Bùn Quỷ Thực - Chương 57: Bóng Người Khuất Nơi Bến Đò Ngang

Nắm đất cuối cùng rơi xuống, lấp kín chiếc hố sâu dưới gốc bụi trúc già phía sau căn nhà vách đất. Tôi quỳ hai gối trên nền đất lạnh, hai bàn tay dính…

Nội dung chương

Nắm đất cuối cùng rơi xuống, lấp kín chiếc hố sâu dưới gốc bụi trúc già phía sau căn nhà vách đất.

Tôi quỳ hai gối trên nền đất lạnh, hai bàn tay dính đầy bùn ải và vụn rễ cây khô ráp, cẩn thận gạt từng lớp đất cho bằng phẳng.

Không có quan quách bằng gỗ tốt, không có kèn trống đưa ma hay giấy tiền vàng bạc rải dọc lối đi, mộ phần của lão A Ngưu chỉ là một gò đất nhỏ đắp vừa tầm ngực, được rào xung quanh bằng mấy cành rào tre cắm chéo.

Trên đỉnh nấm mồ đơn sơ ấy, tôi đặt chiếc tẩu thuốc bằng đồng đỏ của lão.

Đầu tẩu hướng về phía dòng Tây Giang, nơi sương sớm đang chầm chậm dâng lên phủ kín những khúc quanh quanh co của con nước.

Hương Bà đứng tựa vào một thân trúc lớn,

lặng nhìn gò đất mới. Gió ban mai luồn qua kẽ lá, lay động vạt áo chàm sẫm màu đã bạc phếch nơi gấu áo của bà. Khói từ ba nén hương cắm tạm bên chân mộ không bốc thẳng mà lững lờ tản ra, quấn quýt quanh những gốc măng non vừa nhú.

- Xong rồi, đi thôi con.

-

- Hương Bà khẽ lên tiếng, giọng bà khàn đặc sau một đêm dài thức trắng cùng tôi tụng kinh niệm chú.

- Để ông ấy nằm lại đây, yên tĩnh cùng rễ tre và đất bãi. Gần một đời người gánh đá nặng trong lòng, giờ đất ôm lấy xương thịt, ải mục với cỏ cây là thanh thản nhất.

Bà quay lưng, cất từng bước chậm rãi men theo con đường mòn phủ đầy lá mục dẫn ngược ra mé bờ sông. Tôi vội đứng dậy, phủi đất cát dính nơi ống quần, vác chiếc balo nặng trĩu lên vai rồi rảo bước bước theo bóng lưng còng của bà.

Trời hãy còn tờ mờ, chưa rõ mặt người. Xóm Vọng Ngưu Đôn chìm trong sự lặng câm kỳ lạ. Sau những ngày rền rĩ tiếng gió hú và hơi tanh nồng bốc lên từ vũng lầy Bồ Tầm,

buổi sớm hôm nay không khí thanh sạch đến nao lòng. Dọc theo triền đê đất nện, những giọt sương đêm đọng trên ngọn cỏ may quẹt vào ống quần tôi lạnh buốt.

Hương Bà đi trước tôi chừng năm bước chân. Dáng bà nhỏ thó, đôi vai gầy hơi nhô cao dưới lớp vải thô. Trên tay bà xách chiếc đãy vải chàm cũ kỹ, chiếc túi từng đựng đủ thứ pháp bảo dân gian mà tôi từng chứng kiến trong đêm phá trận Quỷ Thực Nê.

Chúng tôi đi bộ chừng mười lăm phút thì ra đến bến đò ngang ven sông Tây Giang. Bến đò buổi sáng vắng ngắt. Một bãi đất bồi thoai thoải vươn ra mép nước, nơi cắm một cây cọc lim đen trũi tróc vỏ,

quấn quanh bởi những vòng xích sắt hoen gỉ. Dòng sông Tây Giang mùa này nước dâng lưng chừng bờ, mặt nước phẳng lặng sẫm màu chì, phủ một lớp sương bạc dày đặc khiến bờ bên kia hoàn toàn biến mất, biến cả không gian trước mắt thành một cõi mịt mùng không bờ bến.

