Bùn Quỷ Thực - Chương 54: Lời Nguyền Của Dòng Họ Quỷ

Máu từ vết cắt sâu nơi hai lòng bàn tay tôi vẫn rỉ ra từng giọt, lăn qua kẽ ngón tay rồi nhỏ tí tách xuống thớ gỗ đào nứt toác. Vị tanh nồng của máu sống…

Nội dung chương

Máu từ vết cắt sâu nơi hai lòng bàn tay tôi vẫn rỉ ra từng giọt, lăn qua kẽ ngón tay rồi nhỏ tí tách xuống thớ gỗ đào nứt toác.

Vị tanh nồng của máu sống hòa lẫn mùi hăng hắc của bột chu sa bốc lên cay xè hai cánh mũi.

Trước mặt tôi, ngay tại kẽ hở của dải chỉ đỏ vừa đứt gãy, đứa trẻ nhỏ thó trần truồng vẫn đứng trơ trọi giữa làn nước lấp xấp bùn đen.

Toàn bộ lồng ngực gầy guộc của nó nhô lên từng dải xương sườn cong queo dưới lớp da mỏng dính màu xám tro.

Đôi chân khẳng khiu cắm sâu vào sình lầy, hai cánh tay teo tóp run rẩy giơ cao chiếc bát sành mẻ miệng về phía bờ đất.

Đôi mắt trũng sâu đen ngòm của đứa bé ngước nhìn tôi trân trân.

Trong đáy mắt ấy không có hung quang cuồng nộ, không có sát khí tanh tưởi của bầy quỷ bùn vừa gầm thét đòi xé xác người sống.

Đáy mắt nó trống hoác, thăm thẳm một nỗi đau đớn và nỗi thèm khát cùng cực đã bị giam cầm suốt mấy mươi năm dưới đáy vực tăm tối.

Đôi môi thâm sì nứt nẻ của đứa bé mấp máy liên hồi nhưng không thể bật ra trọn vẹn một thanh âm nào, chỉ có tiếng gió rít khẽ qua kẽ răng run lẩy bẩy.

Tôi nhìn chăm chú vào chiếc bát sành mẻ trên tay đứa trẻ, lồng ngực bỗng nghẹn đắng lại.

Cơn đói năm Đinh Sửu ùa về trong tâm thức tôi rõ mồn một qua từng trang sổ tay ướt đẫm mồ hôi.

Những cọc gỗ đào cắm sâu xuống đất, những sợi chỉ đỏ tẩm máu gà trống cùng những đòn pháp thuật hung hiểm có thể chém đứt móng vuốt,

có thể giam cầm oán khí. Nhưng tuyệt nhiên không một thứ bùa chú nào trên cõi đời này dập tắt nổi cơn đói cào xé ruột gan đã hành hạ những con người khốn khổ ấy qua gần một thế kỷ.

Họ chìm sâu dưới lòng đầm không phải vì muốn làm yêu ma quấy nhiễu nhân gian.

Họ quẫy đạp, họ trồi lên, cào cấu bờ đất đá này chỉ vì một bản năng nguyên thủy nhất của kẻ chết đói: thèm một hột cơm bỏ bụng.

Tôi buông hai bàn tay đang ghì chặt cọc gỗ đào ra. Thân gỗ bật nhẹ một tiếng, lớp vỏ cây xước xát nhuộm đẫm máu tươi của tôi. Tôi lảo đảo lùi lại nửa bước,

buông lỏng hai bả vai đang căng cứng vì kiệt sức rồi từ từ quỳ một bên gối xuống mặt đất ẩm ướt đầy sỏi nhọn. Vết rách nơi lòng bàn tay cọ vào vạt áo buốt nhói lên tận thái dương, nhưng tôi không buồn nhìn xuống.

Tôi vươn tay ra sau lưng, tháo phăng chiếc bao tải nhỏ bằng vải gai thô vốn được buộc chặt bên hông ba lô dã chiến từ lúc rời khỏi chợ phiên thị trấn hôm trước. Bao tải vải gai nặng trĩu,

bên trong chứa năm cân gạo trắng mùa mới mà tôi mua dự phòng khi nghe ông lão bến đò kể về những lễ cúng tạ đất ven sông. Hạt gạo mới gặt, hạt nào hạt nấy tròn lẳn, bóng bẩy và thơm phức mùi nắng đồng bằng.

