Bùn Quỷ Thực - Chương 49: Cơn Đói Cào Xé Ruột Gan

Cơn gió bấc thốc qua rặng trúc ven bờ đầm Bồ Tầm, rít lên từng hồi u uất như tiếng còi gọi đò giữa đêm khuya. Gốc đa mục sừng sững bên bãi bồi, rễ cây…

Nội dung chương

Cơn gió bấc thốc qua rặng trúc ven bờ đầm Bồ Tầm,

rít lên từng hồi u uất như tiếng còi gọi đò giữa đêm khuya. Gốc đa mục sừng sững bên bãi bồi, rễ cây già cỗi xoắn xuýt lấy nhau trồi lên mặt đất như những búi gân của một xác chết khổng lồ nằm phơi mình qua năm tháng.

Hương Bà vung tay ném một nắm cành ngải cứu khô vào đống củi dưới gốc cây. Ngọn lửa bùng lên le lói, tỏa ra mùi khói ngai ngái nồng đượm vị thuốc nam. Khói xám cuộn lại trong không khí ẩm ướt, chậm rãi xua bớt mùi bùn tanh tưởi vừa bốc lên từ lòng nước sâu.

Bà không dừng tay, thọc sâu những ngón tay gầy guộc vào chiếc túi vải chàm bên hông, bốc từng nắm tro bếp mịn màng trộn lẫn bột chu sa đỏ thẫm rải thành một vòng tròn lớn quanh gốc đa. Vệt tro đỏ sẫm vẽ xuống nền đất ẩm ướt một đường ranh giới sắc nét,

bao bọc lấy cả ba chúng tôi ở bên trong. Cứ mỗi bước chân bà bước qua, ba chiếc chuông đồng nhỏ buộc nơi đầu gậy trúc lại rung lên từng tiếng đanh gọn, giữ cho màn sương đêm không dám lấn sâu vào khoảng đất trống.

- Ngồi yên bên trong vòng tro.

-

- Hương Bà cất giọng lạnh tanh, không quay đầu lại.

- Bùn đầm đêm nay đã thức giấc rồi. Bước chệch ra ngoài nửa bước, rễ lau rễ sậy dưới chân cũng biến thành tay quỷ kéo tuột xác xuống đáy.

Tôi lập cập bò lại gần đống lửa, hai hàm răng va vào nhau lập bập vì cái lạnh thấu xương của nước đầm ngấm qua lần vải áo.

Tôi lấy tay quệt lớp bùn nhão nhoét đang bết dính trên trán và mi mắt, lồng ngực vẫn còn co thắt từng cơn đau buốt do sặc nước bẩn.

Chạm tay vào túi áo ngực, tôi thấy chiếc máy ghi âm bọc trong bao nhựa chống nước vẫn còn nguyên vẹn.

Ngón tay run rẩy lần tìm nút bấm, ấn nhẹ.

Ánh đèn led đỏ nhỏ xíu nhấp nháy trong bóng tối mờ mờ, ghi nhận lại từng hơi thở dốc nặng nhọc và tiếng nổ lách tách của cành ngải cứu khô.

Ở phía đối diện, lão A Ngưu vẫn nằm sấp mặt trên bãi sỏi lởm chởm. Cú dập đầu điên cuồng vừa rồi khiến trán lão rách toang một mảng,

máu đỏ tươi trào ra quyện với bùn đen chảy ròng ròng xuống hai hốc mắt sâu hoắm. Thân thể lão run rẩy dữ dội, hai bàn tay co quắp bấu chặt lấy rễ cây đa như kẻ sắp rơi xuống vực sâu cố bám víu vào nhánh cỏ tàn.

Hương Bà đi vòng qua đống lửa, dừng lại ngay trước mặt lão già. Mũi gậy trúc của bà hạ xuống, ấn thẳng vào bả vai gầy trơ xương của lão, tạo thành một lực ép nặng nề khiến thân hình lão khựng lại.

- Ngồi dậy!

-

- Giọng bà sắc nhọn, ghim chặt vào không gian tĩnh mịch.

- Dập đầu nát trán cũng chẳng rửa sạch được món nợ năm Đinh Sửu. Muốn giữ lại chút hồn phách tàn để chôn xác trên gò đất cạn thì quỳ thẳng lưng lên mà thưa với trời đất!

