Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 1: Ca Bàn Giao Chiều Muộn

Gió bấc cuối năm thổi rát mặt đường Kim Mã. Mưa bụi giăng một màn mỏng dính, bám đầy trên kính chắn gió chiếc xe máy cũ của Nguyễn Hữu Khoa. Anh tắt máy,…

Nội dung chương

Gió bấc cuối năm thổi rát mặt đường Kim Mã. Mưa bụi giăng một màn mỏng dính, bám đầy trên kính chắn gió chiếc xe máy cũ của Nguyễn Hữu Khoa. Anh tắt máy, gạt chân chống nghiêng ngay trước cánh cổng sắt đồ sộ của căn biệt thự số 300.

Bên ngoài, dòng người hối hả ngược xuôi về phía Cầu Giấy hay rẽ về mạn Nguyễn Thái Học. Ánh đèn xe máy, ô tô quét qua mặt đường nhựa ướt loang loáng bọt nước. Nhưng cách vỉa hè chưa đầy năm mét, phía sau hàng rào bê tông đúc cọc sắt nhọn hoắt, căn nhà nằm lọt thỏm trong bóng tối đặc quánh. Những tán xà cừ cổ thụ vươn cành khẳng khiu trùm kín khoảng sân rộng hàng trăm mét vuông, che khuất gần hết mặt tiền kiến trúc Pháp cổ. Vỏ cây xù xì mốc thếch, nhỏ từng giọt nước buốt lạnh xuống nền gạch vỡ bên dưới.

Khoa đưa tay kéo khóa chiếc áo khoác bông dày cộp, chỉnh lại chiếc mũ mềm của công ty dịch vụ bảo vệ. Tóc anh cắt ngắn sát da đầu, hoa râm hai bên thái dương. Hai mươi năm phục vụ trong một phân đội công binh bảo vệ kho kỹ thuật vùng biên cho anh thói quen quan sát địa hình trước khi bước chân vào bất cứ khu vực nào. Đối với anh, mảnh đất này có một vẻ ngột ngạt kỳ lạ. Nó đứng biệt lập giữa lòng thủ đô sầm uất, giống một vết sẹo xám xịt chưa bao giờ lành miệng sau hơn ba thập kỷ bị bỏ quên.

Cánh cổng phụ bằng sắt ken két mở ra một khe hẹp. Người đàn ông trung niên mặc đồng phục cùng công ty thò đầu ra, mắt trũng sâu, hai quầng thâm đen sì nổi rõ trên làn da vàng vọt. Đó là Thăng, người phụ trách ca trực ngày kiêm tuần tra mặt bằng trước khi bàn giao cho ca đêm.

- Anh Khoa đấy à? - Giọng Thăng khàn đặc, phả ra luồng hơi ấm trắng xóa trong đêm buốt. - Vào nhanh đi, khép cái cổng lại giùm tôi. Gió lùa buốt hết cả xương sống sống.

Khoa dắt chiếc xe vào khoảng sân lát đá xanh nứt toẻ. Lớp rêu ẩm mọc ken dày giữa các khe nứt khiến đế giày bốt cao cổ của anh trượt nhẹ một nhịp. Anh chống chân giữ thăng bằng, đưa mắt quét qua khối nhà chính. Căn biệt thự hai tầng rưỡi xây theo lối kiến trúc dinh thự ngoại giao thập niên trước, mái ngói dốc màu xám xịt, những ô cửa sổ chớp gỗ lim sơn xanh lá cây nay đã tróc từng mảng lớn, để lộ lớp gỗ mục đen sì. Một giàn giáo sắt rỉ sét dựng tạm ở góc tường phía tây, dấu tích của ban quản lý dự án cải tạo vừa rút quân chiều nay do thời tiết chuyển xấu.

Căn bốt bảo vệ nằm ngay sát nách cổng chính, thực chất là một gian phòng phụ từng dùng cho lính gác của phái đoàn ngoại giao nước ngoài trước thập niên chín mươi. Tường vôi vàng đã bong ra từng mảng lớn, trơ cả lớp gạch chỉ đỏ sậm ẩm ướt bên trong. Trên chiếc bàn gỗ tạp đặt một ấm nhôm cáu bẩn, một chiếc đèn bão sạc điện và cuốn sổ giao ca bọc bìa da rách mép.

Thăng vội vã nhét mấy món đồ dùng cá nhân vào chiếc túi vải bạt, động tác lúng túng khác thường. Bàn tay gầy guộc của anh ta run lên bần bật, va cả chiếc cốc thủy tinh vào thành bàn nghe một tiếng cộp khô khốc.

