Bùn Quỷ Thực - Chương 51: Đại Trận Phong Ấn Bách Quỷ
Bóng chiều sụp xuống mép đầm Bồ Tầm nhanh hơn mọi ngày. Ráng đỏ cuối cùng bên bờ Tây Giang vừa tắt ngấm sau rặng tre cằn cỗi thì màn sương xám đục đã từ…
Nội dung chương
Bóng chiều sụp xuống mép đầm Bồ Tầm nhanh hơn mọi ngày. Ráng đỏ cuối cùng bên bờ Tây Giang vừa tắt ngấm sau rặng tre cằn cỗi thì màn sương xám đục đã từ dưới mặt nước đùn lên,
bao bọc lấy toàn bộ doi đất hoang phế. Gió bấc thổi thốc qua các rặng trúc khô khốc, phát ra từng hồi rít gắt gỏng kẽo kẹt rợn cả gáy.
Mặt bùn dưới chân tôi bắt đầu biến chuyển. Những bọt khí to bằng nắm tay lục bục trồi lên từ đáy sâu,
vỡ toác ra, tỏa mùi tanh tưởi của bùn thối lẫn mùi hôi khét của thịt cá rữa nát mục ruỗng nhiều ngày. Từng mảng bùn đen quánh, nhẫy nhụa chất nhờn, chầm chậm trườn bò lên mép cỏ lau như một loài bò sát khổng lồ đang thức giấc sau giấc ngủ vùi suốt sáu mươi năm.
Sau cú giằng co suýt nữa kéo lão A Ngưu chìm xuống lòng đầm ở mép nước, Hương Bà đã kịp dùng dây thừng gai bện ngải cứu trói chặt hai chân lão vào gốc cây vối già trên bờ cao. Lão nằm co quắp trên nền đất lạnh,
hai mắt trợn ngược trắng dã, miệng vẫn ú ớ gọi tên đứa em trai xấu số trong cơn mê sảng. Vết cào ở cổ chân lão rỉ ra một thứ nước vàng nhờ nhợ khét lẹt, ăn mòn cả lớp da mỏng manh của người già.
- Đừng nhìn lão nữa, trời sụp tối hẳn rồi.
-
- Hương Bà giật giọng kéo tôi về thực tại.
Bà ngồi thụp xuống một mỏm đất khô ráo cạnh bụi gai, cởi bọc vải gai thô khoác trên vai đặt xuống đất. Bọc vải màu nâu sẫm,
phủ một lớp bụi đường dài và vương vãi những vụn lá bùa đã cháy thành than. Bàn tay gầy guộc đầy vết đồi mồi của bà run run mở từng nếp gấp. Bên trong bọc lộ ra chín chiếc cọc nhọn dài chừng hai gang tay, thân cọc thô ráp, sẫm màu cánh gián và nặng trịch.
- Đây là gỗ đào sét đánh mọc trên sườn núi đá vôi, đốn xuống vào đúng giờ Ngọ ngày Đoan Ngọ, vót nhọn rồi ngâm trong nước giếng cổ đủ bảy bảy bốn chín ngày.
-
- Hương Bà nhấc một chiếc cọc lên, áp sát vào mũi ngửi rồi chuyền sang tay tôi.
- Gỗ đào hút linh khí của mạch nước ngầm, cắm xuống đất bùn mới chịu nổi hơi chướng của quỷ đói. Cậu phải cầm lấy, theo sát bước chân tôi. Tôi đi bước nào, cậu theo bước ấy, tuyệt đối không được giẫm lệch ra ngoài phạm vi dấu chân tôi để lại.
Tôi đón lấy thân cọc đào. Gỗ lạnh buốt, thớ gỗ đanh chắc và nặng hơn nhiều so với hình dung của tôi. Trên thân mỗi chiếc cọc đều khắc chìm một đạo phù trấn thổ ngoằn ngoèo, rãnh khắc miết đầy thứ bột chu sa đỏ au đã khô lại thành vệt sần sùi.
