Bùn Quỷ Thực - Chương 56: Nụ Cười Nhắm Mắt Của Lão Ngưu

Tôi xốc nách lão A Ngưu, bước từng bước nặng trĩu trên con đường mòn phủ đầy lá trúc ướt dẫn về căn nhà vách đất. Thân hình lão già gầy rộc đi trông…

Nội dung chương

Tôi xốc nách lão A Ngưu, bước từng bước nặng trĩu trên con đường mòn phủ đầy lá trúc ướt dẫn về căn nhà vách đất.

Thân hình lão già gầy rộc đi trông thấy, nhẹ bẫng trên vai tôi tựa hồ một bó củi khô bọc trong lớp bao tải rách.

Mỗi lần lão hít vào, lồng ngực lép kẹp lại phát ra những tiếng rít khẽ khàng, nghẽn đặc đờm dãi và khói tro.

Sau khi ngọn lửa thiêng ở đầm Bồ Tầm tắt lịm, toàn bộ sinh lực vốn được chèo chống bằng nỗi ám ảnh suốt mấy mươi năm qua của lão hình như cũng theo làn khói xám mà tan biến sạch trơn.

Lão không còn sức để tự nhấc nổi gót chân, hai mũi hài vải rách tơi tả kéo lê trên mặt đất ẩm, vạch thành hai vệt dài ngoằng giữa lớp tro than sót lại.

Hương Bà đi ngay phía trước, lưng còng rạp xuống, chiếc đãy vải bên hông lay động theo từng nhịp bước chậm chạp. Đôi bàn chân trần của bà dẫm lên sỏi đá không hề phát ra tiếng động, chỉ có vạt áo chàm thẫm màu bay phần phật trong gió sớm.

Mất gần nửa canh giờ, chúng tôi mới đưa được lão Ngưu về đến gian nhà tranh dột nát nằm trơ trọi nơi bìa rừng thôn Vọng Ngưu Đôn. Căn nhà vách đất sau một đêm hứng chịu dư chấn của đại trận phong ấn trông càng thêm xiêu vẹo,

bốn bề tường nứt toác những kẽ hở to bằng cổ tay, gió lạnh từ phía lòng sông Tây Giang mặc sức ùa vào, thổi tung những mảnh rơm rạ mục nát trên mái hiên.

Tôi cẩn thận đặt lão A Ngưu nằm xuống chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách gian trong.

Tấm phản tre già phát ra tiếng cọt kẹt khô khốc dưới sức nặng cạn kiệt của một kiếp người.

Tôi kéo manh chiếu rách đắp ngang bụng lão, nhưng bàn tay chạm vào da thịt lão chỉ thấy một luồng khí lạnh ngắt xông thẳng vào lòng bàn tay.

Lớp bùn quỷ từng ăn sâu vào da thịt lão nay đã khô cong, bong tróc thành từng mảng xám xịt rơi lả tả xuống dát tre, để lộ những vết sẹo lồi lõm, thâm tím chằng chịt khắp hai cẳng chân khẳng khiu.

Đó là dấu vết của những năm tháng lão dùng chính thân xác mình làm cọc neo giữ lấy oán khí của vũng lầy, chịu đựng sự gặm nhấm của bùn độc qua bao mùa mưa nắng.

Hơi thở của lão đứt quãng, từng chặp giật giật nơi cuống họng. Thế nhưng, khi tôi cúi xuống sát mặt lão, tôi nhận thấy đôi mắt mờ đục quanh năm phủ màng trắng của lão bỗng sáng rõ một cách kỳ lạ. Tròng mắt lão đen lánh,

phản chiếu ánh sáng lờ mờ của buổi bình minh đang rạng dần qua khe liếp nứa, không còn vương một tia vẫn đục hay nét điên dại nào của kẻ bị vong đói ám nhập.

Hương Bà không nói lời nào. Bà điềm nhiên tháo chiếc đãy vải, lấy ra chiếc đĩa sành con cáu bẩn dầu lạc và một mẩu bấc đèn se bằng sợi bông thô. Bà đặt đĩa đèn lên chiếc ghế đẩu mục cạnh đầu giường lão Ngưu,

móc trong bọc áo hộp diêm tre quẹt lửa. Ngọn lửa vàng vọt bùng lên, soi rõ gương mặt nhăn nheo như vỏ cây khô của bà đồng xứ Lĩnh Nam.