Lão A Ngưu nấc lên một tiếng nghẹn ngào. Bị mũi gậy của bà đồng điểm trúng huyệt đạo sau gáy, lão run rẩy chống hai cánh tay khẳng khiu xuống lớp tro đỏ, gượng nhấc thân hình còm cõi ngồi quỳ trên hai gót chân. Khuôn mặt lão méo mó,

da dẻ xám ngoét như màu tro tàn. Đôi mắt đỏ ngầu những tia máu vỡ nhìn chằm chằm vào ngọn lửa ngải cứu bập bùng, ánh lên nỗi kinh hoàng cùng cực của một kẻ vừa bước hụt chân qua cửa mả.

- Bà Hương... Tôi biết tội rồi... Tôi biết cái tội của tôi rồi...

-

- Lão lẩm bẩm trong miệng, giọng đứt quãng như sợi dây thừng mục sắp đứt lìa.

- Mấy chục năm nay, đêm nào nhắm mắt lại tôi cũng thấy nó đứng ở đầu giường. Nó không nói, nó chỉ há cái miệng khô khốc ra nhìn tôi...

- Nói rõ ra!

-

- Hương Bà quát khẽ, ánh mắt bà quắc lên uy nghiêm dưới vành khăn chàm.

- Năm ba mươi bảy, ở cái thị trấn Vọng Ngưu Đôn này, cậu đã làm cái gì bên bờ đầm Bồ Tầm? Bát bùn sống nuốt vào ruột năm ấy, cậu giật từ tay ai?

Từ "bát bùn sống" thốt ra từ miệng Hương Bà làm cả người lão A Ngưu co rúm lại. Lão đưa hai bàn tay gầy guộc lên ôm chặt lấy bụng, nơi lớp da nhăn nheo dính sát vào xương sườn. Tiếng thở của lão rít qua kẽ răng, khô khốc và tanh nồng mùi đất sét.

Tôi nín thở,

ghé sát người về phía trước, ánh mắt không rời khỏi nét mặt biến dạng của lão già. Giữa chốn hoang vu mù mịt này, câu chuyện về nạn đói năm 1937 mà tôi cất công tìm kiếm suốt nhiều tháng qua đang dần lộ ra nguyên hình, trần trụi và tàn nhẫn đến rợn cả gáy.

- Năm đó... trời làm hạn hán ròng rã nửa năm trời.

-

- Lão A Ngưu bắt đầu cất giọng, âm thanh khàn đặc như tiếng đá cọ vào nhau dưới đáy giếng hoang.

- Nước sông Tây Giang cạn trơ đáy bùn nứt nẻ. Lúa ngoài đồng chết cháy thành rơm rạ,

người trong thị trấn Vọng Ngưu Đôn chết la liệt dọc các ngả đường. Ban đầu người ta còn đào củ chuối, bóc vỏ cây sung cây du để nhai. Đến khi vỏ cây trên đồi bị cạo sạch bách, người ta bắt đầu ăn cỏ dại, ăn đất sét.

Lão dừng lại,

ho sặc sụa. Từng vệt bọt mép màu trắng đục trào ra khóe môi lão già. Tôi đưa tay đỡ lấy vai lão, nhưng bàn tay vừa chạm vào lớp áo rách đã cảm nhận được một luồng khí lạnh buốt truyền qua da thịt, tựa hồ đang chạm vào một tảng băng trôi dạt dưới đầm nước.

- Nhà tôi khi ấy...

-

- Lão A Ngưu nuốt một ngụm nước bọt khan, ánh mắt trừng trừng nhìn vào đống than hồng.

- Cả nhà bảy miệng ăn, chỉ sau hai tháng đói kém thì chết mất bốn người. Cha tôi kiệt sức ngã gục ngay bên bến đò,

mẹ tôi nằm liệt trên phản gỗ, hai chân sưng phù nề ứ nước vàng, thở không ra hơi. Trong căn nhà tranh dột nát ở xóm thợ ven đầm, chỉ còn tôi với thằng Cẩu Đản. Thằng Cẩu Đản... em út tôi... năm ấy nó mới lên năm tuổi.