Hương Bà đưa cho tôi một chiếc vồ bằng gỗ nghiến nặng trịch, tay kia bà rút từ trong tay áo ra một chiếc mõ gỗ nhỏ xíu đã mòn vẹt nước sơn đen. Bà nhìn thẳng vào mắt tôi, ánh mắt sắc lẹm và kiên quyết:
- Chín chiếc cọc này tương ứng với chín cung vị Cửu Cung: Nhất Khảm, Nhị Khôn, Tam Chấn, Tứ Tốn, Ngũ Trung, Lục Càn, Thất Đoài, Bát Cấn, Cửu Ly.
Chúng ta đi từ hướng chính Bắc của cung Khảm, bao bọc toàn bộ mép nước này lại thành một cái lồng khóa khí.
Mỗi lần tôi gõ ba tiếng mõ, cậu phải dùng hết sức bình sinh nện cọc xuống cho ngập hẳn vào đất ẩm.
Không được nện thừa một nhát, cũng không được để cọc xiên vẹo.
Cọc nghiêng là khí thoát, oán hồn dưới đầm sẽ mượn kẽ hở đó mà tràn lên nuốt sống cả làng.
Tôi gật đầu thật mạnh, siết chặt chiếc vồ gỗ trong lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi hột. Mùi bùn sực lên cay nồng xộc thẳng vào cuống họng khiến tôi phải nén từng cơn buồn nôn.
Hai người chúng tôi bắt đầu bước xuống mép nước.
Bùn nhão lạnh thấu xương ngập qua cổ chân,
thấm qua lớp vải bạt của đôi giày leo núi, dính chặt lấy da thịt tôi như muốn níu giữ từng bước đi. Mỗi lần nhấc chân lên, lớp bùn sệt phát ra những tiếng bẹp bẹp nặng nề, kèm theo từng luồng khí lạnh chạy dọc từ gót chân ngược lên sống lưng.
Hương Bà bước đi thoăn thoắt phía trước. Dáng người bà còng rạp nhưng đôi chân giẫm trên nền sình lầy lại vững vàng một cách lạ thường. Bà đi đến điểm đầu tiên ở doi đất nhô ra sát mép sóng đen,
dừng lại, xoay người về hướng Bắc rồi vung dùi gõ nhẹ vào thân mõ gỗ.
Cốc. Cốc. Cốc.
Ba tiếng gõ trầm đục vang lên, xuyên qua màn sương mù dày đặc rạch ròi đến gai người.
Tôi lập tức tiến tới, chọn đúng điểm giao thoa giữa mép nước và vạt cỏ dại,
ấn mũi cọc gỗ đào thứ nhất xuống lớp bùn đen. Đất dưới này nhão nhoét nhưng càng xuống sâu lại càng có một sức cản vô hình đẩy ngược cọc lên. Tôi gồng cứng hai bả vai, vung chiếc vồ gỗ nện thẳng vào đuôi cọc.
Bốp! Bốp! Bốp!
Ba nhát nện dứt khoát giáng xuống. Chiếc cọc cắm phập xuống lòng đất,
chỉ trơ lại phần đuôi gỗ tròn bằng miệng chén ăn cơm. Ngay khi cọc cắm ngập đất, mạch nước bùn xung quanh chân cọc bỗng sủi lên một vòng bọt trắng rồi lập tức lắng xuống, phẳng lặng như có một bàn tay vô hình vừa đè bẹp những đợt sóng ngầm. Cung Khảm đã an vị.
Chúng tôi tiếp tục di chuyển vòng quanh mép đầm theo hướng Tây Nam để đến cung Khôn.
Bước chân tôi bắt đầu nặng trĩu.
Lớp bùn hình như ngày càng dẻo quánh lại, quấn chặt lấy bắp chân tôi từng tấc một.
Gió lạnh từ lòng đầm thổi tạt vào mặt rát buốt, mang theo tiếng thì thầm lao xao rất nhỏ.
Đó là thứ âm thanh váng vất mà tôi thường nghe thấy mỗi khi trực giác mách bảo có vong hồn lẩn khuất chung quanh: tiếng rên rỉ đòi ăn, tiếng nhai trệu trạo của những hàm răng va vào nhau lập cập, tiếng khóc ngằn ngặt của trẻ thơ bị bỏ đói giữa cánh đồng hoang.
Hương Bà không hề ngoái đầu lại. Tiếng mõ gỗ của bà vẫn điểm đều đặn theo từng nhịp thở.
Cốc. Cốc. Cốc.