Bà cúi xuống,

móc từ đáy đãy ra ba nén hương có màu nâu sẫm, ngắn chỉ chừng nửa gang tay nhưng tỏa ra mùi trầm bài nồng đậm. Đó là loại hương hồi hương đặc chế của thầy cúng miền sông nước, dùng để dẫn lối cho những người sắp sửa lìa trần tìm về cội nguồn tông tộc.

Bà châm hương vào ngọn đèn dầu lạc, miệng lầm rầm tụng niệm những câu chú cổ bằng phương ngữ Lĩnh Nam trầm đục.

Ba đốm lửa đỏ lập lòe tỏa ra từng làn khói trắng mảnh như sợi chỉ, cuộn tròn lấy gian nhà đất rồi từ từ trôi ra phía ngưỡng cửa.

Hương Bà bước ra thềm, lật úp chiếc bát sành vỡ một góc cắm chặt ba nén hương xuống nền đất nện ngay chính giữa lối ra vào.

Chiếc bát sành đứng vững chãi, ngọn khói hương không bị gió sông thổi tạt đi mà cứ đứng thẳng tắp, xuyên qua màn sương mù mờ ảo hướng thẳng về phía chân trời xa xôi.

- Cửa mở rồi, nợ trần cũng cạn rồi.

-

- Hương Bà quay vào, giọng bà khàn đặc như tiếng đá cọ vào nhau.

- A Ngưu, người dưới đầm đã đi hết, ông cũng đừng cố níu giữ mảnh thân tàn này làm chi nữa.

Nghe thấy tiếng gọi của Hương Bà, bờ môi khô nứt nẻ của lão A Ngưu khẽ mấp máy. Lão run rẩy đưa cánh tay gầy guộc chỉ còn da bọc xương lên khỏi mép chiếu, những ngón tay khẳng khiu như cành củi gãy quờ quạng giữa khoảng không gian mờ tối.

Tôi vội vàng đưa hai tay nắm chặt lấy bàn tay lạnh buốt của lão. Bàn tay người thợ rèn năm xưa từng quai búa đập sắt, từng vốc từng nắm bùn đen nhét vào miệng để cầm cự qua mùa đói kém,

nay chỉ còn lại những khớp xương nhô cao và lớp da sần sùi chai sạn. Lão siết chặt lấy những ngón tay tôi với một sức lực tàn dư cuối cùng, mạnh mẽ đến mức khiến các khớp ngón tay tôi đau nhói.

Tôi móc từ trong túi áo khoác ra chiếc tẩu thuốc bằng đồng đỏ vừa nhặt được dưới lớp tro tàn nơi đáy đầm Bồ Tầm, nhẹ nhàng đặt vào lòng bàn tay còn lại của lão.

- Lão Ngưu, tẩu của lão đây. Cháu tìm thấy nó ở cọc gỗ đào trung tâm. Đầm sâu đã sạch rồi, mầm trúc mới cũng đã đâm chồi rồi.

Những ngón tay run rẩy của lão A Ngưu chạm vào thân tẩu đồng ấm áp. Lão run lên từng chặp, ngón tay cái lần tìm ba vệt khắc thô sơ trên đầu tẩu - vết tích của lò rèn xóm Ngưu Đầu ngày trước. Khóe mắt sâu hoắm của lão ứa ra hai giọt lệ đục ngầu,

lăn chầm chậm qua gò má hóp, cuốn trôi đi những hạt tro tàn cuối cùng còn sót lại trên rãnh nhăn nheo của thời gian.

- Tìm... tìm thấy rồi...

-

- Lão thều thào, giọng nói yếu ớt nghẹn ngào như tiếng gió lọt qua kẽ nứa.

- Ta... ta ném nó xuống đó... ngày dựng đàn... ta sợ mình quên... sợ cái đói làm ta quên mất... mình là người...