- Dự án cải tạo bắt đầu từ đầu tuần trước, - Khoa vừa tháo đôi găng tay len ướt sũng vừa cất giọng bình thản. - Ban ngày đội thợ có để lại vật tư gì giá trị ngoài sân không?

- Chẳng có gì đáng giá ngoài mấy bao xi măng với ít giàn giáo thép, - Thăng đáp, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ hướng về gian nhà lớn, giọng hạ thấp xuống nửa tông. - Đám thợ nề họ sợ xanh mắt mèo, bốn rưỡi chiều đã dọn đồ té sạch rồi. Họ bảo trả thêm gấp đôi tiền công cũng nhất quyết không chịu ở lại sau khi tắt mặt trời.

Khoa nhíu mày, kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ ngồi xuống đối diện Thăng. Ngọn đèn tuýp duy nhất trong phòng gác chập chờn phát ra tiếng vo vo nhức óc.

- Có trộm cắp gì quanh đây à? Khu này an ninh Ba Đình tốt lắm mà.

- Trộm thì đã phúc tổ bảy đời, - Thăng thở hắt ra, quẹt mũi bằng mu bàn tay thô ráp. - Anh là lính phục viên, cấp trên bảo anh gan góc nên mới điều anh về đây trám vào chỗ thằng Tuấn xin nghỉ việc đột xuất sáng nay. Nhưng tôi khuyên thật lòng, ban đêm cứ ngồi yên trong bốt này. Đóng chặt cửa sổ, khóa chốt trong cẩn thận. Ai gọi cửa cũng mặc xác họ.

Khoa rót nước sôi từ chiếc phích Rạng Đông cũ vào chiếc ấm cáu bẩn, mùi trà mạn Thái Nguyên bốc lên chát xít xua bớt mùi ẩm mốc của gian phòng. Anh đẩy một chén con về phía Thăng.

- Cậu Tuấn làm sao mà nghỉ? Hợp đồng bảo vệ công trình này ký trọn gói ba tháng cơ mà.

Thăng nhìn chén trà đang bốc khói nhưng không buồn nâng lên. Ánh mắt anh ta dán chặt vào khe cửa khép hờ nhìn ra tòa nhà chính. Một cơn gió rít qua rặng xà cừ tạo nên âm thanh u u tựa tiếng còi tàu từ một sân ga xa xôi vọng lại.

- Nó trực ca đêm qua. Rạng sáng nay tôi đến thay ca thì thấy nó ngồi co ro ở góc sân, ướt như chuột lột, hai mắt trợn ngược chỉ biết ú ớ chỉ tay lên cửa sổ gác mái. Nó bảo trên ấy có người đứng nhìn xuống cả đêm. Nó ném lại cái thẻ nhân viên rồi chuồn thẳng về quê, đến tiền lương nửa tháng cũng chẳng thèm lấy.

Khoa nâng chén trà, nhấp một ngụm nhỏ. Vị đắng chát lan tỏa nơi đầu lưỡi rồi đọng lại vị ngọt hậu ở cổ họng. Những câu chuyện ma quỷ truyền miệng về số 300 Kim Mã này anh đã nghe người ta bàn tán ngoài các quán trà đá vỉa hè suốt mấy chục năm qua. Nào là tiếng đàn bà khóc lúc nửa đêm, nào là bóng người ngoại quốc đi lại trong sân, hay những cái chết bí ẩn của các gia đình từng đến đây xin tạm trú. Đối với một người từng lội suối băng rừng, chôn cất đồng đội giữa những cánh rừng già Tây Bắc, anh luôn coi đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của những kẻ thần hồn nát thần tính. Bóng tối và sự tĩnh lặng thường thổi phồng nỗi sợ hãi của con người lên gấp mười lần.

- Tôi chỉ làm theo đúng hợp đồng, - Khoa nói, giọng chắc nịch. - Cứ hai tiếng một lần tôi sẽ đi tuần chu vi một lượt. Vật tư của đơn vị thi công bị thất thoát thì mình phải đền.

Thăng nhìn Khoa bằng ánh mắt vừa thương hại vừa bực bội. Anh ta đứng bật dậy, với lấy chiếc áo mưa giấy màu xám nhét trong góc tủ, rồi với tay cầm lấy chùm chìa khóa bằng đồng nặng trịch đặt mạnh lên mặt bàn. Âm thanh kim loại va chạm vang lên khô khốc giữa bốn bức tường ẩm.

- Đây là chìa khóa các khu vực. Chìa dẹp dài là cổng chính. Chìa chữ thập là cửa sảnh tầng một. Chìa tròn to có khía rãnh sâu là cửa dẫn xuống hầm rượu cũ.