Cọc thứ hai cắm xuống đất bùn ở cung Khôn. Rồi cọc thứ ba ở cung Chấn hướng chính Đông. Cọc thứ tư ở cung Tốn hướng Đông Nam.
Mỗi chiếc cọc lún sâu vào lòng đất là một lần tôi cảm nhận được sự giằng co dữ dội bên dưới chân mình. Mặt đất ẩm ướt rung lên khe khẽ,
như thể có hàng chục con trắm đen khổng lồ đang quẫy đạp điên cuồng dưới tầng bùn sâu để hất tung những chiếc cọc đào cản đường. Mồ hôi trên trán tôi vã ra như tắm, chảy dài xuống thái dương cay xè, hòa lẫn với thứ nước bùn tanh nồng bắn lên từ các nhát vồ.
Khi chúng tôi tiến đến điểm chính giữa bờ cong của doi đất, vị trí tương ứng với Trung cung, dị biến bắt đầu phát tác dữ dội.
Nơi đây là một hõm nước sâu trũng, nước đen ngòm tù đọng không một ngọn cỏ nào có thể mọc nổi. Trên mặt nước bập bềnh mấy khúc rễ cây mục nát đen thui như xương người chết cháy.
Tôi vừa đặt chân xuống mép hõm nước để xác định vị trí cắm chiếc cọc thứ năm thì mặt bùn dưới chân đột ngột lún sụp xuống. Cả bàn chân phải của tôi trượt dài, ngập sâu quá đầu gối.
Cái lạnh thấu buốt từ dưới bùn sâu lập tức ập tới, bao vây lấy bắp chân tôi. Nó không phải cái lạnh của nước đá mùa đông, mà là cái lạnh nhớp nháp của một bàn tay vô hình đang siết chặt lấy mắt cá chân tôi, kéo ghì xuống đáy sâu tăm tối.
- Ư...
-
- Tôi nghẹn giọng, hai tay chới với chộp lấy thân một bụi trúc gần đó để giữ thăng bằng.
Lực kéo từ dưới bùn mỗi lúc một mạnh thêm. Lớp bùn đặc quánh bắt đầu sủi tăm lục bục,
vặn xoắn quanh chân tôi thành một xoáy nước nhỏ. Bên tai tôi, tiếng gió rít qua rặng trúc biến mất, nhường chỗ cho tiếng thở dốc nghẹn ngào, khàn đặc như có người đang áp sát miệng vào tai tôi mà thở hắt ra từng ngụm khí lạnh căm:
Đói... Cho một miếng... Đói quá chừng...
Hơi lạnh từ mắt cá chân xông thẳng lên đỉnh đầu làm các khớp ngón tay tôi cứng đờ, suýt nữa đánh rơi chiếc vồ gỗ xuống vũng lầy. Bùn đã ngập lên đến ngang đùi tôi,
kéo theo sức nặng của hàng ngàn cân đất đá đè nghiến lấy từng thớ cơ. Tôi giãy giụa nhưng càng cựa quậy thì lớp sình lầy lại càng siết chặt lại, nuốt chửng lấy thân thể tôi như một bãi lầy ăn thịt người.
- Đứng im! Đừng vùng vẫy!
-
- Tiếng quát sắc như dao chém của Hương Bà nổ vang bên tai tôi.
Bà đồng già quay phắt người lại, hai mắt trợn trừng nhìn xuống xoáy bùn đang nuốt lấy chân tôi. Không một chút chậm trễ,
bà thọc tay vào chiếc túi vải thêu hoa văn bản địa đeo bên hông, bốc ra một vốc bột xám xịt trộn lẫn những hạt muối to thô ráp. Đó là tro ngải cứu hái vào ngày chí dương trộn với muối hạt sao vàng trên chảo gang.
- Hồn ai nấy giữ, phách ai nấy về! Cõi dương có chủ, cõi âm có bờ!
-
- Hương Bà vừa quát lớn vừa vung tay rắc mạnh vốc tro muối xuống thẳng xoáy nước bùn quanh chân tôi.
Xèo!