Lão thở dốc một hơi dài, lồng ngực phập phồng đau đớn. Tôi phải ghé sát tai vào tận bờ môi nứt nẻ của lão mới nghe rõ từng lời thì thào đứt quãng.

- Năm ba bảy... gạo hết... rễ cỏ cũng hết... Cả xóm Ngưu Đầu... ngã rạp từng người một... Thằng Út chết trên lưng mẹ nó... con Hai ngậm đất sét no bụng rồi trương phình mà đi... Ta sống sót... vì ta cướp được nửa củ mài của bác Thạch Cửu... Nửa củ mài dính máu...

Nước mắt lão tuôn ra nhiều hơn, ướt đẫm manh chiếu tre mục nát dưới gáy. Nỗi ân hận bị chôn chặt suốt mấy chục năm trời, gánh nặng của kẻ sống sót nhìn đồng loại chết dần chết mòn trong đau đớn cùng cực, giờ đây vỡ òa ra trong từng hơi thở tàn tạ.

- Ta không dám rời khỏi cái đầm này...

-

- Lão Ngưu siết chặt tay tôi, ánh mắt nhìn trừng trừng lên nóc nhà dột nát, nơi những giọt sương mai bắt đầu tí tách rơi qua kẽ rạ.

- Ta phải ở lại... canh cho tụi nó... Tụi nó đói quá mà hóa quỷ... Ta phải cho tụi nó ăn máu thịt của ta... để tụi nó đừng tràn vào làng... Ta có tội... Tô tiên sinh... ta có tội với người xóm Ngưu Đầu...

- Lão không có tội.

-

- Tôi nghẹn ngào, bàn tay tôi áp chặt lấy bàn tay lạnh ngắt của lão già.

- Năm đó trời làm đại hạn, giặc giã hoành hành, không ai có tội cả. Người dưới đầm đã nhận gạo trắng rồi. Đứa bé cầm chiếc bát sành mẻ miệng đã cười với cháu. Bọn họ không còn oán giận lão nữa đâu. Mọi người đều đã tha thứ cho nhau rồi.

Lão Ngưu sững lại một nhịp. Ánh mắt lão chuyển từ nóc nhà sang nhìn thẳng vào mắt tôi. Trong đôi mắt đen lánh của lão,

tôi thấy hình bóng mình in rõ mồn một, cùng với đó là một sự nhẹ nhõm vô bờ đang chầm chậm lan tỏa qua từng thớ cơ căng cứng trên gương mặt già nua.

- Đứa bé... nó cười thật sao?

-

- Giọng lão run rẩy hỏi lại.

- Thật. Nó cười rất tươi,

rồi tan biến thành ánh sáng bay lên trời. Bác Thạch Cửu, thím Thục Phân, cả những người chèo đò bến Tây Giang năm ấy... tất cả đều đã cúi đầu chào rồi thanh thản đi vào giấc ngủ ngàn thu. Đầm Bồ Tầm giờ chỉ còn đất ấm và mầm trúc xanh thôi.

Lão Ngưu từ từ nhắm mắt lại, rồi lại mở ra. Một tiếng thở phào nhẹ nhõm thoát ra từ lồng ngực lão, dài và sâu, như thể toàn bộ sức nặng của ngọn núi u uất đè nặng lên tấm lưng còng suốt gần một thế kỷ qua vừa được trút bỏ hoàn toàn.

Trong không gian tĩnh mịch của căn nhà đất, giác quan thứ sáu của tôi bỗng trở nên yên ắng lạ thường.

Những tiếng rên xiết đòi ăn, những âm thanh cào cấu bùn đất, những tiếng khóc hờ tủi nghẹn từng gầm rú bên tai tôi suốt những ngày đêm vừa qua nay đã hoàn toàn im bặt.

Không còn một bóng ma đói khát nào lẩn khuất sau rặng trúc.

Không còn một cánh tay quỷ nào cào xé dưới đáy đầm.

Chỉ còn tiếng côn trùng rả rích cất lên khúc ca đón chào ngày mới nơi chân tường ẩm ướt, và tiếng gió sớm xào xạc luồn qua những tán lá tre xua đi hơi lạnh của đêm tàn.

