Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 2: Ba Quy Tắc Sống Còn

Ánh sáng vàng từ chiếc đèn pin bọc nhôm quét một vệt dài qua khung kính vỡ, hắt lên nền gạch xi măng loang lổ rêu xanh bên ngoài sân. Nguyễn Hữu Khoa giữ…

Nội dung chương

Ánh sáng vàng từ chiếc đèn pin bọc nhôm quét một vệt dài qua khung kính vỡ, hắt lên nền gạch xi măng loang lổ rêu xanh bên ngoài sân. Nguyễn Hữu Khoa giữ chặt thân đèn bằng các ngón tay thô ráp, khớp xương nổi rõ sau hàng chục năm cầm súng và gác kho hậu cần. Cánh cửa sắt dẫn xuống hầm rượu vừa bật tung vẫn còn run rẩy từng chặp theo từng cơn gió bấc tạt ngang qua góc hiên.

Khoa không vội vã lao ra ngay. Trong quân ngũ, bài học đầu tiên của người lính trực đêm nơi biên giới hay kho đạn là giữ vững vị trí trước khi xác định rõ mục tiêu. Càng những lúc bất ngờ phát sinh tiếng động lạ giữa đêm hôm khuya khoắt, kẻ hoảng loạn bỏ chạy hoặc hấp tấp hành động sẽ luôn là người chịu thiệt hại đầu tiên.

Anh với tay lấy chiếc áo khoác bông dã chiến treo trên móc sắt sau cánh cửa bốt, xỏ tay vào hai ống tay áo dày cộp. Mùi vải bạt sờn cũ xen lẫn mùi thuốc lá Thăng Long quen thuộc tạo ra cảm giác ấm áp và vững tâm. Khoa kéo khóa áo lên tận cằm, cài quai mũ mềm, sau đó cúi xuống mặt bàn gỗ, nhặt lấy mẩu giấy xé vội từ cuốn sổ trực ca.

Nét chữ của Thăng đè mạnh tới mức găm sâu vào thớ giấy vàng ố:

*1. Khóa chặt cửa tầng hầm sau 23h. Bằng mọi giá không được để cửa hở qua nửa đêm.* *2. Đi tuần bằng đèn pin, nếu thấy bóng mình in trên tường biến thành hai bóng, đứng yên nhắm mắt đếm đủ từ một đến mười rồi quay gót bước lùi ba bước.* *3. Tuyệt đối không được gõ cửa phòng khánh tiết nếu nghe thấy tiếng đàn dương cầm vọng ra.*

Khoa đọc lại từng chữ một cách lạnh lùng. Anh từng chứng kiến đủ trò ma mãnh của đám lính trẻ khi mới vào đơn vị. Những kẻ muốn dọa tân binh thường bịa ra các câu chuyện rùng rợn quanh chân dốc, quanh bãi tập bắn, hoặc gán ghép sự cố chập điện, gió lùa thành chuyện ma quỷ hiển linh. Thăng và Tuấn là dân bảo vệ hợp đồng ngoài đời, chưa từng trải qua kỷ luật thép của quân ngũ, tinh thần dễ bị lung lay bởi lời đồn thổi của đám thợ nề và người dân sống quanh ngõ Vạn Bảo.

Tuy nhiên, việc cánh cửa hầm bật mở ngay khi đồng hồ điểm mười một tiếng chuông lại là một sự kiện cơ học cần giải quyết ngay tức khắc. Bất kể lý do là gì, một cánh cửa mở toang sau lưng khi đang canh giữ một công trình cải tạo trị giá hàng chục tỷ đồng là một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng.

Khoa mở ngăn kéo bàn trực, lấy ra chiếc kìm bấm chuyên dụng và một cuộn dây thép mạ kẽm cỡ hai ly anh mang từ nhà đi. Anh nhét chúng vào túi áo bên hông, giắt thêm chiếc dùi cui cao su vào thắt lưng, rồi đẩy cánh cửa gỗ bốt gác bước ra sân.

Gió bấc cuối đông thổi rát mặt. Hơi ẩm từ những luống cây dại mọc tràn lan quanh các khối bê tông dở dang bốc lên ngai ngái, lẫn với mùi vôi ướt và xi măng chết. Biệt thự số 300 Kim Mã sừng sững giữa bóng tối như một khối đá khổng lồ câm lặng. Lớp sơn vàng kiểu kiến trúc thuộc địa Pháp đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ những hàng gạch chỉ đỏ sẫm mủn dần theo năm tháng. Cửa sổ các tầng đều đóng kín bằng những cánh chớp gỗ sơn xanh đã phai màu, bên ngoài đóng thêm những thanh nẹp chéo bằng gỗ thông do ban quản lý công trường gia cố tạm.

