấy ai buồn tự hỏi xem trước khi biến thành quỷ dữ, họ là ai.
Họ là những ông bố cõng xác con, những bà mẹ nhịn ăn đến chết mòn,
những thanh niên chưa từng biết đến một ngày bình yên no đủ. Bản thân họ chưa từng muốn trở thành ma quỷ hại người. Chính sự lãng quên tàn nhẫn của trần gian và món nợ oan khiên không người phân giải mới giam hãm họ trong hình hài quái đản ấy suốt bao năm qua.
Ngòi bút của tôi lướt đi mỗi lúc một nhanh hơn.
Tôi ghi lại tên tuổi của bác Thạch Cửu, người thợ mộc già từng đẽo từng chiếc cán cuốc cho cả thôn Vọng Ngưu Đôn, chết co quắp dưới chân bụi tre đực vì một nắm vỏ cây nghiền nát.
Tôi ghi lại số phận của hai anh em mồ côi họ Triệu, trạc mười ba, mười bốn tuổi, ôm nhau chết cóng bên bờ suối cạn khi nhường nhau củ ráy dại duy nhất tìm thấy sau ba ngày nhịn đói.
Từng người, từng người một.
Bên ngoài hiên đình, bóng tối không còn vẻ lạnh lẽo ma quái. Sương đêm buông xuống dày đặc hơn nhưng không khí lại trở nên thanh tịnh lạ thường.
Từng vệt bóng mờ ảo từ khắp bốn phương trời chầm chậm tụ về trước sân đình. Họ đứng ken đặc dưới bóng cây bồ đề, đứng tràn ra cả lối mòn dẫn xuống đầm lầy. Có người già râu tóc bạc phơ,
có đàn bà bế bọc tã rách, có những chàng trai lực lưỡng nay chỉ trơ lại bộ khung xương gầy guộc. Hàng chục, hàng trăm cái bóng đứng lặng phắc dưới ánh trăng mờ, ngước nhìn vào căn chái nhỏ nơi ngọn đèn bão đang bập bùng cháy sáng.
Họ không phát ra một tiếng động nào. Không một tiếng rên rỉ đòi ăn, không một tiếng gầm gừ đói khát. Cả sân đình hoang chìm vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối, chỉ có tiếng ngòi bút sắt của tôi miệt mài cọ xát trên mặt giấy xơ rách vang lên đều đặn.
Tiếng sột soạt ấy đối với họ như tiếng chuông chùa gõ nhịp lúc hoàng hôn, như một bài văn chiêu hồn đích thực được viết bằng lòng thấu cảm và nước mắt của người trần thế.
Mỗi một cái tên được tôi viết xuống, một vết thương lịch sử lại được rửa sạch. Mỗi một số phận được gọi tên rành rọt trên trang giấy,
lớp bùn nhơ tà niệm quấn quanh linh hồn họ lại rơi rụng đi một mảng. Từng dòng mực đen nhánh như những sợi dây vô hình kéo họ ra khỏi đáy bùn lầy tăm tối của năm 1937, trả lại cho họ tên tuổi, danh dự, và quan trọng nhất là hình hài của một con người.
Khi viết đến trang thứ mười hai, bấc đèn bão khẽ lách tách nổ nhỏ. Dầu hỏa trong bầu sắt đã cạn dần, ngọn lửa vàng vọt bắt đầu thu nhỏ lại, chập chờn theo từng cơn gió luồn qua khe liếp.
Đồng hồ trên tay tôi điểm ba giờ sáng.
Đêm đã cạn. Hơi lạnh của sương mai bắt đầu thấm qua lớp áo khoác mỏng, táp vào da thịt tôi tê buốt. Những ngón tay tôi cứng đờ vì lạnh và mỏi mệt, nhưng lòng tôi lại nhẹ nhõm đến kỳ lạ.
