Bùn Quỷ Thực - Chương 55: Tôi Tỉnh Dậy Giữa Đầm Lầy

Mặt nước đầm Bồ Tầm khẽ gợn một vòng sóng tròn cuối cùng rồi phẳng lặng trở lại, nuốt chửng chiếc bát sành mẻ miệng xuống đáy sâu hun hút. Gió bấc thổi…

Nội dung chương

Mặt nước đầm Bồ Tầm khẽ gợn một vòng sóng tròn cuối cùng rồi phẳng lặng trở lại, nuốt chửng chiếc bát sành mẻ miệng xuống đáy sâu hun hút.

Gió bấc thổi qua ngọn đồi phía sau lưng tôi, lay động những thân trúc gai phát ra chuỗi âm thanh xào xạc dài dằng dặc. Đám sương mù dày đặc trùm kín mặt đầm suốt nửa đêm qua bắt đầu tản mác,

để lộ ra khoảng trời xám chì nơi phía đông. Một vệt sáng màu lòng đỏ trứng gà le lói nơi chân trời xa xôi, rạch ngang rặng núi Tây Giang, báo hiệu một đêm kinh hoàng rốt cuộc cũng chịu lùi bước trước ánh bình minh.

Tôi buông thõng hai cánh tay rã rời xuống hai bên sườn. Từng đầu ngón tay của tôi vẫn còn dính bết máu khô và bụi cám gạo,

buốt nhói vì ngâm trong gió lạnh quá lâu. Cuốn sổ tay kẹp chặt dưới nách tôi ướt sũng sương mai, những trang giấy thấm đẫm mồ hôi và mực tàu trĩu nặng trong bàn tay run rẩy.

Cách tôi ba bước chân, Hương Bà ngồi bệt xuống vạt cỏ rậm rạp ven bờ.

Bà ôm lấy bờ ngực gầy guộc, há miệng thở từng ngụm lớn, mỗi nhịp hít vào đều kéo theo tiếng rít khò khè từ sâu trong buồng phổi.

Chiếc áo chẽn màu chàm của bà rách tơi tả ở hai bên vai, để lộ những vết bầm tím do khí lạnh và dải bùn đen siết chặt lúc trước.

Bà đưa mu bàn tay quẹt ngang cằm, lau đi vệt máu ứ nơi khóe môi, đôi mắt trũng sâu nhìn đăm đăm vào mặt đầm đen ngòm.

- Đám vong đói... đi hết rồi sao bà?

-

- Cổ họng tôi khô rát, giọng thốt ra khản đặc, nghe xa lạ như tiếng của một người khác.

Hương Bà chậm rãi lắc đầu, mái tóc bạc phơ xổ tung bay lòa xòa trước trán:

- Họ nhận tên, nhận cơm rồi, oán khí đã tan, hồn phách được thả lỏng để theo gió về núi. Nhưng cái gốc của tai họa thì vẫn còn nằm trơ trơ dưới kia.

Bà chỉ ngón tay khẳng khiu về phía lòng đầm. Dưới ánh sáng lờ mờ của buổi sớm mai, tôi nhìn thấy rõ lớp bùn nhớp nhúa đang phập phồng từng nhịp chậm chạp. Nó không còn cuộn trào thành những hình nhân gào thét đòi xé thịt nuốt xương như ban đêm,

nhưng thứ chất lỏng sền sệt màu xám xịt ấy vẫn rỉ ra từng bóng bọt khí tanh tưởi. Mùi thối rữa của xác chết trôi sông, mùi bùn ngâm lá mục và cái lạnh âm u tích tụ từ năm Đinh Sửu vẫn bám chặt lấy từng thớ đất ven bờ.

- Đất Quỷ Thực Nê đã thành hình gần trăm năm, ăn đủ thịt người và oán niệm của một thời đói khát

- Hương Bà chống một tay xuống đất, cắn răng nén đau gượng đứng dậy. -

- Nếu để mặc vũng lầy này phơi dưới sương mai, chỉ mười năm, hai mươi năm nữa, bùn lại hút lấy âm khí của những kẻ chết đường chết chợ, rồi mọc lên những mầm quỷ mới. Muốn chặt đứt tai ương, phải dùng ngọn lửa thiêng đốt sạch tận rễ.