Khoa dẫm chân lên lớp lá bàng khô rụng dày trên lối đi lát đá xanh, tiếng vụn vỡ lạo xạo vang lên rành rọt. Anh lia đèn pin dọc theo chân móng ngôi nhà.

Cửa tầng hầm nằm thụt sâu dưới một vòm cuốn bằng gạch trần, thấp hơn mặt sân ba bậc thang xây đá hộc. Đây vốn là lối nhập rượu vang và than sưởi từ thời tòa nhà còn thuộc quyền quản lý của cơ quan ngoại giao trước thập niên chín mươi. Sau nhiều đợt sửa chữa dở dang, khu vực này bị bỏ quên, trở thành nơi chứa các tấm ván khuôn mục nát và vài bao xi măng đóng cục cứng như đá.

Ánh đèn pin rọi thẳng vào cánh cửa sắt dày hai phân. Cánh cửa này mở toang sang bên phải, mép ngoài đập thẳng vào trụ gạch vỡ, để lộ một khoảng tối om hun hút dẫn sâu vào lòng đất.

Từ dưới hầm, một luồng không khí lạnh buốt, tanh nồng mùi bùn đất lâu ngày và hơi ẩm mốc phả thẳng lên mặt Khoa. Mùi tanh này nồng nặc và đặc quánh, khác hẳn mùi ẩm ướt của vôi vữa trên mặt đất.

Khoa bước xuống từng bậc đá hộc, đế giày vải quân nhu gõ cồm cộp lên bề mặt bám rêu trơn trượt. Anh dừng lại cách cánh cửa sắt nửa bước chân, đưa chùm sáng đèn pin quét tỉ mỉ lên then cài và cụm ổ khóa.

Ngay lập tức, đôi mày rậm của người cựu quân nhân nhíu chặt lại.

Thanh then cài bằng thép đặc to bằng hai ngón tay người lớn, vốn được thiết kế để trượt ngang qua một quai sắt chôn sâu vào trụ bê tông. Ban nãy khi ở bốt trực, Khoa đoán thanh then này bị lỏng ốc hoặc bị gió giật bung gờ hãm. Thực tế trước mắt hoàn toàn trái ngược.

Thanh then bằng thép đặc không hề bị cạy bung khớp nối. Bản lề cũng không hề lung lay. Mặt thép dày bị vặn xoắn theo một đường xoắn ốc kỳ quặc, uốn cong ngược một góc bốn mươi lăm độ hướng thẳng từ dưới chân hầm hất ngược lên trên. Vết vặn xoắn còn rất mới, những vảy rỉ sét màu nâu đỏ bong ra rơi lả tả xuống bậc thềm gạch, để lộ phần kim loại sáng ánh xám thép bên trong.

Khoa đưa bàn tay mang găng len thô chạm nhẹ vào phần kim loại bị bẻ cong. Thép lạnh ngắt, cứng đanh. Để vặn một thanh thép dày cỡ này biến dạng thành hình lò xo méo mó, máy móc xây dựng cần một lực kích thủy lực ít nhất vài tấn, hoặc phải nung đỏ thép bằng mỏ hàn hơi rồi dùng đòn bẩy cỡ lớn để bẻ. Nhưng xung quanh đây không có vết muội than của ngọn lửa hàn, không có dấu vết tì đè của xà beng hay kẹp cơ khí lên bờ tường gạch.

Thép bị vặn bằng một lực giật cực mạnh xuất phát từ bên trong lòng hầm, kéo giật ngược về phía sau rồi bẻ gập lên trên.

Khoa đứng thẳng người, ngón trỏ đặt hờ lên thân dùi cui cao su bên hông. Đôi mắt sắc lạnh của người từng canh giữ kho đạn giữa rừng sâu quét sâu vào khoảng tối đen đặc dưới chân cầu thang dẫn xuống hầm.

"Có ai dưới đó không?" Khoa cất giọng, âm thanh trầm vang, dứt khoát rạch ròi từng tiếng.

Tiếng nói của anh va vào những bức tường gạch vòm cuốn dưới lòng đất, dội ngược lại những âm vang đục ngầu, kéo dài rồi tắt lịm. Không có tiếng đáp lại.

