Bùn Quỷ Thực - Chương 58: Mảnh Đất Cằn Đơm Lại Chồi Xanh

Bóng chiếc thuyền nan của lão lái đò câm chở Hương Bà trôi xuôi dòng Tây Giang chìm hẳn vào lớp sương sớm trắng xóa. Tôi đứng lặng bên cọc gỗ lim rộp vỏ…

Nội dung chương

Bóng chiếc thuyền nan của lão lái đò câm chở Hương Bà trôi xuôi dòng Tây Giang chìm hẳn vào lớp sương sớm trắng xóa. Tôi đứng lặng bên cọc gỗ lim rộp vỏ ở bến đò ngang một hồi lâu,

để mặc gió sông thổi rát hai gò má. Ống nứa đựng tro bùa chu sa trước ngực áo vẫn phả ra hơi ấm nhè nhẹ qua làn vải chàm thô ráp, nhắc nhở tôi rằng đêm kinh hoàng vừa qua không phải một giấc mộng hão huyền.

Tôi quay gót, rời khỏi bờ cát ẩm ướt để ngược con đường mòn quen thuộc trở lại vũng lầy Bồ Tầm.

Mặt trời buổi sớm đã vượt qua đỉnh những rặng núi đá vôi phía đông, rải ánh nắng vàng óng ả xuống khắp các triền đồi bao quanh thôn Vọng Ngưu Đôn.

Ánh sáng tinh khôi xua tan lớp chướng khí nhờ nhờ từng bao phủ vùng đất này suốt bao năm tháng.

Rặng trúc hai bên đường không còn nghiêng ngả cọ vào nhau rít lên những chuỗi âm thanh rợn cả gáy như tiếng móng tay cào vào vách ván.

Từng đọt lá tre non khẽ lay động trong gió, xanh mướt và trong trẻo dưới bầu trời quang đãng.

Giác quan thứ sáu của tôi hoàn toàn tĩnh lặng. Sự câm lặng này êm đềm và an lành, khác hẳn cảm giác đè nặng nghẹt thở từng bóp nghẹt lồng ngực tôi trong những ngày đầu đặt chân đến mảnh đất Lĩnh Nam này. Những tiếng than khóc váng vất đòi ăn,

những tiếng nghẹn ngào gọi mẹ của những đứa trẻ chết đói năm ba bảy đã hoàn toàn tan biến theo nụ cười nhắm mắt của lão thợ rèn A Ngưu rạng sáng nay.

Khi bước chân tôi chạm đến khúc quanh dẫn vào trảng đất trũng, cảnh tượng Bồ Tầm hiện ra trước mắt khiến tôi bất giác dừng bước.

Nơi đây từng là một tử địa sủi tăm hôi thối. Suốt mấy mươi năm, bãi lầy đen ngòm này luôn rình rập nuốt chửng bất cứ sinh linh nào vô ý đặt chân qua. Đáy bùn sâu hút chứa đầy độc khí,

tanh nồng mùi rữa nát của những thân xác chết đói bị vùi lấp vội vàng dưới gốc cây, ngọn cỏ. Người làng Vọng Ngưu Đôn đi qua triền đồi bao giờ cũng phải rảo bước thật nhanh, bịt mũi quay mặt đi vì sợ hãi thứ bùn Quỷ Thực Nê ma quái.

Nhưng giờ đây, vũng lầy đen ngòm ấy đã biến mất.

Lòng chảo trũng sâu từng ngập ngụa nước bùn tanh tưởi nay đã rút cạn dòng nước đen đục.

Ngọn lửa thiêng bùng lên từ tro bùa và củi đào đêm qua kết hợp cùng ánh nắng mặt trời rực rỡ đã hong khô lớp bùn độc.

Đáy đầm không còn là thứ sình lầy nhớp nháp bám dính lấy cổ chân người sống.

Lớp bùn quỷ từng đòi ăn thịt người đã se lại, co cụm và rạn nứt thành những mảng phù sa màu nâu thẫm, phẳng phiu và xốp mịn.

Mùi hôi thối tanh tưởi của thịt rữa và bùn ươn bốc lên nồng nặc bấy lâu nay đã hoàn toàn tan sạch. Trong không gian chỉ còn phảng phất mùi đất ải nồng nàn sau cơn mưa lớn và hương thơm thoang thoảng của cỏ dại ven bờ.