Giọng lão run bắn lên khi nhắc đến cái tên Cẩu Đản. Đôi môi thâm sì của lão giật giật, hai giọt nước mắt đục ngầu ứa ra từ khóe mắt lem luốc máu và bùn.

- Cả tuần liền không có hạt gạo nào vào bụng.

-

- Lão tiếp tục kể, từng lời nghẹn đắng như nuốt phải mảnh sành.

- Thằng bé đói quá, bụng nó chướng to như cái trống con bọc da, nhưng hai cái chân thì teo tóp chỉ bằng ngón tay cái người lớn. Nó nằm bẹp ở góc liếp rách,

không còn sức để khóc thành tiếng, chỉ mở trừng trừng hai con mắt to quá khổ nhìn lên mái rạ thủng lỗ chỗ. Mỗi lần tôi bước qua, nó lại thều thào gọi: "Anh Hai ơi, em đói... Cho em miếng gì nhai đi anh Hai...".

Tôi nắm chặt quai chiếc ba lô, lồng ngực thắt lại trước từng chi tiết rùng rợn của nạn đói năm ấy. Tôi từng đọc nhiều tài liệu lưu trữ,

từng nghe những bậc cao niên kể về cảnh người chết đói nằm ngổn ngang vệ đường, nhưng việc nghe chính miệng một kẻ sống sót kể lại nỗi đau đớn cùng cực của ruột thịt mình lại mang một sức nặng đè nghẹt hơi thở.

- Rồi một buổi chiều, mẹ tôi trước khi tắt thở...

-

- Bàn tay lão A Ngưu cào cấu xuống nền đất, cào bật cả móng tay tóe máu.

- Mẹ gọi tôi lại bên giường. Mẹ lôi từ dưới đáy bao tải rách ra một chiếc liễn sành mẻ miệng. Bên trong liễn có một nắm bùn sống màu trắng ngà, mịn màng và dẻo quánh. Đó là thứ bùn mà người làng gọi là đất Quan Âm,

cha tôi trước khi chết đã liều mạng lặn sâu vào cái hang ngầm dưới chân vách đá đầm Bồ Tầm mới móc lên được một ít. Mẹ nhào nắm bùn ấy với chút nước vo gạo mốc meo còn sót lại, cất giấu cẩn thận dưới đáy giường.

Lão A Ngưu bỗng dừng bặt, toàn thân rung bần bật như một nhánh cây trước cơn bão lớn. Lão đưa mắt nhìn sang Hương Bà, ánh mắt lộ vẻ van nài tuyệt vọng:

- Mẹ tôi dặn... Mẹ nắm chặt lấy cổ tay tôi, dặn đi dặn lại: "A Ngưu à, con lớn rồi, con chịu khó nhịn thêm một hai ngày nữa xem có ai phát chẩn không. Nắm bùn này... để dành cho thằng Út. Nó sắp chết rồi,

cho nó ăn để nó cầm cự qua đêm nay...". Dặn xong câu đó thì mẹ tôi trút hơi thở cuối cùng, hai mắt bà vẫn mở trừng trừng nhìn về phía góc nhà, nơi thằng Cẩu Đản đang nằm thoi thóp.

Đống lửa ngải cứu bỗng kêu "tách" một tiếng giòn tan. Một tàn lửa đỏ bay lên không trung rồi lụi tàn giữa màn sương đen kịt. Không gian xung quanh bỗng chốc im lìm một cách lạ thường,

ngay cả tiếng gió rít qua rặng trúc cũng ngưng bặt, để lại một khoảng lặng u uất ngột ngạt.

- Cậu giữ cái liễn bùn đó thế nào?

-

- Hương Bà lạnh lùng lên tiếng phá vỡ sự im lặng. Cây gậy trúc trong tay bà khẽ nhúc nhích, mũi gậy gõ nhẹ xuống lớp tro bếp.

Lão A Ngưu ôm mặt khóc rống lên. Tiếng khóc của một lão già ngoài bảy mươi tuổi nghe the thé, bi phẫn và gớm ghiếc như tiếng súc vật bị chọc tiết giữa đêm đông:

- Tôi đói quá! Trời đất ơi, tôi đói đến phát điên phát dại!

-

- Lão gào lên, hai tay đấm thùm thụp vào ngực mình.