Hương Bà đứng cách tôi ba bước chân, một tay ôm lấy ngực nén cơn ho khan rũ rượi, tay kia vẫn nắm chặt chuôi kiếm gỗ đào đẫm tàn hương. Thấy động tác của tôi, ánh mắt đục ngầu đầy tơ máu của bà thoáng sững lại. Bà nhìn bao tải gạo trên tay tôi,

rồi nhìn về phía bóng đứa trẻ gầy guộc đang run rẩy dưới mép bùn, hàng chân mày bạc phếch của bà từ từ giãn ra. Người đàn bà cả đời gắn bó với việc cúng tế ven bờ Tây Giang lập tức hiểu thấu điều tôi đang làm.

Hương Bà thở dài một tiếng thật sâu,

một tiếng thở dài trút bỏ toàn bộ sự căng thẳng tột cùng của trận huyết chiến. Bà chầm chậm hạ thấp mũi kiếm gỗ đào xuống đất, cắm phập thanh kiếm vào mô đất đá sát bên chân cọc chủ để giữ vững mắt trận, tuyệt đối không vung kiếm thị uy thêm một lần nào nữa.

Bà đưa bàn tay gầy guộc tháo chiếc mõ tre nhỏ bằng nắm tay treo bên hông dải khăn tang. Cầm lấy chiếc dùi gỗ mòn nhẵn, bà khẽ gõ một nhịp "cốc" thanh mảnh vào thân mõ.

Âm thanh mõ tre cất lên giữa đêm tàn không còn dồn dập, chát chúa để xua đuổi tà ma như lúc nãy. Từng tiếng gõ vang lên thong thả,

trầm ấm và nhịp nhàng, như thể tiếng chày đập lúa trên sân gạch của những đêm trăng thanh bình thuở trước. Hương Bà hít một hơi dài, lồng ngực gầy phập phồng dưới manh áo nâu sồng rách nát, rồi bà cất giọng xướng lên.

Đó là điệu ca chiêu hồn và tống tiễn người chết đói lưu truyền nơi thôn dã Quảng Đông, một bài dân ca cổ xưa dùng để an ủi những linh hồn tha hương ngã gục bên bờ bụi:

- Hồn ơi về đây, đừng tìm bùn đất... Đất lạnh khôn nguôi, nước lầy đói khát... Hạt ngọc nhà trời, rơi trên tay ấm... Nuốt lấy miếng no, dứt nợ trần gian...

Giọng hát của Hương Bà khàn đặc vì ngấm sương lạnh và khói bùn khét lẹt,

run rẩy theo từng đợt gió đông bắc rít qua rặng trúc gai. Nhưng bài ca mộc mạc ấy cất lên lại mang theo một sức mạnh kỳ lạ, nhẹ nhàng lan tỏa trên mặt nước, xoa dịu từng đợt sóng bùn đang cựa quậy dưới đáy vực sâu.

Tôi dùng hàm răng cắn đứt nút thắt bằng dây đay buộc miệng bao tải, giật mạnh lớp vải gai thô sang hai bên. Mùi cám gạo mới, thơm ngai ngái và thanh khiết ngập tràn không gian,

xua bớt mùi bùn thối lợm giọng đang bốc lên từ lòng đầm. Thứ mùi hương của sự sống, của mồ hôi người cày cấy, của bát cơm nóng hổi trên mâm cơm gia đình đối lập hoàn toàn với tử khí u uất bao trùm nơi này suốt bấy lâu.

Tôi thọc cả hai bàn tay đầy vết thương rỉ máu vào sâu trong lòng bao tải gạo. Từng hạt gạo trơn nhẵn,

mát rượi lập tức chèn qua kẽ ngón tay, vỗ về lấy lớp da thịt đang rách toạc của tôi. Bột cám bám chặt vào miệng vết thương xót buốt đến thấu xương, nhưng tôi chỉ cắn chặt môi, cảm nhận sự no đủ vững chãi của từng hạt ngọc thực nằm gọn trong hai nắm tay mình.