Khoa đưa tay cầm chùm chìa khóa. Kim loại lạnh buốt như vừa vớt dưới đáy giếng sâu lên. Chùm chìa khóa có sáu chiếc, cái nào cũng xỉn màu đồng hun, bám một lớp bụi nhờn nhờn mùi dầu máy rỉ sét.

- Còn các phòng trên tầng hai và tầng áp mái? - Khoa hỏi.

- Không có chìa khóa cho các phòng đó, - Thăng đáp nhanh, giọng run rẩy rõ rệt. - Cửa gỗ trên ấy mục nát hết rồi, ban quản lý dùng đinh mười phân đóng chết từ hồi tiếp quản. Mà tốt nhất là anh đừng bao giờ đặt chân lên cầu thang. Cầu thang gỗ lim bên trong ọp ẹp lắm, bước hụt một cái là gãy xương như chơi.

Thăng trùm vội chiếc áo mưa mỏng lên đầu, chiếc mũ trùm che gần hết khuôn mặt hốc hác. Anh ta vơ lấy chiếc ba lô lép kẹp, bước nhanh ra cửa rồi đột ngột khựng lại, quay ngoắt người nhìn Khoa. Đôi con ngươi của Thăng dại ra dưới ánh đèn tuýp chập chờn.

- Cuốn sổ bàn giao tôi để trên bàn. Anh đọc kỹ mấy trang ghi chú của bọn tôi trước khi quyết định đi tuần. Nhớ đấy, sau mười một giờ đêm, có nghe thấy cái gì cũng mặc kệ. Căn nhà này không muốn người sống bén mảng vào ban đêm đâu.

Dứt lời, Thăng mở toang cánh cửa bốt gác, lao vội ra màn mưa mỏng bên ngoài. Tiếng bước chân anh ta dẫm lộp cộp trên nền gạch ướt, rồi tiếng xích sắt cổng ngoài ken két vang lên khi Thăng lách người ra phố. Một tiếng nổ máy xe máy giòn giã rồi tiếng rồ ga gấp gáp xa dần về phía ngã tư Kim Mã - Liễu Giai.

Gian bốt bảo vệ chìm vào sự im ắng tuyệt đối. Chỉ còn tiếng đồng hồ treo tường quả lắc cũ kỹ chạy bằng pin phát ra những nhịp tích tắc đều đặn, khô khốc.

Khoa đứng dậy, cài then chốt cửa bốt gác cẩn thận. Anh bước tới bên chiếc bàn gỗ, cầm lấy chiếc đèn pin tuần tra chuyên dụng loại vỏ nhôm đen nặng trịch, bấm thử công tắc. Luồng sáng vàng nhạt bắn ra, cắt một vệt sáng thẳng tắp qua lớp không khí lơ lửng bụi mịn trong phòng. Pin vẫn còn đầy. Anh rút thêm chiếc bật lửa ga và một bao thuốc lá Thăng Long đặt vào túi áo ngực.

Kỷ luật nhà binh dạy Khoa không bao giờ được ngồi thụ động chờ đợi sự việc xảy ra. Trước khi bắt đầu một ca trực kéo dài từ mười giờ đêm đến sáu giờ sáng hôm sau, việc đầu tiên luôn là khảo sát thực địa hiện trường để nắm rõ các lối thoát hiểm và điểm mù quan sát.

Khoa vặn chốt cửa, bước ra ngoài khoảng sân tối tăm.

Gió lạnh ùa vào mặt buốt như kim châm. Mưa phùn giăng kín những tán cây xà cừ, biến cả khuôn viên thành một lòng chảo ứ đọng khí lạnh. Căn biệt thự số 300 đứng sừng sững trước mặt anh, đen thẫm, tựa một pháo đài cô độc bị bỏ quên giữa lòng phố thị. Những mảng tường phủ đầy rêu phong và dây leo bò chằng chịt bốc lên mùi ngai ngái của bùn đất và lá cây thối rữa.

Khoa rọi đèn pin dọc theo lối đi lát đá xanh dẫn vào sảnh chính. Dưới ánh sáng vàng đục, bậc thềm tam cấp bằng đá hoa cương đã nứt vỡ nhiều đoạn, cỏ dại mọc chen chúc từ các kẽ hở. Hai cột trụ tròn phong cách La Mã đỡ lấy mái hiên sảnh chính bị phủ kín bởi một lớp rêu đen nhớp nháp. Trên vòm cửa chính, một bức phù điêu chạm trổ hình quốc huy hoặc biểu tượng ngoại giao cũ đã bị đục đẽo nham nhở từ nhiều năm trước, để lộ những vết sứt sẹo xám xịt của lớp vữa trát vội.