Anh lia đèn pin xuống sâu hơn. Cầu thang hầm gồm mười hai bậc bê tông phủ đầy bụi và vụn gạch vỡ. Dưới chân cầu thang, sàn hầm ngập một lớp nước xăm xắp mắt cá chân, đen ngòm và phẳng lặng như gương. Đáy hầm hoàn toàn trống trơn, rải rác vài thanh gỗ mục trôi dạt dồn vào một góc.

Khoa nhìn chằm chằm vào mặt nước phẳng lặng dưới đáy hầm. Nước không hề dao động, không một gợn sóng nhỏ. Nếu có kẻ trộm đột nhập hoặc thợ thuyền lẻn vào trốn trong đó, mặt nước đục ngầu kia chắc chắn phải nổi sóng và để lại dấu vết khuấy động lớp bùn lắng dưới đáy.

Mọi thứ tĩnh lặng đến mức anh có thể nghe rõ tiếng từng giọt nước nhỏ tong tong từ trần hầm bê tông nứt nẻ rơi xuống vũng nước bên dưới.

*Tách... tách...*

Tiếng nước rơi chậm rãi, đều đặn như nhịp gõ của đồng hồ.

Khoa rút cuộn dây thép từ trong túi áo dã chiến ra. Anh lấy chiếc kìm bấm, cắt rời ba đoạn dây thép dài mỗi đoạn chừng nửa mét. Dù trò dọa dẫm này do ai dàn dựng hoặc nguyên nhân cơ học nào gây ra sự biến dạng của then cài, nhiệm vụ của anh là không để cửa ngỏ phòng tuyến bị bỏ ngỏ.

Anh nắm lấy tay cầm cánh cửa sắt, kéo mạnh về vị trí cũ. Cánh cửa nặng trịch rít lên ken két trên bản lề rỉ sét. Khi hai mép cửa khép chặt vào nhau, Khoa luồn những sợi dây thép đôi qua quai sắt chôn tường, quấn chặt lấy thanh then bị cong vẹo. Bằng những động tác dứt khoát và thành thạo, anh dùng mũi kìm xoắn từng vòng thép lại cho đến khi các tao dây siết nghiến vào nhau, ép chặt then sắt vào thành trụ bê tông.

Khoa giật thử cánh cửa hai lần. Dây thép mạ kẽm căng cứng, cánh cửa chỉ rung rinh nhẹ trong phạm vi vài milimét, không thể tự bung ra nếu chỉ chịu tác động của gió bấc hay rung chấn từ đường Kim Mã ngoài kia.

Anh đứng dậy, dùng mũi giày gạt một thanh gỗ thông dài cỡ bắp tay đặt chèn ngang chân bậc tam cấp dẫn xuống hầm, tạo thành một vật cản phụ. Nếu có ai bước xuống hoặc cố đẩy cửa từ bên trong, thanh gỗ này sẽ lập tức phát ra tiếng động cảnh báo.

Xong việc ở cửa tầng hầm, Khoa quay người bước lên sân, hướng thẳng về sảnh chính của tòa nhà.

Đồng hồ đeo tay hiển thị mười một giờ hai mươi lăm phút đêm. Gió ngoài trời dường như mạnh dần lên, thổi hun hút qua những tán xà cừ cổ thụ ven hàng rào sắt, tạo ra những âm thanh ràn rạt như tiếng chổi quét rác khổng lồ miết trên nền gạch.

Sảnh chính của biệt thự 300 Kim Mã được nâng cao hơn mặt đất gần hai mét bởi năm bậc tam cấp bằng đá hoa cương xám nhập khẩu. Bậc đá bị nứt toác vài chỗ, cỏ dại len lỏi qua các khe hở mọc cao đến đầu gối. Hai cây cột tròn theo thức cột Ionic nâng đỡ mái hiên vòm bán nguyệt bên trên, lớp vữa đắp hoa văn phù điêu đã rụng rơi từng mảng, trơ ra khung sắt hoen rỉ bên trong.

Cánh cửa chính làm bằng gỗ lim hai cánh dày cộp, cao gần ba mét, đóng kín mít bằng một thanh then cài ngang to bản bên trong. Khi nhóm công nhân rời đi vào buổi chiều, họ chỉ để hở một cánh cửa ngách nhỏ bằng sắt thép gia công tạm bợ ở phía cánh gà bên phải để bảo vệ đi tuần tra các phòng ốc.

Khoa đi vòng qua hành lang phụ, bước đến trước cửa ngách. Cánh cửa này khóa bằng một ổ khóa đồng Việt Tiệp cỡ lớn. Anh rút chùm chìa khóa từ thắt lưng, chọn đúng chiếc chìa răng cưa tra vào ổ.