Tôi tiến lại gần mép bãi lầy, nơi những chiếc cọc gỗ đào cắm vòng quanh bờ đất đêm qua vẫn đứng sừng sững. Đầu mỗi cọc đào,

sợi chỉ đỏ nhuộm máu gà trống đã khô quắt lại thành màu nâu sẫm, quấn chặt lấy thớ gỗ lim xù xì. Chúng đã hoàn thành phận sự ngăn giữ tà khí trong đêm trừ tà, nay nằm yên bình thản như một hàng rào mộc mạc che chắn cho mảnh đất mới hồi sinh.

Tôi bước qua hàng cọc, cẩn thận đặt bàn chân mang giày vải xuống lòng đầm.

Bàn chân tôi chạm xuống nền đất mềm nhưng chắc nịch. Đất không lún xuống quá mắt cá chân,

không phát ra tiếng ùng ục ghê rợn như lúc Quỷ Thực Nê cựa mình. Mặt đất nâng đỡ bước chân tôi bằng một sự êm ái thuần hậu. Tôi bước thêm vài bước vào giữa lòng chảo, nơi đêm qua từng là tâm điểm của trận cuồng phong oán niệm xé toạc màn đêm.

Dưới chân tôi, mặt đất nứt nẻ thành những đường chân chim chằng chịt. Ánh nắng ban mai rọi thẳng vào từng kẽ nứt sâu hun hút ấy.

Ở ngay chính giữa một kẽ nứt lớn, một màu xanh non tơ bất ngờ đập vào mắt tôi.

Đó là một chồi cỏ mật nhỏ xíu, thân mảnh như sợi chỉ, đang cố sức đội lớp đất nâu mịn vươn lên đón nắng. Hai chiếc lá mầm non nớt xòe ra,

trên đầu ngọn lá vẫn còn đọng một giọt sương mai long lanh phản chiếu ánh dương rực rỡ. Cạnh đó không xa, vài nhành hoa xuyến chi dại cũng bắt đầu bung nở những cánh hoa trắng muốt chung quanh nhụy vàng tươi tắn.

Mảnh đất cằn cỗi từng bị nguyền rủa bởi cơn đói khát cùng cực, mảnh đất từng nuốt chửng bao nhiêu nước mắt và máu xương của người dân Lĩnh Nam,

nay đang cựa mình đơm lại những mầm sống đầu tiên. Sự sống không hề lùi bước trước bóng tối. Ngay khi oán khí tan rã, bản năng vĩ đại của đất mẹ lập tức trỗi dậy, hàn gắn lại những vết thương sâu hoắm của quá khứ.

- Kìa... thầy phóng viên! Thầy đứng đấy làm gì, coi chừng thụt chân đấy!

Một tiếng gọi the the đầy lo lắng từ phía sườn đồi vọng xuống cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.

Tôi ngẩng đầu nhìn lên. Trên con đường mòn men theo triền đồi,

thím Bảy đang đứng sững lại, chiếc nón lá cũ cắp bên hông, trên vai vác chiếc cuốc sắt đã mòn vẹt lưỡi. Phía sau thím còn có hai người đàn ông trung niên trong làng, tay xách thùng gỗ, tay cầm giỏ tre đựng hạt giống, dáng vẻ chuẩn bị ra đồng sớm.

Thím Bảy trợn tròn mắt nhìn tôi đang đứng vững vàng giữa lòng bãi lầy Bồ Tầm, gương mặt thím thoáng vẻ hoảng hốt tột độ.

Người dân thôn Vọng Ngưu Đôn từ đời này sang đời khác đều khắc sâu lời dặn của người già: cấm tuyệt đối không ai được bén mảng lại gần vũng lầy này, kẻ nào sa chân xuống bùn đen sẽ bị ma đói kéo tuột xuống cõi âm không thấy xác.

- Thím Bảy, không sao đâu!

-

- Tôi vẫy tay gọi lớn, giọng vang vọng giữa thung lũng yên bình.

- Đất cạn rồi, khô ráo lắm, không thụt được nữa đâu!

Thím Bảy chần chừ một thoáng, ngước mắt nhìn hai người đàn ông đi cùng. Một người trong số họ gãi đầu bối rối:

- Lạ chưa kìa... Nước độc đâu hết rồi? Mọi bận đứng từ trên đỉnh dốc này đã nghe mùi tanh nồng xộc thẳng vào mũi, hôm nay gió thổi ngược lên lại thơm mùi đất ải thế kia?

Tính tò mò xua tan bớt nỗi sợ hãi thâm căn cố đế. Thím Bảy hạ chiếc cuốc sắt xuống khỏi vai, rụt rè bước từng bước chậm rãi xuống dốc đồi. Hai người đàn ông kia cũng nối gót theo sau, mắt dán chặt vào từng tấc đất dưới chân tôi.