Tôi vốc lên hai nắm gạo trắng thật đầy, quỳ cả hai đầu gối xuống mép sình lầy lạnh ngắt. Bùn đen lập tức thấm qua lớp vải quần bò, buốt nhức hai bánh chè, nhưng tôi không lùi lại. Tôi nhìn thẳng ra mặt đầm mênh mông phía trước,

nơi hàng trăm cánh tay đen đúa xương xẩu vẫn đang lập lờ trôi nổi trên mặt nước đục ngầu. Những gương mặt méo mó bằng đất bùn ngước lên nhìn tôi, không còn nhe răng gầm rống, chỉ có sự ngơ ngác tột cùng khi ngửi thấy mùi thơm của gạo trắng.

Tôi lấy lại bình tĩnh, dồn toàn bộ sức lực nơi lồng ngực, cất cao tiếng nói giữa tiếng mõ tre nhịp nhàng của Hương Bà:

- Hỡi bà con làng xóm thôn Hạ Lĩnh, Ngưu Đầu! Hỡi những người gánh nước, phu chèo đò bến Tây Giang năm Đinh Sửu! Tôi là Tô Triều Hành, người đời sau tìm về đây để ghi lại nỗi thống khổ của các vị! Năm đó trời làm đại hạn,

giặc giã hoành hành, miếng ăn cướp khỏi tay người nghèo, khiến mọi người phải nuốt bùn đất thay cơm mà lìa bỏ cõi đời trong cay đắng tủi nhục! Nỗi oan khuất ấy, người đời sau không bao giờ quên lãng!

Tôi dừng lại một nhịp, hai cánh tay giơ cao hai nắm gạo trắng ngần lên giữa không trung, nước mắt bỗng trào ra nơi khóe mi lúc nào không hay:

- Nay tôi mang gạo trắng mùa mới của trần gian về đây, thành tâm dâng lên chia sớt cùng tiền nhân một bữa no ấm! Xin hãy buông bỏ bùn đất tanh hôi, nhận lấy hạt ngọc của đất trời mà giải thoát khỏi cơn đói khát đọa đày!

Dứt lời, tôi vung mạnh hai cánh tay, rải tung nắm gạo trắng ngần ra giữa lòng đầm Bồ Tầm.

Từng vốc gạo trắng bay rào rào qua làn sương đêm, vạch thành những đường cong sáng mờ giữa không gian u tối, rồi rơi lả tả xuống mặt nước bùn đen đặc.

Ngay khi hạt gạo đầu tiên chạm vào lớp bùn quánh, một cảnh tượng khó tin hiện ra trước mắt tôi. Không có tiếng gầm rú giận dữ,

không có khói đen bốc lên như lúc chạm phải máu gà chu sa. Nơi hạt gạo trắng chìm xuống, một vầng sáng trắng ngà dịu nhẹ bỗng bừng nở trên mặt nước, tỏa ra hơi ấm êm dịu xua tan cái giá lạnh cắt da cắt thịt.

Lớp bùn đen sôi lục bục rồi từ từ tan ra. Hàng vạn cánh tay quỷ khẳng khiu dưới lòng đầm không còn giương móng vuốt cào cấu dữ dằn nữa. Chúng run rẩy buông lỏng ra, những ngón tay đen sì co quắp chầm chậm xòe rộng,

cẩn thận nâng niu hứng lấy từng hạt gạo trắng rơi xuống từ trời. Có người gom được ba bốn hạt gạo trong lòng bàn tay gầy trơ xương, vội vàng áp chặt vào lồng ngực lõm sâu của mình, đầu cúi gập xuống như đang ôm giữ báu vật quý giá nhất trần gian.

Màu đen quánh của bùn đất bám trên thân thể họ bắt đầu nứt nẻ, bong tróc từng mảng lớn rơi lả tả xuống đáy nước.

Dưới lớp sình lầy uế tạp, hình bóng thật sự của những con người năm xưa dần dần hiển hiện.

Đó là những người nông dân mặc áo tơi rách bươm, những người phụ nữ gầy trơ xương quấn dải khăn xơ xác, những đứa trẻ trần truồng teo tóp.