- Đêm hôm đó mưa như trút nước, xác mẹ tôi nằm cứng đờ trên phản gỗ lạnh ngắt. Bụng tôi cồn cào như có hàng ngàn con dao cạo cứa vào khúc ruột. Cơn đói nó biến tôi thành một con thú dữ,

không còn biết luân thường đạo lý là cái gì nữa! Tôi nhìn sang góc liếp, thấy thằng Cẩu Đản đang ôm chiếc liễn sành vào lòng, hai bàn tay run rẩy bốc từng nhúm bùn trắng nhét vào miệng. Bùn sống dẻo quánh dính đầy khóe môi tím tái của nó...

Mắt lão già trợn ngược lên, những tia máu đỏ như muốn nứt toác ra khỏi tròng mắt:

- Tôi không kìm được nữa...

Tôi lao tới như một con chó dại.

Tôi giật phắt chiếc liễn sành khỏi tay đứa em ruột của mình.

Thằng bé yếu ớt không giữ nổi, nó khóc không ra hơi, hai cánh tay khô đét với theo van lạy: "Anh Hai...

đừng lấy của em...

em đói lắm...".

Nhưng tôi bị ma đói bịt mắt rồi!

Tôi gạt ngã nó xuống đất, dùng cả hai tay bốc lấy bốc để nắm bùn sống màu trắng nhét đầy vào miệng.

Bùn trơn tuột, tanh tưởi nhưng có vị ngọt lờ lợ, tôi nuốt chửng, nuốt như kẻ khát nước vớ được chum rượu!

Tôi vét sạch từng chút bùn dính ở đáy liễn, không để sót lại cho nó một mẩu nhỏ bằng hạt ngô!

Tôi rùng mình kinh hãi, sống lưng lạnh toát như có ai vừa áp một bàn tay băng giá vào tủy sống. Trước mắt tôi hiện lên khung cảnh của gian nhà tranh u tối năm ấy, nơi nhân tính bị bẻ gãy hoàn toàn trước sự tàn khốc của cái đói.

- Ăn xong... bụng tôi căng tức như nuốt phải đá tảng.

-

- Lão A Ngưu nấc nghẹn, trán lại gục xuống nền đất ẩm.

- Tôi lăn ra góc nhà ngủ thiếp đi. Đến rạng sáng hôm sau, khi cơn đau bụng quằn quại đánh thức tôi dậy, tôi bò lại gần góc liếp... Thằng Cẩu Đản đã lạnh ngắt từ lúc nào rồi. Nó nằm co quắp trên nền đất nhớp nháp,

hai mắt mở to trừng trừng nhìn trần nhà, cái miệng nhỏ ngoác ra, bên trong khóe môi chỉ còn dính một chút vệt bùn trắng khô khốc mà nó chưa kịp nuốt. Nó chết đói trong sự ngơ ngác... Nó chết mà không hiểu vì sao anh ruột lại cướp mất miếng ăn cứu mạng của nó!

Những giọt nước mắt sám hối muộn màng của lão A Ngưu rơi lã chã xuống đống tro bếp, làm bốc lên những sợi khói xám mỏng manh.

- Cậu làm gì với xác đứa nhỏ?

-

- Giọng Hương Bà chùng xuống một nhịp, mang theo sự bi ai khó tả.

- Tôi sợ... Tôi sợ người làng biết chuyện.

-

- Lão A Ngưu run rẩy thú nhận.

- Lúc ấy trời còn mờ sương, người ta đang khiêng xác người chết đói ném xuống sông hàng loạt.

Tôi không tìm được nổi một manh chiếu rách để bó thân cho nó.

Tôi bế cái xác nhẹ bẫng như một que củi khô của thằng bé, chạy thục mạng ra đầm Bồ Tầm.

Tôi nhắm mắt ném vội xác nó xuống vũng lầy ngập bùn đen rồi cắm đầu bỏ chạy...

Tôi trốn khỏi Vọng Ngưu Đôn, đi biệt xứ suốt mấy mươi năm, tưởng rằng thời gian sẽ vùi lấp tất cả.

Nhưng bùn sống năm ấy không tiêu được trong bụng tôi...

Mấy chục năm nay, nó vẫn nằm nguyên trong ruột tôi, cắn xé tôi từng ngày từng giờ!