Khi bước chân thím Bảy chạm vào mép hàng cọc gỗ đào, thím dừng lại, ngập ngừng nhìn xuống bãi bồi phẳng lặng trước mặt. Đôi mắt kèm nhem của người đàn bà lam lũ mở to hết cỡ, đảo quanh một vòng từ bờ đông sang bờ tây của lòng chảo.

- Trời phật phù hộ...

-

- Thím Bảy lẩm bẩm, bàn tay gầy guộc run rẩy đưa lên ngực áo.

- Bùn đen đâu rồi? Mấy cái ụ đất sủi bọt tanh ói như ruột trâu sình đâu cả rồi?

- Đêm qua ông thợ rèn A Ngưu và người ta đã làm lễ tạ đất rồi thím ạ.

-

- Tôi nói dịu dàng, bước lại gần mép cọc rào.

- Oán khí tiêu tan, đất độc đã rút hết nước bẩn. Giờ đây nơi này chỉ là bãi đất bồi bình thường thôi.

Thím Bảy nghe nhắc đến tên lão A Ngưu thì thở dài một tiếng sụt sùi:

- Sáng nay cả làng nghe tin lão A Ngưu mất rồi. Lão đi thanh thản trên chiếc chõng tre nhà lão,

mặt mày tươi tỉnh như người vừa trúng mùa lúa. Trưởng thôn đang cắt cử mấy thanh niên sang phụ lo việc tang ma cho lão. Ai ngờ... trước khi nhắm mắt, lão còn để lại phúc đức lớn nhường này cho cái làng Vọng Ngưu Đôn này.

Người đàn ông đi sau thím Bảy đánh bạo bước qua hàng cọc đào. Ông ta dùng mũi chân giẫm mạnh xuống mặt đất nâu hai ba lần. Đất chỉ khẽ lún xuống một vết mỏng rồi nén chặt lại, khô ráo và rắn rỏi.

- Rắn thật này thím Bảy ơi!

-

- Người đàn ông reo lên, giọng ngập tràn kinh ngạc và vui sướng.

- Đất này xốp mịn lắm, phù sa từ trên núi dồn xuống bao nhiêu năm đọng lại ở đây. Đất tốt thế này mà bỏ hoang thì phí cả một đời người!

Ông ta không chần chừ thêm nữa, vung chiếc cuốc sắt trên tay bổ mạnh một nhát xuống lòng đầm. Lưỡi cuốc cắm ngập vào lớp đất mịn màng, khi bẩy lên làm bật tung một mảng đất nâu xốp,

để lộ ra những thớ đất ẩm ướt màu mỡ bên dưới. Không có một giọt nước đen nào trào ra, không có mùi hôi thối quen thuộc của xác chết rữa mục. Lớp đất mới phơi mình dưới nắng sớm tỏa ra một mùi ngai ngái mộc mạc, ngọt lành và thuần khiết.

Thím Bảy nhìn mảng đất vừa xới tung, khóe mắt nhăn nheo bỗng ươn ướt. Thím bước hẳn xuống lòng đầm, ngồi thụp xuống bên cạnh nhát cuốc của người đàn ông. Bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì sương gió của thím run run bốc một nắm đất vụn lên, bóp nhẹ trong lòng bàn tay.

- Mẹ tôi ngày xưa...

-

- Giọng thím Bảy nghẹn lại, đứt quãng giữa những tiếng nấc khẽ.

- Năm ba bảy, mẹ tôi dắt díu hai đứa em tôi chạy nạn qua đây. Lúc đó đói quá, người làng cào đất này ra nhét vào mồm cho đỡ xót ruột. Hai đứa em tôi ăn bùn vào bụng trướng to lên rồi chết gục ngay bờ đầm này,

xác cũng vùi luôn dưới đáy sâu... Mấy chục năm qua, mỗi lần đi ngang đây tôi chỉ dám cúi mặt khóc vụng, sợ ma quỷ bắt nốt mình đi. Ai ngờ có ngày... đất này lại lành trở lại thế này.

Hai người đàn ông đứng cạnh cũng lặng đi.

Ký ức về nạn đói năm 1937 như một vết chém sâu hoắm hằn lên da thịt của từng gia đình ở cái thị trấn nhỏ bên bờ Tây Giang này.

Không một ai sống sót qua thời khắc ấy mà không mang theo những nỗi đau xé lòng về những người thân bị vùi lấp trong bùn đất đói khát.

Tôi nhìn thím Bảy đang run rẩy xoa nắm đất phù sa, lòng dâng lên một mối xúc cảm sâu xa.