Họ run rẩy đưa những hạt gạo trắng vô hình lên miệng nhai ngấu nghiến.

Vị ngọt lành của hạt gạo quê hương sau gần một thế kỷ đọa đày rốt cuộc cũng thấm vào cuống họng khô cằn của họ, làm tan biến đi vị tanh tưởi, lợm giọng của thứ bùn quỷ thực đã giết chết thể xác họ năm nào.

Tôi liên tục thọc tay vào miệng bao tải gai, vốc từng nắm, từng nắm gạo ném mạnh ra xa.

Tôi ném về phía bờ đá nơi cọc cấn đang rung lên bần bật.

Tôi ném về phía rặng sậy xơ xác nơi những người đàn bà từng gục ngã trong tuyệt vọng.

Tôi ném thẳng ra giữa tâm đầm sâu thẳm,

nơi những phu phen bến đò bị dòng nước xoáy cuốn trôi không tìm thấy xác. Hai cánh tay tôi rã rời vì hoạt động liên tục, máu từ vết rách nơi lòng bàn tay hòa lẫn vào từng nắm gạo trắng, rải đều khắp bốn phương tám hướng của đầm lầy.

Tiếng mõ tre của Hương Bà gõ mỗi lúc một thong thả hơn. Bài ca tống tiễn của bà hòa cùng tiếng gió đêm ràn rạt,

chở che cho những linh hồn đang run rẩy đón nhận sự no đủ muộn màng. Từng giọt mồ hôi lăn dài trên trán bà, nhỏ xuống áo, nhưng ánh mắt bà nhìn ra đầm lầy tràn ngập sự xót thương vô hạn của một bậc trưởng bối nhìn những đứa con lưu lạc tìm được đường về.

Lúc này, tiếng bùn nhão lép bép vang lên ngay sát mép nước trước mặt tôi.

Bóng dáng đứa trẻ gầy trơ xương chầm chậm cất bước. Đôi chân khẳng khiu như hai que củi khô ngập sâu trong lớp bùn lầy, nó bước từng bước run rẩy tiến thẳng về phía tôi. Tiếng nước rẽ ra nhè nhẹ, từng bọt khí nhỏ vỡ tan dưới gót chân trần của nó.

Đứa bé dừng lại ngay trước đầu gối tôi, cách tôi chỉ chừng một sải tay ngắn ngủi.

Ở khoảng cách gần gũi này, tôi nhìn rõ từng đường gân xanh xao chằng chịt trên vầng trán dô của đứa trẻ. Nó chừng năm hay sáu tuổi, đầu to quá khổ so với cái cổ khẳng khiu yếu ớt vì di chứng của những ngày dài nhịn đói đến phù thũng. Tóc nó rụng gần hết,

vài sợi hoe vàng dính bết vào da đầu đầy bùn đất. Chiếc bụng phình to trơ trọi từng chiếc xương sườn gầy guộc. Hai bàn tay nhỏ xíu nứt nẻ của nó run bần bật, cẩn thận nâng chiếc bát sành mẻ miệng giơ thẳng lên trước mặt tôi.

Đôi mắt trũng sâu đen ngòm của đứa trẻ ngước nhìn tôi chăm chú. Từ khóe mắt khô cằn tưởng như đã cạn kiệt mọi sinh khí ấy, hai dòng nước màu bùn đen nhạt chầm chậm ứa ra, lăn dài qua đôi gò má hóp rồi rơi tí tách xuống đáy bát sành,

phát ra những tiếng "tách, tách" khô khốc giữa đêm vắng. Nó không khóc thành tiếng, bờ môi thâm sì chỉ run lên bần bật, nhưng nỗi uất nghẹn và sự tủi hờn của một đứa trẻ phải chết đói trong góc chòi rách nát năm ấy như đè nặng lên từng thớ thịt trong lồng ngực tôi.

Tôi buông bao tải gai xuống nền đất, vươn cả hai bàn tay đầy máu vào trong đáy bao. Tôi vốc lên một nắm gạo trắng thật lớn, vun ngọn thật đầy đặn, không để rơi rớt dù chỉ một hạt nhỏ.