Hương Bà bước đến bên tảng đá xanh cạnh gốc cây đa cụt rễ nằm sát mép nước, đặt chiếc đãy xuống rồi ngồi tựa lưng vào phiến đá. Bà lấy tay áo lau đi những giọt mồ hôi lấm tấm nơi vầng trán nhăn nheo, thở dốc từng hồi ngắt quãng.

Tôi bước lại gần, ngồi xuống một mỏm đá thấp hơn đối diện bà, đặt ba lô xuống chân:

- Bà nghỉ một lát đi. Chuyến đò sớm chắc phải đợi mặt trời lên mới qua sông được.

Hương Bà không nhìn tôi, mắt bà hướng ra dải sương mù cuồn cuộn trên mặt sông. Đôi bàn tay gầy gò nổi đầy gân xanh của bà chầm chậm lần mở nút thắt của chiếc đãy vải. Tôi nhìn vào miệng túi mở rộng.

Chiếc đãy vốn phồng to mấy ngày trước giờ đây xẹp lép.

Bên trong không còn những lá bùa vàng viết mực chu sa đỏ chói, không còn nắm đinh đồng hay cuộn chỉ ngũ sắc từng phát ra uy lực kinh hồn.

Đáy túi chỉ còn trơ trọi vài mẩu chu sa vụn nát vụn như hạt cát, một nắm lá ngải cứu khô quắt đã mất hết mùi thơm hăng nồng, và mấy mẩu than gỗ đào đen đúa.

Toàn bộ linh khí, toàn bộ những thứ tích tụ nhiều năm để hành nghề của một bà đồng nức tiếng vùng Lĩnh Nam, đã hoàn toàn cạn kiệt trong trận hỏa thiêu ở đầm Bồ Tầm đêm qua.

Bà lần giở từng thứ vụn vặt ấy, ngón tay khẽ miết qua nắm lá ngải đã khô giòn,

rồi lặng lẽ thắt miệng túi lại. Động tác của bà cẩn trọng, tỉ mỉ như một người nông dân đang thu dọn nông cụ sau một mùa gặt nhọc nhằn, biết rõ mảnh ruộng của mình sẽ chẳng còn cần đến cày cuốc thêm lần nào nữa.

Nhìn những mảnh chu sa vỡ vụn kia, lòng tôi dâng lên bao điều trăn trở. Suốt từ lúc bước chân vào đất Vọng Ngưu Đôn này,

nghe những lời đồn thổi kỳ bí của dân gian, rồi tận mắt thấy bà giăng chỉ đỏ, cắm cọc đào, đối diện với hàng trăm oán hồn chết đói năm ba bảy, tôi luôn tự hỏi bà rốt cuộc là ai.

- Hương Bà, - tôi ngập ngừng lên tiếng, phá vỡ sự tĩnh mịch đang đè nặng - trận pháp ở vũng lầy đã tan, lão Ngưu cũng đã nhắm mắt thanh thản. Nhưng con vẫn chưa hiểu,

bà học những thứ thuật pháp này từ đâu? Người vùng Tây Giang hay đồn đại về các thầy mo, bà cốt xứ Quảng Đông, Hồ Nam mang theo những bí thuật ngàn năm... Bà thuộc dòng phái nào? Sau chuyến này, bà sẽ đi đâu?

Nghe tôi gặng hỏi, khóe môi Hương Bà khẽ giật giật rồi nở một nụ cười mờ nhạt. Bà ngẩng đầu lên,

đôi mắt đùng đục nhìn xoáy vào tôi. Ánh nhìn của bà không có vẻ gì là cao nhân đắc đạo, không mang sự huyền bí xa xăm, mà mộc mạc, gần gũi như ánh mắt của một người bà ở quê nhìn đứa cháu nhỏ vừa hỏi một câu ngô nghê.

- Dòng phái cái gì chứ...

-

- Bà xua tay, giọng nói nhẹ bẫng trôi theo làn gió sông buốt giá.