Nói đoạn, bà thọc bàn tay run rẩy vào sâu trong lớp vạt áo trước ngực. Ngón tay bà lần giở cẩn thận rồi rút ra một lá bùa màu vàng nghệ dài chừng nửa gang tay. Mặt bùa vẽ kín những đường chu sa đỏ rực uốn lượn như hình rồng cuộn,

bốn góc ghim bốn hạt gạo nếp đã nhuốm màu máu gà khô cong. Đây là lá bùa hộ mệnh cuối cùng mà Hương Bà luôn mang bên mình từ ngày rời khỏi đạo quán trên núi Ngưu Đầu, thứ pháp bảo bảo vệ chân mạng của bà suốt mấy mươi năm bôn ba giữa cõi âm dương.

Bà đưa lá bùa lên sát môi, lẩm bẩm đọc một chuỗi chú ngữ dài bằng thứ tiếng Lĩnh Nam cổ xưa. Giọng bà trầm đục, hòa vào tiếng xào xạc của rừng trúc, tạo thành một luồng thanh âm trang nghiêm đè bẹp sự ớn lạnh của đầm lầy.

- Triều Hành, lùi lại phía sau ba trượng!

-

- Hương Bà quát khẽ, ánh mắt sắc lẹm trừng lên nhìn thẳng về phía tâm đầm.

Tôi vội vã ôm chặt cuốn sổ tay vào ngực, bước thụt lùi lên sườn dốc thoai thoải, dẫm gãy từng nhánh củi khô rụng dưới chân.

Đúng lúc ấy,

một luồng gió đông nam từ phía khúc quanh sông Tây Giang bỗng ùa về, rít qua những thân trúc ken dày rồi thổi thốc thẳng vào lòng đầm Bồ Tầm. Hương Bà đón lấy ngọn gió ấy. Bà quẹt đầu ngón tay cái dính máu vào mép bùa, cọ mạnh hai đầu ngón tay vào nhau.

Một đốm lửa xanh biếc bất chợt bùng lên từ đầu bùa chú. Ngọn lửa màu lam kỳ dị nuốt chửng tờ giấy bùa trong chớp mắt,

tỏa ra luồng nhiệt ấm áp xua tan đi làn khí lạnh ẩm ướt đang bám víu trên da thịt. Hương Bà vung cánh tay gầy guộc, ném thẳng lá bùa đang cháy rực vào ngay vị trí cọc gỗ đào thứ chín cắm sâu giữa lòng vũng lầy.

Tờ bùa vẽ một đường vòng cung rực rỡ giữa không trung rồi rơi chuẩn xác xuống tâm điểm của trận pháp.

Ngay khi tàn lửa chạm vào sợi chỉ đỏ nhuốm máu gà, một tiếng nổ trầm đục vang lên dưới lòng đất bùn:

Bùng!

Ngọn lửa đỏ cam rực rỡ từ cọc gỗ đào trung tâm bốc cao lên quá đầu người. Không cần đến dầu hỏa hay củi đóm,

ngọn lửa thiêng chạy dọc theo mạng lưới chỉ đỏ nối liền chín chiếc cọc gỗ đào quanh bờ lầy với tốc độ nhanh đến kinh ngạc. Từng sợi chỉ đỏ rực sáng lên như những đường kinh mạch bằng lửa, giăng kín toàn bộ mặt đầm Bồ Tầm thành một bát quái đồ rực lửa khổng lồ.

Hơi nóng khủng khiếp lập tức ùa tới, tạt thẳng vào mặt tôi khiến tôi phải giơ khuỷu tay lên che mắt.

Những cọc gỗ đào được tôi và Hương Bà vót nhọn cắm sâu xuống đất đêm qua bắt đầu phát huy tác dụng. Thân gỗ đào đỏ au dưới sức nóng của ngọn lửa pháp thuật bỗng tiết ra từng dòng nhựa cây trong vắt,

mùi hương ngai ngái quen thuộc của gỗ rừng bốc lên nghi ngút. Chín cây cọc đào trở thành chín cột lửa vững chãi, giam cầm toàn bộ vũng bùn quỷ vào bên trong một lò luyện kim cương quyết liệt.

Mặt bùn đen ngòm bên dưới bắt đầu sôi sùng sục. Từng mảng bùn dẻo quánh trồi lên rồi vỡ toang, giải phóng ra những luồng khí đen kịt, tanh nồng mùi hôi thối tích tụ suốt mấy mươi năm.

Nhưng lần này, khí đen không còn cơ hội ngưng tụ thành hình nhân hay cánh tay quỷ nữa.

Ngay khi chúng vừa bốc lên khỏi mặt nước, ngọn lửa đỏ rực phía trên đã liếm trọn lấy từng cụm khói.

Tiếng rít chói tai như tiếng mỡ tươi ném vào chảo dầu sôi vang lên không dứt từ khắp lòng đầm.