Anh bước từng bước thận trọng, đế giày bốt cọ xát ken két trên mặt đá trơn tuột. Khi tiến sát đến cửa chính bằng gỗ lim hai cánh, Khoa rọi đèn kiểm tra then cài. Cửa bị khóa bằng một sợi dây xích sắt to bản quấn ba vòng quanh hai tay nắm đồng, chốt lại bằng một ổ khóa Việt Tiệp đã ố vàng vì rỉ sét. Một dải băng niêm phong màu đỏ có đóng dấu đỏ của cơ quan chủ quản dán ngang khe cửa, nhưng mép giấy đã mủn mục vì mưa gió lâu ngày, rách toác làm đôi.

Khoa đưa tay giật nhẹ sợi xích sắt. Xích căng chặt, ổ khóa bấm chắc chắn. Không có dấu hiệu cạy phá từ bên ngoài.

Một luồng gió mạnh bất ngờ thốc từ phía sau lưng làm những cành xà cừ va vào nhau ràn rạt. Khoa quay ngoắt người lại, tay siết chặt thân đèn pin theo phản xạ phòng vệ. Ánh sáng quét một vòng qua các bụi cây rậm rạp quanh bờ tường rào phía đường Kim Mã. Không có bóng người nào. Phía ngoài đường cái, xe cộ đã thưa thớt hẳn, chỉ thỉnh thoảng có tiếng còi xe bóp vội rồi vụt qua như trốn chạy khỏi đêm lạnh.

Nhưng khi luồng sáng quét ngược trở lại bức tường hướng đông của căn nhà, Khoa khựng lại.

Ở góc tường sát mặt đất, một khung cửa sắt nhỏ dẫn xuống tầng hầm rượu hé mở một khoảng chừng gang tay. Cánh cửa sắt hoen gỉ ấy dường như đã bị mở tung từ trước đó mà đội thợ không để ý. Từ khe hở đen ngòm dưới lòng đất, một luồng khí lạnh ngắt, tanh nồng mùi vôi ẩm và nước tù đọng phả thẳng lên mặt sân.

Khoa bước lại gần, cúi người soi đèn vào khe cửa hầm. Bậc thang xi măng dẫn sâu xuống bóng tối đen kịt, bên dưới đọng một vũng nước mưa màu xám đục. Bề mặt vũng nước tĩnh lặng như gương, không một gợn sóng, phản chiếu ánh sáng le lói từ chiếc đèn pin trên tay anh.

Nhìn vào độ sâu hun hút của căn hầm, trong lồng ngực Khoa dấy lên một cảm giác gai ngắt dọc sống lưng. Đó là bản năng cảnh giác của một người lính canh gác kho đạn dược giữa rừng hoang khi ngửi thấy mùi nguy hiểm cận kề. Nhưng anh nhanh chóng xua tan cảm giác ấy bằng một cái lắc đầu dứt khoát.

- Đám thợ ẩu tả, - anh lẩm bẩm trong miệng. - Cửa hầm không chốt để nước mưa tràn vào thì mục hết móng nhà.

Anh đưa tay nắm lấy mép cửa sắt, định kéo nó sập lại. Nhưng cánh cửa nặng trịch, rỉ sét kẹt chặt vào khung gạch, kéo hết sức cũng chỉ nhích được vài phân rồi dừng lại trơ trơ. Nhìn kỹ lại, ổ khóa then cài bên ngoài đã bị gãy chốt từ bao giờ.

Khoa quyết định quay lại bốt bảo vệ tìm một sợi dây kẽm hoặc thanh gỗ để chèn tạm cánh cửa hầm trước khi tiến hành kiểm tra sâu hơn. Đi tuần một mình trong bóng tối mà để hở một lối vào sau lưng là điều cấm kỵ đối với một lính bảo vệ chuyên nghiệp.

Anh sải bước nhanh qua khoảng sân ngập lá rụng, trở lại căn bốt gác ấm áp hơn đôi chút. Tiếng cửa gỗ đóng sập lại, ngăn cách tiếng gió bấc gào thét bên ngoài.

Khoa tháo chiếc mũ mềm đặt lên bàn, với lấy bao thuốc lá Thăng Long, rút một điếu rồi châm lửa. Khói thuốc xanh mờ bay lơ lửng dưới bóng đèn tuýp. Hơi ấm của thuốc lá giúp các khớp ngón tay anh bớt cóng. Anh kéo chiếc ghế đẩu lại gần bàn, kéo cuốn sổ bàn giao ca trực bọc da đen về phía mình.