Tôi hít một hơi dài, đặt dấu chấm câu cuối cùng cho bản danh sách dài dằng dặc những cái chết năm ba bảy nơi thôn Vọng Ngưu Đôn. Ngòi bút máy nhấc lên khỏi mặt giấy, để lại một chấm mực tròn trịa, đen thẫm và dứt khoát.
Tôi ngẩng đầu nhìn ra ngoài sân đình.
Ánh trăng non đã lặn về phía tây, nhường chỗ cho một dải rạng đông lờ mờ trắng đục nơi chân trời phía bờ Tây Giang. Gió sớm thổi qua rặng trúc rì rào như một khúc ca đưa tiễn.
Trước hiên đình hoang, hàng chục bóng người mờ ảo bắt đầu chuyển động. Người phu xe kéo Trần Lão Lục chắp hai tay trước ngực, cúi gập người vái ba vái về phía ngọn đèn bão của tôi. Cô Ba Cửu mỉm cười nhẹ nhõm,
tà áo rách nát năm nào nay hình như đã biến thành chiếc áo mới tinh tươm. Mụ Cả Lý ôm chặt bọc tã con vào lòng, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt đong đầy sự cảm tạ sâu xa rồi từ từ quay lưng bước đi.
Từng bóng người, từng tàn niệm của những đêm bách quỷ dạ thoại tan dần vào làn sương bạc buổi sớm. Họ không tan biến trong đau đớn hay oán hận như khi bị ngọn lửa thiêng của lão A Ngưu thiêu đốt. Họ hòa tan vào không khí êm đềm của buổi sớm mai,
nhẹ nhàng như những chiếc lá mục rụng xuống đất mẹ để hóa thành phù sa nuôi sống những mầm cây non.
Món nợ ân oán kéo dài gần một thế kỷ bên bờ sông Tây Giang cuối cùng đã được giải quyết trọn vẹn. Người sống đã có thể yên tâm cày cấy trên mảnh đất bồi màu mỡ, còn người chết đã tìm lại được tên họ để thanh thản bước vào luân hồi.
Tôi hiểu ra một điều sâu sắc sau tất cả những gì đã trải qua tại mảnh đất này: Bi kịch và nỗi đau khi được ghi nhớ bằng sự thấu cảm chân thành sẽ không bao giờ tha hóa thành ác quỷ.
Thứ tà thuật đáng sợ nhất trên cõi đời này chưa từng là bùn đất hay ma quỷ, mà là sự lãng quên lạnh lùng của con người trước nỗi đau của đồng loại.
Tôi đóng nắp lọ mực thủy tinh, cẩn thận gài cây bút máy vào mép bìa cuốn sổ tay. Đèn bão tắt phụt khi giọt dầu cuối cùng cạn kiệt, để lại một làn khói mỏng thơm mùi dầu hỏa bay lơ lửng giữa gian chái đình.
Tôi đứng dậy, vươn vai đón lấy luồng gió sớm mát rượi thổi qua khung cửa sổ không cánh. Trời đã sáng rõ, chim rừng bắt đầu cất tiếng hót líu lo trên những ngọn tre ngà đẫm sương.
Nhưng khi tôi cúi người thu dọn ba lô chuẩn bị bước ra cửa, một tiếng thở khẽ rất nhẹ, ngập ngừng và rụt rè vang lên từ phía chân rặng trúc già bên hông đình làng.
Tôi dừng tay lại, đưa mắt nhìn qua khe cửa nứt.
Giữa vạt trúc xanh rì rào đón nắng sớm, một vệt sáng nhỏ mờ nhạt vẫn còn nấn ná chưa chịu rời đi. Đó là bóng dáng còi cọc của một đứa trẻ mặc manh áo rách năm ba bảy,
đứa trẻ bi thương nhất từng khiến lòng tôi quặn thắt trong những đêm lội bùn tìm tích cũ, đang đứng nép mình sau thân tre, lặng lẽ ngước đôi mắt tròn xoe nhìn về phía tôi.