- Mấy người trẻ các cô các cậu hay đọc sách vở, cứ thích khoác lên người ta những danh xưng ghê gớm. Già này chẳng thuộc phái nào, cũng chẳng có chân truyền bí thuật gì to tát. Mẹ già ngày xưa là người coi việc khâm liệm,

rửa xác cho người chết đói ở mạn Thạch Lâu. Nhìn xác người nhiều quá, thấy cái chết đến từ cái bụng đói thê thảm quá, nên người ta mới truyền cho nhau mấy cái mẹo vặt của người sống để tự vệ, để dỗ dành người khuất mày khuất mặt mà thôi.

Bà ngừng lại, ho khúc khắc vài tiếng, đưa tay vỗ nhẹ vào ngực:

- Già này sống đến tuổi này, qua bao nhiêu biến cố, cũng chỉ như một người cầm chổi quét lá rụng qua đường. Lá rụng chắn lối đi của người sống,

làm vướng chân người chết dưới cõi âm, thì mình cầm chổi quét gọn vào một góc, châm một que diêm đốt đi cho sạch đường sạch ngõ. Giờ lá đã quét xong, đường đã thông, thì chiếc chổi cũng cùn trơ gốc. Có gì mà phải truy nguyên gốc tích với truyền thừa?

Tôi lặng người trước câu trả lời của bà.

Người ta thường tìm kiếm những điều huyền bí ở những góc khuất xa xôi, thêu dệt nên những câu chuyện truyền kỳ về các bậc dị nhân có tài hô phong hoán vũ.

Nhưng đứng trước bờ Tây Giang lộng gió này, đối diện với một bà lão áo chàm mộc mạc mang trên mình những vết thương tích tụ qua năm tháng,

tôi mới hiểu rằng thứ sức mạnh giúp bà đứng vững trước bầy quỷ đói đêm qua bắt nguồn từ sự thấu hiểu tận cùng nỗi đau. ổ của kiếp người, chứ chẳng phải thứ bùa chú thần thông nào cả.

Hương Bà thọc tay sâu vào trong bọc áo trong, rút ra một vật nhỏ rồi chìa về phía tôi:

- Cầm lấy cái này đi, Triều Hành.

Đó là một ống nứa nhỏ dài chừng nửa gang tay, hai đầu được nút chặt bằng sáp ong đã ngả màu xỉn vàng. Vỏ ống nứa nhẵn bóng, in hằn những vết móng tay bấm sâu.

Tôi đưa hai tay đón lấy ống nứa từ tay bà. Vật thể nhẹ bỗng, nhưng khi áp sát vào tai, tôi nghe thấy bên trong có tiếng lạo xạo rất khẽ của những hạt bụi mịn chuyển động.

- Đây là...

-

- Tôi ngước lên nhìn bà, thắc mắc.

- Tàn bùa chu sa đấy.

-

- Hương Bà nói, giọng bà chùng xuống, trầm và ấm.

- Đêm qua,

trước khi ngọn lửa ở đầm Bồ Tầm bùng lên, già gom lại nắm tàn tro cuối cùng của lá bùa định hồn dồn vào đây. Chu sa này đã qua lửa thiêng, toàn bộ linh lực xua đuổi tà ma đều đã cạn kiệt, chỉ còn lại xác tro vô hại. Già cho cậu giữ nó.

- Bà cho con giữ làm gì? Con đâu biết dùng bùa chú, cũng chẳng biết bắt ma trừ tà.

Hương Bà mỉm cười, nụ cười làm những nếp nhăn nơi khóe mắt bà xô lại thành từng rãnh sâu hoắm:

- Bùa chú của già hết phép rồi, gỗ đào cũng đã cháy thành than. Những thứ thuật pháp của người xưa chỉ đủ sức phong bế vũng lầy,

ngăn cái oán khí của năm ba bảy không tràn vào cắn xé xóm làng. Nhưng thuật pháp không thể làm cho người ta quên đi vết thương, cũng không làm cho những linh hồn đã khuất được sống lại một cách tử tế trong lòng con người.