Cuốn sổ đã cũ nát, các góc bìa sờn rách để lộ lớp bìa carton xám bên trong. Khoa lật từng trang. Những trang đầu ghi chép bằng bút bi xanh rất cẩn thận về tình trạng vật tư, số lượng bao cát, cuộn sắt phi mười bốn nhập kho công trường từ những ngày đầu tuần. Chữ viết của Thăng và Tuấn đều rõ ràng, mạch lạc, thể hiện tính chất hành chính thông thường.

Nhưng càng về các trang gần đây, nét chữ bắt đầu nguệch ngoạc và thưa dần.

Khoa lật đến trang ghi ngày hôm qua, ca trực đêm của bảo vệ Tuấn. Trang giấy gần như để trống, chỉ có đúng một dòng ghi chép lúc hai mươi ba giờ ba mươi phút: *“Gió to. Có tiếng bước chân trên hành lang tầng hai. Đã lên kiểm tra nhưng cửa khóa chết.”*

Bên dưới dòng chữ đó, Tuấn gạch xóa lung tung bằng nhiều nét mực đen đè lên nhau, như thể anh ta viết ra một điều gì đó rồi lại vội vã muốn giấu đi.

Khoa lật sang trang tiếp theo - trang bàn giao ca trực đêm nay mà Thăng vừa ký tên vội vã trước khi rời đi.

Giữa trang giấy trắng tinh, Thăng không ghi biên bản bàn giao thiết bị hay tình trạng công trường như quy định. Bằng một nét bút bi gai góc, đè mạnh đến mức làm rách cả thớ giấy xơ xác, Thăng để lại một bức thông điệp kỳ quái gồm ba gạch đầu dòng ngắn ngủi:

*1. Khóa chặt cửa tầng hầm sau 23h. Bằng mọi giá không được để cửa hở qua nửa đêm.* *2. Đi tuần bằng đèn pin, nếu thấy bóng mình in trên tường biến thành hai bóng, đứng yên nhắm mắt đếm đủ từ một đến mười rồi quay gót bước lùi ba bước.* *3. Tuyệt đối không được gõ cửa phòng khánh tiết nếu nghe thấy tiếng đàn dương cầm vọng ra.*

Dưới cùng của trang giấy, Thăng viết thêm một chữ run rẩy, mực nhòe nhoẹt vì một giọt nước rơi trúng: *“Rút đi.”*

Khoa nhìn chằm chằm vào ba dòng chữ trên mặt giấy ố vàng. Điếu thuốc lá trên môi anh cháy chậm lại, tàn thuốc dài ngoằng cong xuống rồi rơi lả tả lên mặt bàn gỗ. Anh khẽ nhếch mép, buông một tiếng thở dài trầm đục. Mấy gã bảo vệ dân sự này rõ ràng đã bị những câu chuyện đồn thổi của đám thợ nề dọa cho mất hết phương hướng. Ba cái quy tắc nhảm nhí này chẳng khác nào trò đùa của lính cũ dùng để thử gan lính mới trong các đơn vị tân binh.

Đồng hồ quả lắc trên vách tường bật ra tiếng bíp điện tử báo hiệu tròn hai mươi ba giờ đêm. Mười một tiếng chuông cơ học gõ vang gắt gỏng: *Bính... boong... bính... boong...*

Tiếng chuông vừa dứt, bóng đèn tuýp trên trần nhà đột ngột chớp tắt hai lần.

Dây tóc bóng đèn rung lên bần bật rồi phát ra tiếng nổ lẹt đẹt nho nhỏ. Toàn bộ ánh sáng trong phòng gác phụt tắt. Căn bốt chìm vào một màu đen đặc quánh như mực tầu.

Bên ngoài sân, tiếng gió bấc dường như ngưng bặt trong một nhịp thở. Không gian tĩnh lặng đến rợn người, chỉ còn nghe thấy tiếng tim Khoa đập trầm đục sau lồng ngực dày dạn sương gió.

Anh bình thản đưa tay với lấy chiếc đèn pin bọc nhôm đặt trên mặt bàn, ngón cái gạt nhẹ công tắc. Vệt sáng vàng quét thẳng qua khung cửa sổ kính nứt hướng về phía căn biệt thự lớn.

Dưới tầng hầm rượu, cánh cửa sắt ban nãy kẹt cứng bỗng phát ra một tiếng rít dài ken két chói tai, như thể có một lực vô hình cực lớn vừa giằng mạnh then cài từ bên dưới. Cánh cửa bật tung sang một bên, đập mạnh vào bờ tường gạch tạo nên một âm thanh rỗng tuếch vang vọng khắp đêm đen.

Chương khác

Xem thêm