Một tiếng rít chói tai vang lên hệt như mỡ sống rơi vào chảo lửa sôi sùng sục. Khói trắng bốc lên mù mịt từ mặt bùn,
mang theo mùi khét lẹt của lông tóc bị thiêu cháy. Luồng âm khí buốt giá đang quấn chặt lấy mắt cá chân tôi lập tức giật thót lại như chạm phải thanh sắt nung đỏ. Bàn tay vô hình dưới bùn buông lỏng ra trong nháy mắt.
Hương Bà liền giậm mạnh chân phải xuống đất ba lần, miệng lẩm nhẩm bài chú trấn thổ cổ xưa của người Lĩnh Nam:
Đất có thổ công, sông có vị thần giữ nước. Nay ta mượn đất lập đàn, mượn cọc đào giữ cốt. Oán khí thối lui, long mạch quy vị. Cấp cấp như luật lệnh.
Mỗi tiếng niệm chú của bà đanh gọn, rơi xuống như những nhát búa giáng thẳng vào mặt đầm. Vòng xoáy bùn đen tức thì tan rã,
lớp sình lầy quanh chân tôi nhả ra thành thứ bùn loãng vô hại. Tôi cắn chặt răng, dồn hết sức tàn ở hai cánh tay kéo thân mình trồi lên khỏi hố sụt, trèo lên mép đất cứng hơn thở dốc từng hồi.
- Nhanh lên! Cung vị đang hở, cắm cọc thứ năm xuống ngay!
-
- Hương Bà hối thúc, giọng bà khàn đi vì vừa hao tổn chân khí.
Tôi quỳ một chân trên lớp đất nhão, tay run rẩy cầm lấy chiếc cọc gỗ đào thứ năm, cắm phập đầu nhọn vào chính tâm của vũng nước vừa sụt lún. Không chờ tiếng mõ của Hương Bà điểm nhịp, tôi nghiến răng quai vồ gỗ nện xuống liên tiếp.
Bốp! Bốp! Bốp!
Ba nhát búa nặng nề giáng trúng đuôi cọc. Chiếc cọc gỗ đào ngập sâu vào lòng đất phát ra tiếng trầm vang kỳ lạ,
như thể một chiếc then cài cửa bằng sắt vừa đóng sập lại, ngăn cách hai thế giới sống chết. Vũng bùn quanh Trung cung ngừng hẳn sủi tăm, bề mặt đông cứng lại thành một mảng váng đen sẫm đặc quánh.
Tôi chống vồ đứng dậy, cả người ướt sũng bùn đất và mồ hôi. Chân phải của tôi tê dại đi vì lạnh buốt, nhưng tôi hiểu rõ không có thời gian để dừng lại nghỉ ngơi. Màn đêm đã hoàn toàn nuốt chửng lấy bờ đầm Bồ Tầm. Trên mặt nước đen,
những đợt sóng ngầm bắt đầu cuộn trào ngày một dữ dội hơn, va đập vào bờ đất tạo nên những tiếng ùng oàng như tiếng trống trận dưới lòng sông sâu.
Chúng tôi tiếp tục tiến bước trong bóng tối đặc quánh.
Cọc thứ sáu ở cung Càn hướng Tây Bắc cắm xuống không gặp trở ngại. Cọc thứ bảy ở cung Đoài hướng chính Tây cắm ngập vào mép bùn sau ba nhát vồ dứt khoát. Cọc thứ tám ở cung Cấn hướng Đông Bắc được đóng sâu vào một gò đất đá lởm chởm ven bờ.
Vòng tròn phong ấn dần dần khép lại, từng chiếc cọc đào như những người lính gác vô hình đứng sừng sững giữa ranh giới của bùn đen và bờ cỏ, tỏa ra một áp lực vô hình kìm nén sự hung bạo của đầm lầy.
Cuối cùng, chúng tôi tiến đến vị trí của chiếc cọc thứ chín - cung Ly nằm ở hướng chính Nam. Đây là điểm chốt chặn cuối cùng để kết nối toàn bộ chín cung vị thành một vòng cung hoàn chỉnh ôm trọn lấy bờ đầm Bồ Tầm.
Vị trí này nằm sát một bụi trúc gai xơ xác, nơi rễ cây đâm chằng chịt ra tận mép nước. Đất ở đây nửa khô nửa ướt, phủ đầy một lớp lá trúc rụng mục rữa dày cộm.