Tôi cúi gập người xuống sát mặt nước, hai bàn tay tôi run rẩy đưa về phía trước, nhẹ nhàng trút toàn bộ nắm gạo trắng ngần ấy vào lòng chiếc bát sành sứt mẻ của đứa bé.

- Ăn đi con...

-

- Cổ họng tôi nghẹn đắng lại, giọng nói khản đặc run rẩy giữa làn sương lạnh.

- Gạo mới mùa này thơm lắm, ăn cho no rồi về với mẹ...

Những hạt gạo trắng rơi lấp đầy lòng chiếc bát sành vỡ.

Đứa trẻ nhìn chăm chú vào bát gạo đầy ắp trên tay mình, hai cánh tay khẳng khiu siết chặt lấy thân bát như sợ ai đó sẽ cướp mất. Nó run rẩy đưa những ngón tay đen nhẻm vuốt ve từng hạt gạo tròn lẳn, rồi nó từ từ ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt tôi.

Trên gương mặt xám ngắt, dị dạng của đứa bé quỷ bùn, những nếp nhăn nheo co rúm dần dần giãn ra. Một nụ cười nhạt nhòa nhưng vô cùng rạng rỡ bất chợt nở trên đôi môi nứt nẻ của nó. Nụ cười hồn nhiên,

trong trẻo của một đứa trẻ thơ khi lần đầu tiên được người lớn chia cho một bát cơm đầy sau chuỗi ngày dài đằng đẵng chịu đói rét trong bóng tối câm lặng.

Một luồng sáng trắng ngà dịu mát từ chiếc bát sành bừng nở, bao trùm lấy toàn bộ thân hình đứa trẻ. Lớp bùn đen bám trên da thịt nó rụng xuống,

tan biến vào làn nước. Hình bóng gầy guộc của đứa bé mờ dần, mờ dần rồi hóa thành những đốm sáng nhỏ li ti, bay bổng lên cao hòa vào màn sương sớm đang bảng lảng trên mặt đầm.

Cùng lúc đó, khắp mặt đầm Bồ Tầm rộng lớn, tiếng rên xiết đòi ăn từng làm kinh hoàng cả góc rừng suốt đêm qua đã hoàn toàn tắt lịm. Hàng vạn cánh tay quỷ đen đúa dưới lòng bùn từ từ tan rã thành từng luồng khói xám nhạt,

bay là là rồi tan biến vào hư không. Những bóng hình người nông dân, thợ rèn, phu chèo đò lần lượt cúi đầu hướng về phía bờ đất bái tạ, rồi chìm dần vào giấc ngủ ngàn thu thanh thản.

Không còn tiếng cào cấu điên cuồng, không còn tiếng gầm rú đòi máu thịt. Cả đầm lầy chỉ còn lại những tiếng thở dài nhẹ nhõm nối tiếp nhau vang lên,

như thể hơi thở của những người vừa hoàn thành một chuyến đi dài đầy đọa đày, rốt cuộc cũng tìm được chốn nghỉ ngơi yên ổn sau gần một thế kỷ đói khát triền miên.

Đứa trẻ đã tan biến vào thinh không, chỉ còn lại chiếc bát sành mẻ miệng lơ lửng giữa không trung trong một nhịp thở ngắn ngủi.

Mất đi sự nâng đỡ của hai bàn tay nhỏ bé, chiếc bát sành trĩu nặng buông rơi.

Ùm.

Một tiếng động rất khẽ vang lên khi đáy bát chạm vào mặt nước đục ngầu. Chiếc bát sành sứt sẹo chao đảo vài nhịp, bọt khí li ti nổi lên rồi từ từ chìm nghỉm qua lớp bùn lỏng. Nó trôi thẳng xuống đáy sâu thẳm của đầm Bồ Tầm,

cắm ngập vào lớp bùn đen lạnh ngắt bên dưới, nằm lại vĩnh viễn ở nơi tăm tối ấy như một chứng tích vật chất duy nhất còn sót lại của trận đói thảm khốc năm một ngàn chín trăm ba mươi bảy.

Chương khác

Xem thêm