Hương Bà đứng lặng lẽ bên ngưỡng cửa,

hai tay chắp trước ngực, mắt nhìn ra dải sương mù đang cuộn trào trên mặt sông Tây Giang. Ánh lửa từ ngọn đèn dầu lạc chao nghiêng, hắt bóng bà lên vách đất dài ngoằng, bất động như một pho tượng cổ trấn giữ nơi ranh giới giữa hai bờ sinh tử.

- Đi đi thôi, A Ngưu.

-

- Tiếng Hương Bà cất lên êm ái, trầm ấm khác hẳn vẻ sắc lạnh thường ngày.

- Đò cập bến rồi, người làng đang đợi ông ở bên kia sông. Đừng để họ đợi lâu nữa.

Lão A Ngưu không đáp lại bằng lời. Bàn tay lão đang nắm chặt lấy tay tôi từ từ nới lỏng ra từng ngón một. Chiếc tẩu thuốc bằng đồng đỏ trượt nhẹ khỏi lòng bàn tay lão, nằm gọn gàng trên mép chiếu rách, ánh lên sắc kim loại đỏ ấm áp dưới ánh đèn dầu.

Một nụ cười nhạt nhòa nhưng vô cùng thanh thản, an yên bất chợt nở trên đôi môi nứt nẻ của người thợ rèn già. Đó là nụ cười của một đứa trẻ sau chuỗi ngày dài lạc lối trong đêm tối rốt cuộc đã tìm thấy đường về nhà,

nụ cười của một kẻ lữ hành vừa trút bỏ được gánh nặng đá tảng trên vai để bước vào giấc ngủ vùi không còn mộng mị.

Từ khóe mắt nhăn nheo của lão, giọt lệ đục cuối cùng chầm chậm lăn xuống, vỡ tan trên phiến dát tre.

Đôi mắt sáng rõ của lão A Ngưu từ từ khép lại.

Mi mắt lão hạ xuống nhẹ nhàng,

thanh thản như cánh hoa rụng xuống mặt hồ phẳng lặng. Hơi thở đứt quãng nơi cuống họng lão nhỏ dần, nhỏ dần rồi tắt hẳn. Lồng ngực gầy guộc chìm xuống một nhịp cuối cùng rồi nằm yên bất động, không còn phập phồng theo những cơn đau đớn xé ruột của trần thế nữa.

Lão A Ngưu đã ra đi.

Lão đi ngay trong vòng tay tôi, giữa căn nhà vách đất dột nát nồng đượm mùi hương hồi và dầu lạc, mang theo nụ cười nhắm mắt trọn vẹn của một người đã trả xong món nợ sinh tử với mảnh đất Vọng Ngưu Đôn này.

Tôi ngồi bất động bên chiếc chõng tre, hai tay vẫn giữ lấy bàn tay dần lạnh cứng của lão già. Một nỗi xót xa tê tái dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng,

nhưng cùng với đó là một niềm kính cẩn khôn cùng đối với sự hy sinh thầm lặng của một con người bình dị đã dùng cả cuộc đời tàn tạ của mình để bảo bọc cho sự bình yên của người đời sau.

Gió sớm từ ngoài đồng thổi thốc vào gian nhà,

làm ngọn đèn dầu lạc chao đảo dữ dội rồi vụt tắt. Gian nhà đất chìm vào ánh sáng bàng bạc của buổi rạng đông. Ba nén hương nơi ngưỡng cửa vừa vặn cháy rụi, tàn hương uốn cong lại thành những vòng tròn trắng xốp rồi rơi xuống lòng chiếc bát úp.

Bàn tay lão A Ngưu buông thõng xuống khỏi mép chõng tre. Những ngón tay gầy guộc, khẳng khiu hướng thẳng ra phía khung cửa liếp đang mở toang, chỉ về phía dòng sông Tây Giang mờ mịt, nơi những dải sương mù trắng xóa đang cuồn cuộn dâng lên che khuất cả một khúc bến đò ngang.

Chương khác

Xem thêm