Bà chỉ ngón tay khẳng khiu vào cuốn sổ tay bìa da cũ đang nhét ở ngăn ngoài chiếc balo của tôi:

- Ngòi bút của cậu mới là thứ bùa chú lâu bền nhất. Mấy hôm nay, già nhìn cậu ngồi bên lão Ngưu ghi từng cái tên, chép từng số phận. Thạch Cửu, Thiếu Quân, con bé Thục Phân... bao nhiêu mạng người bị bùn đất vùi dập gần một thế kỷ,

đến nay mới có người viết tên họ ra giấy trắng mực đen. Cậu cầm ống tro này theo, để mỗi lần hạ bút viết về vùng đất này, viết về những xác người đói khát năm ấy, cậu nhớ rằng phía sau những câu chuyện ma mị là nỗi đau máu thịt của đồng bào mình.

Bà nắm lấy bàn tay tôi, những ngón tay khô ráp của bà siết nhẹ lấy các đốt ngón tay tôi:

- Dùng ngòi bút chân thực của cậu mà hóa giải nốt những oán hận còn vương trên giấy mực. Chỉ khi nào người đời sau đọc được, hiểu được vì sao ông bà họ phải ăn bùn quỷ mà chết,

hiểu được cái giá của hạt gạo ngụm nước hôm nay, thì những người nằm dưới đầm sâu mới thực sự được siêu sinh. Việc đó, bùa của già không làm nổi. Chỉ có lòng trắc ẩn của người chép sử như cậu mới làm trọn được thôi.

Lời dặn dò của Hương Bà dội vào lòng tôi từng hồi chấn động. Tôi cúi đầu nhìn ống nứa nhỏ trong lòng bàn tay. Mảnh tàn bùa chu sa cạn kiệt linh lực kia không còn sức mạnh trấn áp ma quỷ, nhưng nó lại mang sức nặng ngàn cân của ký ức tập thể,

một sự chuyển giao âm thầm giữa thế hệ những người gánh vác việc tâm linh cổ xưa sang cho người ghi chép của thời hiện đại. Huyền thuật đã kết thúc sứ mệnh của nó trong đêm lửa thiêng, nhường chỗ cho sự thức tỉnh của lương tri và lòng trắc ẩn.

Tôi cẩn thận cất ống nứa vào sâu trong túi áo ngực, ngay sát cạnh trái tim mình:

- Con nhớ rồi, Hương Bà. Từng dòng chữ con viết ra, con xin lấy sự thật làm gốc, không thêu dệt, không giật gân, trả lại đúng nỗi đau của họ.

Hương Bà gật đầu, vẻ mặt bà giãn ra, nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng cuối cùng trên vai.

Bỗng nhiên, từ phía dòng sông Tây Giang mù mịt, một vệt tối chầm chậm rẽ màn sương trắng trôi vào bờ.

Tôi giật mình ngước mắt nhìn ra. Không có một tiếng khua nước, không có tiếng mái chèo đập vào mạn thuyền lách cách. Chiếc thuyền nan dài ngoẵng, cũ kỹ như vỏ một hạt đậu khô, lướt êm êm trên mặt nước phẳng lặng như gương.

Đứng ở đuôi thuyền là một bóng người gầy guộc, mặc chiếc áo tơi bằng lá cọ rách bươm,

đầu đội nón lá sụp xuống che khuất nửa khuôn mặt. Tay người ấy cầm một cây sào tre dài bóng loáng, mỗi lần cắm sào xuống lòng sông đẩy đi đều nhẹ nhàng, uyển chuyển đến mức mặt nước xung quanh không hề nổi lên một gợn sóng nhỏ.

Đó là lão lái đò câm của bến đò ngang Vọng Ngưu Đôn. Người trong làng bảo lão đã cắm sào ở khúc sông này từ trước cả khi trận đói năm ba bảy tràn qua. Lão không nói được,

tai cũng điếc đặc, ngày ngày chỉ lặng lẽ đưa người qua lại giữa hai bờ Tây Giang, chưa từng nhận của ai một đồng tiền công, chỉ nhận vài củ khoai hay bát cơm nguội để sống qua ngày.