Lớp bùn quỷ quằn quại, giãy giụa dưới sức thiêu đốt của ngọn lửa thần thánh.

Từng mảng đất nhầy nhụa nứt toác ra, lộ ra những rãnh sâu hoắm đỏ rực tàn than.

Mặt trời nơi chân trời phía đông bấy giờ đã nhô lên khỏi đỉnh núi, rải những tia nắng vàng ấm áp đầu tiên xuống thung lũng.

Dương khí của trời đất hòa quyện cùng ngọn lửa thiêng của đạo pháp Lĩnh Nam, tạo nên một sức mạnh áp đảo hoàn toàn.

Màu xám xịt của bóng đêm và màu đen tanh tưởi của bùn lầy bị thiêu rụi không còn một dấu vết.

Đầm Bồ Tầm lúc này trông giống như một miệng núi lửa nhỏ đang cháy rực giữa lòng rừng trúc, nhưng không mang lại cảm giác sợ hãi hủy diệt mà chan chứa sự thanh tẩy thiêng liêng.

Mùi khét lẹt của bùn thối dần dần nhạt đi trong không khí. Thay vào đó, một làn khói trắng xám bay bổng lên cao,

cuốn theo hương thơm dìu dịu của ngải cứu khô, của lá bưởi và rơm rạ mùa gặt. Đó là thứ mùi quen thuộc của những buổi chiều thanh bình nơi làng quê Nam Bộ ngày tôi còn thơ bé, cái mùi của sự sống được tái sinh từ tro tàn đổ nát.

Hương Bà đứng bất động bên mép bờ, vạt áo chàm phần phật bay trong gió sớm. Đôi mắt già nua của bà ánh lên màu lửa đỏ, khóe miệng khẽ run run. Bà chắp hai tay trước ngực, cúi đầu thật sâu về phía bãi đất đang rực cháy:

- Hết rồi... Oán thù, đói khát của một kiếp người, xin gởi lại cho ngọn lửa trời cao... Từ nay đất này lại là đất sạch, không còn quỷ nê hại người nữa...

Tôi đứng lặng sau lưng bà, lồng ngực đập từng nhịp thổn thức. Tôi nhìn ngọn lửa đang dần dần hạ bớt ngọn,

chuyển sang màu đỏ sẫm rồi tàn dần thành những dải than hồng âm ỉ. Toàn bộ vũng lầy sình bụng nguy hiểm ngày nào giờ đây đã bị thiêu cạn kiệt toàn bộ nước và bùn lỏng, trơ ra một bãi đất phẳng lì phủ đầy tro xám mịn màng.

Cơn ác mộng kéo dài suốt từ năm một ngàn chín trăm ba mươi bảy đến nay cuối cùng đã tìm được điểm dừng chân. Những con người khốn khổ từng phải gặm rễ cây,

nhai đất sét để chống chọi với cơn đói cào xé ruột gan rồi vùi thây nơi đáy bùn lạnh giá, rốt cuộc cũng được sưởi ấm bằng ngọn lửa của sự giải thoát và lòng trắc ẩn của những người đời sau.

Tôi siết chặt cuốn sổ tay vào ngực mình.

Từng trang giấy ghi lại những cái tên: Thạch Cửu, Thiếu Quân, Đại Hữu, Thục Phân...

giờ đây như tỏa ra một luồng hơi ấm nhè nhẹ xuyên qua lớp vải áo mỏng, chạm thẳng vào da thịt tôi.

Tôi hiểu rằng chuyến đi về vùng đất Tây Giang này của mình không đơn thuần chỉ là thu thập những mẩu chuyện ma mị bên chén trà chén rượu,

mà là để nhặt lại từng mảnh ký ức đau thương đã bị thời gian cố tình lãng quên. Tôi trả lại tên tuổi và nhân phẩm cho những linh hồn bất hạnh.

Gió sớm thổi qua bãi tro tàn, cuốn theo từng cụm bụi xám bay lơ lửng rồi tan biến vào bầu trời xanh ngắt không một gợn mây.

Không gian tĩnh lặng đến mức tôi có thể nghe rõ tiếng giọt sương mai trĩu nặng trên phiến lá trúc rơi khẽ xuống nền đất ẩm bên bờ suối. Cả khu rừng trúc như vừa trút bỏ được một gánh nặng ngàn cân,

vươn những cành lá xanh tươi tắm mình trong ánh nắng ban mai rực rỡ.