Hương Bà đứng lại, đưa tay quệt vội mồ hôi trên trán, đưa mắt nhìn quanh một lượt rồi gật đầu với tôi:
- Chiếc cọc cuối cùng này là cửa sinh của trận pháp, cũng là nơi chịu sức ép lớn nhất khi oán khí bị dồn nén. Cậu phải nện thật dứt khoát. Nhát vồ không được run, tâm không được loạn.
Tôi lấy lại bình tĩnh, cố xua đi mùi tanh nồng đang bám đặc trong cuống họng. Tôi cầm lấy chiếc cọc đào cuối cùng, đặt mũi nhọn của nó vào khoảng đất trống giữa hai chùm rễ trúc lớn ăn lan ra mép đầm.
Hương Bà giơ cao chiếc dùi, gõ ba tiếng mõ đanh gọn vang vọng giữa đêm vắng.
Cốc! Cốc! Cốc!
Tôi vung cao chiếc vồ gỗ nghiến, dồn toàn bộ trọng lượng và sức lực còn lại của cơ thể vào nhát đập đầu tiên.
Keng!
Một tiếng va chạm khô khốc và chói tai vang lên,
truyền thẳng từ thân cọc qua cán vồ làm hai bàn tay tôi tê dại. Chiếc cọc không lún vào bùn đất mềm xốp như những lần trước, mà mũi cọc hình như đã đâm trúng một vật gì đó cực kỳ rắn chắc nằm vùi sâu dưới lớp đất ẩm.
Tôi nhíu mày, dồn thêm sức giáng nhát thứ hai, rồi nhát thứ ba.
Rắc!
Một tiếng gãy vỡ trầm đục vang lên dưới lòng đất. Thân cọc gỗ đào cuối cùng cũng ngập sâu xuống, ép chặt lớp bùn đất chung quanh lại.
Mũi cọc nhọn hoắt đã cắm xuyên qua một gốc rễ cây khô bị chôn vùi từ lâu năm dưới đáy lầy. Cùng với lực nện ngàn cân, lớp bùn đen phía dưới bị xới tung lên, đùn trào ra khỏi kẽ đất một mẩu rễ cây gãy vụn.
Nhưng mắc kẹt trên đoạn rễ cây khô khốc ấy không chỉ có bùn đất.
Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bão đặt bên cạnh, tôi nhìn thấy một mảnh vải gai rách nát,
xơ xác và thối mục lòi ra từ kẽ nứt của lớp đất sâu. Mảnh vải màu chàm đã ngả sang màu xám xịt của bùn lầy, nhưng trên mép vải vẫn còn sót lại một đường chỉ khâu vụng về bằng sợi đay thô - kiểu vá áo đặc trưng của những năm tháng cùng cực xưa cũ.
Đó chính là mảnh vạt áo rách của lão A Ngưu năm ba mươi bảy, thứ mà lão đã mặc trên người vào cái đêm ôm xác đứa em trai ném xuống đầm Bồ Tầm rồi vội vã tháo chạy.
Tôi chưa kịp cúi xuống nhìn kỹ thì một chấn động dữ dội bất ngờ truyền lên từ lòng đất.
Toàn bộ mặt bùn đen của đầm Bồ Tầm cuộn trào lên từng đợt sóng lớn, nhưng khi chạm đến ranh giới được vạch ra bởi chín chiếc cọc gỗ đào, lớp bùn đen lập tức bị một bức tường vô hình dội ngược trở lại, bốc lên những cột khói xám nhạt khét lẹt.
Bách Quỷ tạm thời bị chặn đứng bên ngoài vòng cọc.
Thế nhưng, sự bình yên mong manh ấy chỉ kéo dài trong vài hơi thở ngắn ngủi.
Từ sâu thẳm dưới đáy đầm đen ngòm, nơi tăm tối nhất mà ánh sáng không bao giờ rọi tới, bỗng vang lên những âm thanh va đập trầm đục đến nghẹt thở. Từng tiếng thình thình nặng trĩu dội lên liên hồi như có hàng trăm bàn tay đang điên cuồng cào cấu,
đấm thùm thụp vào mặt dưới của lớp bùn phong ấn, báo hiệu một cơn cuồng nộ khủng khiếp sắp sửa xé toạc màn đêm mà bùng nổ.