Chiếc thuyền nan trôi từ từ rồi ghé mũi vào doi cát cạnh cây cọc lim tróc vỏ. Mũi thuyền chạm vào bờ cát mềm xốp với một tiếng "xào" rất khẽ. Lão lái đò câm vẫn đứng bất động ở đuôi thuyền,

hai bàn tay xương xẩu bám chặt vào thân sào tre, đôi mắt đục mờ giấu dưới vành nón lá hướng thẳng về phía chúng tôi, không phát ra một âm thanh nào.

Hương Bà đứng dậy, phủi nhẹ tà áo chàm. Bà cúi xuống nhặt chiếc đãy vải rỗng vắt lên vai, rồi bước từng bước vững chãi xuống doi cát.

- Thuyền đến rồi. Già phải đi đây.

-

- Bà quay lại nhìn tôi lần cuối.

- Bà xuôi về phía hạ lưu hay sang bờ bên kia?

-

- Tôi bước theo bà ra sát mép nước, giọng không giấu nổi sự bịn rịn.

- Sông nước đưa đi đâu thì về đó. Vùng đất này sạch rồi, già ở lại làm gì nữa. Đi tìm một khúc sông khác, quét nốt mấy chiếc lá rụng chưa tan...

Hương Bà bước một chân lên mạn thuyền nan. Chiếc thuyền khẽ chao nhẹ một nhịp rồi lại lấy lại thế thăng bằng. Bà ngồi xuống chiếc sạp tre ở giữa thuyền, đặt chiếc đãy vải lên đùi, hai bàn tay đan vào nhau đặt ngay ngắn.

Lão lái đò câm không nói một lời, hai cánh tay gầy guộc vặn nhẹ một cái, chiếc sào tre cong vút đẩy mũi thuyền rời khỏi bờ cát.

Con thuyền nan từ từ lùi ra xa, rồi quay mũi xuôi theo dòng nước trôi lững lờ về phía hạ lưu sông Tây Giang.

Màn sương bạc trên mặt sông lúc này cuộn lên từng đợt dày đặc,

quấn lấy thân thuyền. Bóng lưng còng của lão lái đò câm cắm sào nhấp nhô nhịp nhàng theo con nước. Tà áo chàm sẫm màu của Hương Bà nhạt dần, nhạt dần, chìm vào dải sương mù mênh mang đang giăng kín cả mặt sông hun hút.

Không một tiếng động khua nước. Không một lời từ biệt ngân dài. Cả con thuyền và hai con người ấy như tan biến vào cõi hư ảo của dòng sông cổ kính, biến mất như chưa từng tồn tại giữa trần gian.

Gió sớm thổi lồng lộng qua bến vắng, mang theo hơi lạnh ẩm ướt táp thẳng vào mặt tôi.

Tôi đứng trơ trọi bên gốc cọc lim gỉ sét, nhìn theo hướng con thuyền vừa khuất nẻo mà lòng ngập tràn một nỗi bâng khuâng khó tả. Bờ Tây Giang vẫn sừng sững những rặng tre già cỗi ngả bóng xuống dòng nước trôi miệt mài. Mọi dấu vết của cuộc chiến trừ tà đêm qua,

bóng dáng của người thợ rèn già trút hơi thở cuối cùng, và cả tà áo chàm của bà lão quét lá qua đường... tất cả đều đã trôi xa theo con nước.

Tôi đưa tay lên ngực áo, chạm vào ống nứa đựng tro bùa chu sa đang tỏa ra hơi ấm nhè nhẹ qua lớp vải dày.

Mặt trời bắt đầu nhô lên sau rặng núi xa xa bên kia bờ sông. Những tia nắng sớm đầu tiên xuyên thủng màn sương bạc dày đặc, rải những vệt sáng vàng óng ánh xuống mặt nước Tây Giang,

nhuộm hồng cả một dải đất bồi nơi bến vắng. Đã đến lúc tôi phải quay trở lại vũng lầy Bồ Tầm, dùng chính đôi mắt và ngòi bút của mình để ghi lại sự đổi thay của mảnh đất vừa thoát khỏi nanh vuốt của cơn ác mộng năm ba bảy.

Chương khác

Xem thêm