Hương Bà thở dài một hơi cay đắng. Bà ngước mắt nhìn ra mặt đầm Bồ Tầm đang chìm trong sương mù dày đặc. Mặt nước phẳng lặng đen ngòm kia hình như đang lắng nghe từng lời tự thú tàn nhẫn vừa được thốt ra.

- Oán niệm của một đứa trẻ năm tuổi chết đói trong sự uất ức tột cùng, lại chết bởi chính bàn tay người ruột thịt của mình, đó chính là thứ mồi lửa độc hại nhất của cõi âm.

-

- Hương Bà chậm rãi nói, giọng bà trầm buồn nhưng đanh thép.

- Năm ba mươi bảy, hàng trăm con người chết đói bị vứt xác xuống đầm Bồ Tầm này mà không có lấy một nén nhang, một nắm đất chôn cất. Linh hồn họ vất vưởng nơi đáy bùn lạnh lẽo,

đói khát và oán hận. Và chính oán niệm không cam lòng của thằng Cẩu Đản đã trở thành cái gốc rễ, thu hút hàng trăm vong hồn chết đói khác tụ họp về đây, nương tựa vào nhau mà kết thành Quỷ Thực Nê.

Bà quay sang nhìn lão A Ngưu, ánh mắt không còn sự giận dữ mà chỉ còn lại sự thương hại nghiệt ngã:

- Bùn dưới đáy đầm không nuốt trôi được cái xác của nó, cũng như ruột gan cậu không tiêu hóa nổi bát bùn tội lỗi năm xưa. Đứa em trai của cậu nó không đi đầu thai,

nó dẫn theo hàng trăm con quỷ đói khác nằm dưới đáy đầm này chờ cậu suốt sáu mươi năm qua. Hôm nay cậu quay về đây, món nợ máu năm Đinh Sửu đã đến hạn phải thanh toán dứt điểm rồi.

Tôi nhìn đống lửa ngải cứu đang dần tàn lụi, lòng trĩu nặng một nỗi xót xa khôn xiết. Ký ức về nạn đói năm 1937 không đơn thuần là những con số thương vong ghi trong sách sử,

mà nó là vết thương rỉ máu ăn sâu vào da thịt của từng số phận, biến đổi nhân tính và để lại những món nợ truyền kiếp mà cõi âm không bao giờ chịu buông tha.

Hương Bà bước tới sát mép vòng tro, giơ cây gậy trúc lên chỉ thẳng ra giữa đầm nước:

- Nghi thức phong ấn Bách Quỷ sắp tới không thể dùng bùa chú thông thường để trấn áp. Oán khí tích tụ hơn sáu mươi năm qua đã hóa thành thực thể,

muốn dập tắt được ngọn lửa thù hận dưới đáy bùn kia, bắt buộc phải dùng chính máu thịt và sự hy sinh của kẻ đã gieo mầm tội lỗi năm ba mươi bảy.

Lão A Ngưu ngẩng đầu lên nhìn bà, khuôn mặt già nua bỗng chốc trở nên bình thản một cách kỳ lạ sau khi đã trút hết gánh nặng đè nén suốt nửa đời người:

- Bà Hương... Tôi hiểu rồi. Tôi sống lay lắt thế này cũng quá đủ rồi. Nếu cái mạng già này có thể chuộc lại chút tội lỗi với thằng Út, có thể làm cho linh hồn nó và những người nằm dưới đầm được siêu thoát, tôi xin cam lòng...

Lời lão chưa dứt, một luồng gió lạnh buốt bất thình lình từ giữa lòng đầm thổi thốc vào bờ bãi.

Gió mạnh đến mức làm chao đảo cả thân cây đa mục, cuốn theo những đám lá khô bay xào xạc trong không trung. Đống lửa ngải cứu bỗng nhiên lụi tàn trong nháy mắt, chỉ để lại một chấm than đỏ rực đang run rẩy trước cơn gió ngược.

Mặt nước đầm Bồ Tầm bắt đầu lay động, những đợt sóng đen ngòm vỗ liên hồi vào vách đất bùn ven bờ, phát ra những tiếng bì bõm kỳ dị như có hàng trăm bàn chân trần đang cùng lúc lội qua bãi sình lầy để tiến về phía chúng tôi.

Chương khác

Xem thêm