Tôi cúi người xuống, vốc một nắm đất nâu sẫm nơi chồi cỏ non vừa nhú. Đất mát rượi, xốp mềm luồn qua từng kẽ ngón tay tôi. Tôi đưa nắm đất lên sát mũi, lấy lại bình tĩnh.

Không còn mùi tanh nồng chết chóc của Quỷ Thực Nê. Mùi đất ải nồng hậu tràn ngập lồng ngực, mang theo hơi thở tinh khôi của buổi sớm mai.

Đất đai muôn đời nay vốn dĩ hiền lành và nhân hậu. Đất sinh ra cỏ cây, nuôi lớn bông lúa, củ khoai để con người có cái ăn mà duy trì nòi giống. Bản thân bùn đất chưa từng mang lòng ác quỷ,

chưa từng muốn nuốt chửng sinh mạng của con người. Chỉ có cơn đói cùng cực năm ấy, sự tàn nhẫn của chiến tranh và sự bế tắc tận cùng của lòng người mới biến đất đai thành thứ bùn độc quỷ ám, biến đồng loại thành thứ thức ăn cắn xé lẫn nhau để sinh tồn.

Khi món nợ oan khuất được giải tỏa, khi những linh hồn đói khát tìm lại được tên tuổi và sự thanh thản,

tà niệm tan rã thì đất lại trở về với bản chất nguyên sơ của nó. Đất mẹ bao dung tiếp nhận mọi đau thương, chôn vùi những bi kịch đẫm máu vào tầng sâu dĩ vãng, rồi lại dùng chính sự màu mỡ của mình để nuôi nấng những mầm xanh mới cho thế hệ mai sau.

- Thím Bảy này,

- người đàn ông cầm cuốc lên tiếng phá tan bầu không khí trầm mặc. -

- Chiều nay lo việc cho lão A Ngưu xong, ngày mai anh em tôi ra đây phạt sạch cỏ rậm chung quanh. Chỗ trũng này đem gieo hạt cải với tra ngô thì chẳng mấy chốc mà xanh mướt cả thung lũng.

- Phải đấy,

- thím Bảy quệt nước mắt, nhoẻn miệng cười để lộ hàm răng đen nhánh. -

- Đất lành chim đậu. Người chết đã yên nghỉ dưới mồ sâu, người sống chúng ta vẫn phải tiếp tục cày cấy mà ăn chứ. Năm nay trời thương, chắc chắn vụ đông này sẽ được mùa bắp to.

Tiếng cười nói rộn rã của những người nông dân bắt đầu lan ra khắp triền đồi. Từ phía đầu làng,

thêm vài bóng người vác cào, xách sọt cũng đang bước nhanh xuống dốc, hướng về phía bãi bồi Bồ Tầm với những nét mặt rạng rỡ, ngỡ ngàng. Vùng đất chết từng bị người đời xa lánh suốt gần một thế kỷ nay đã đón nhận những nhát cuốc đầu tiên của sự sống mới.

Tôi đứng thẳng người dậy, phủi nhẹ lớp đất nâu bám trên hai bàn tay. Ánh nắng ban trưa bắt đầu rọi xuống gay gắt hơn, sưởi ấm toàn bộ bãi bồi rộng lớn. Mảnh đất cằn cỗi năm xưa nay đã thực sự hồi sinh.

Nhưng khi nhìn những đợt gió khẽ lay động rặng trúc xanh bên triền đồi, tôi hiểu rằng sứ mệnh của mình tại Vọng Ngưu Đôn này vẫn chưa hoàn toàn kết thúc.

Đất đai đã sạch tà khí, mầm sống đã đơm chồi xanh biếc, nhưng những linh hồn oan khuất bị vùi dập năm ba bảy vẫn đang trông ngóng một nén nhang lòng từ trần thế. Những lời trăn trối nghẹn ngào của thím Thục Phân,

của bác Thạch Cửu, của những kiếp người vất vưởng từng thì thầm vào tai tôi trong những đêm bách quỷ dạ thoại vẫn đang nằm dang dở trên từng trang giấy ố vàng.

Tôi đưa tay chạm vào cuốn sổ tay bìa da nhét sâu trong túi áo khoác.

Phía cuối con đường làng rợp bóng tre,

mái ngói rêu phong của chái đình hoang thôn Vọng Ngưu Đôn đang lẩn khuất dưới bóng râm của cây đa cổ thụ. Nơi ấy, ngọn đèn bão nhỏ và lọ mực đen vẫn đang lặng lẽ đợi tôi quay về để đặt những nét bút phân minh cuối cùng cho một thời đói kém đau thương.

Chương khác

Xem thêm