Hương Bà thở dài một hơi thật dài, buông hai tay xuống. Bà quay lại nhìn tôi, ánh mắt mệt mỏi nhưng thanh thản lạ lùng:

- Triều Hành, xuống nhặt lại mấy chiếc đinh đồng đi con. Chúng ta chuẩn bị rời khỏi đây thôi.

Tôi gật đầu, cẩn thận nhét cuốn sổ vào túi balo rồi lần từng bước xuống bãi đất vừa cháy rụi. Đất dưới chân tôi khô ran, ấm nóng như nền gạch của một chiếc lò gốm vừa dỡ mẻ. Từng bước chân dẫm lên lớp tro mềm xốp phát ra những tiếng lạo xạo êm tai.

Tôi đi đến gần chiếc cọc gỗ đào thứ chín ở trung tâm đầm. Chiếc cọc gỗ đã cháy thành than đen, nhưng vẫn đứng sừng sững cắm chặt vào lòng đất.

Khi tôi cúi người xuống để nhặt sợi dây đồng thau quấn quanh chân cọc, ánh mắt tôi bất chợt va phải một vật thể kim loại lấp lánh dưới lớp tro tàn mỏng.

Tôi đưa tay gạt nhẹ lớp tro xám sang hai bên.

Nằm sâu dưới lớp bùn vừa bị lửa thiêu khô là một chiếc tẩu thuốc cũ kỹ bằng đồng đỏ. Thân tẩu dài chừng một gang tay,

đã lên nước bóng loáng vì mồ hôi tay người dùng suốt mấy chục năm trời, trên đầu tẩu có khắc ba đường vạch ngang thô sơ - dấu hiệu quen thuộc của những người thợ rèn xóm Ngưu Đầu.

Tim tôi bỗng đập thịch một tiếng.

Đây chính là chiếc tẩu thuốc mà lão A Ngưu luôn ngậm trên môi mỗi lần ngồi trầm ngâm trước hiên nhà vách đất nhìn ra bờ sông Tây Giang. Chiếc tẩu thuốc cũ kỹ ấy chưa từng rời khỏi người lão lấy một ngày.

Tại sao chiếc tẩu của lão Ngưu lại nằm ở đây, ngay dưới lớp bùn sâu nhất của đầm Bồ Tầm, ngay tại vị trí trung tâm của trận pháp Quỷ Thực Nê này?

Lão già gầy gò với đôi mắt mờ đục và những vết sẹo chằng chịt khắp thân thể ấy đã từng làm gì ở vũng lầy này trước khi tôi và Hương Bà đặt chân đến? Lão đã ẩn mình ở đâu trong suốt những năm tháng dài đằng đẵng qua,

khi vừa phải gánh gồng nỗi đau mất mát của cả gia đình, vừa âm thầm chịu đựng sự dằn vặt của một kẻ sống sót sau cơn đại hạn?

Tôi run rẩy nhặt chiếc tẩu thuốc bằng đồng lên. Kim loại hút lấy nhiệt lượng của ngọn lửa thiêng,

ấm sực trong lòng bàn tay tôi. Những câu hỏi liên tiếp hiện lên khiến lồng ngực tôi thắt lại trong một mối linh cảm chẳng lành về tình trạng của lão A Ngưu ở căn nhà tranh bìa rừng.

Tôi toan đứng dậy gọi Hương Bà thì một chuyển động cực nhỏ nơi mặt đất ngay dưới chân tôi khiến tôi sững sờ.

Ngay tại nơi chiếc tẩu thuốc vừa được nhấc lên, giữa đống tro tàn đen ngòm vừa bị thiêu rụi đến kiệt cùng sinh khí, lớp đất khô bất chợt khẽ nứt ra một đường mảnh như sợi chỉ.

Từ kẽ nứt ấy, một mầm trúc xanh non, mơn mởn ngậm giọt sương mai chầm chậm đội lớp tro xám vươn thẳng lên. Mầm cây nhỏ bé, tràn đầy sức sống nguyên sơ, đón lấy ánh nắng rực rỡ của buổi rạng đông đang chan hòa khắp thung lũng.

Cùng lúc đó, một làn gió thoảng ấm áp lướt qua vai tôi.

Giữa tiếng lá trúc xào xạc trong trẻo của buổi sớm lành, một tiếng thì thầm vô cùng nhẹ nhõm, thân thương như tiếng thở dài của một đứa trẻ vừa được ăn no nê lướt khẽ qua tai tôi:

- Đa tạ...

Âm thanh tan biến vào thinh không, chỉ để lại sự tĩnh lặng bình yên trải dài trên bãi đất mới.

Chương khác

Xem thêm