*Cạch.*

Tiếng lẫy lò xo bật mở giòn giã trong đêm vắng. Khoa đẩy cánh cửa ngách, nghiêng mình bước vào bên trong sảnh tầng một.

Mùi không khí bên trong tòa biệt thự hoàn toàn khác biệt với bên ngoài sân. Gió bấc bị chặn lại sau những bức tường gạch dày nửa mét, nhường chỗ cho một sự tù đọng, lạnh lẽo và ẩm ướt kỳ lạ. Mùi vôi cũ rữa nát, mùi sơn dầu mốc meo và mùi bụi gỗ mục kết hợp lại thành một thứ mùi ngai ngái, gây cảm giác tức ngực nếu hít thở sâu.

Ánh đèn pin của Khoa rọi khắp đại sảnh.

Nền nhà lát gạch bông hoa văn cổ điển thời Pháp, màu xanh ngọc bích xen lẫn trắng ngà, nhưng phần lớn đã bị phủ một lớp bụi xi măng xám xịt do quá trình cạo trát tường ban ngày để lại. Những dấu giày bảo hộ lao động của nhóm thợ nề in chằng chịt trên sàn, nhưng tất cả đều đã khô cong và phủ bụi mờ. Không có bất kỳ dấu chân mới nào xuất hiện.

Phía góc sảnh, một cầu thang uốn lượn bằng gỗ lim dẫn lên các tầng trên. Bậc thang rộng bản, tay vịn chạm trổ hoa văn tinh xảo nhưng lớp vec-ni đã tróc vảy từng mảng lớn, để lộ thớ gỗ khô ráp xám ngoét.

Khoa đứng yên giữa sảnh lớn, tai lắng nghe từng biến động nhỏ nhất.

Trong căn nhà không có tiếng động nào ngoài tiếng gió luồn qua khe những cánh chớp trên cao và tiếng nước rỉ tí tách đâu đó quanh hệ thống ống thoát nước cũ. Khoa nhìn lên trần nhà cao vút. Những chiếc móc sắt han gỉ từng là nơi treo đèn chùm pha lê nay chỉ còn buông thõng những sợi dây điện bọc cao su trơ trọi.

Tất cả đều bình thường theo tiêu chuẩn của một công trình bỏ hoang lâu năm đang chờ cải tạo. Không có gì bất thường, không có dấu hiệu của kẻ đột nhập, càng không có bóng dáng của những hiện tượng hoang đường mà Thăng đã nắn nót ghi lại trong sổ trực.

Khoa thầm nghĩ về điều cấm kỵ thứ hai trên mẩu giấy: *“Đi tuần bằng đèn pin, nếu thấy bóng mình in trên tường biến thành hai bóng, đứng yên nhắm mắt đếm đủ từ một đến mười rồi quay gót bước lùi ba bước.”*

Anh khẽ lắc đầu, nén một tiếng cười khẩy. Hiện tượng quang học cơ bản ai cũng biết. Khi di chuyển trong một không gian có nhiều nguồn sáng phản xạ, hoặc khi chùm sáng đèn pin hắt qua các mặt kính vỡ, lăng kính chấn song cửa sổ, việc xuất hiện hiện tượng bóng chồng hay bóng phân tách là lẽ tự nhiên. Những người yếu bóng vía, khi bước đi trong đêm tối mịt mùng, nhìn thấy cái bóng của chính mình phân nhánh do góc chiếu thay đổi liền hoảng loạn tưởng tượng ra có người bám đuôi.

Khoa không tin vào những điều huyễn hoặc đó. Bốn mươi lăm năm cuộc đời, từng nằm hầm phục kích giữa rừng le biên giới phía Bắc, từng thức trắng hàng trăm đêm canh giữ những kho đạn nằm sâu trong lòng núi đá vôi, thứ anh tin chỉ có kỷ luật, sự quan sát cẩn trọng và cây dùi cui nắm chắc trong tay.

Anh đưa đèn pin rọi một lượt qua các phòng ở tầng một. Phòng làm việc của các tùy viên ngoại giao cũ, phòng trực văn thư, phòng lưu trữ hồ sơ. Cửa các phòng đều đã bị tháo dỡ để chuẩn bị thay mới, bên trong chỉ trơ lại những đống gạch vỡ và các thanh giằng giáo sắt dựng ngổn ngang. Không có dấu vết của con người lẩn trốn.

Khoa quay lại chân cầu thang gỗ lim.

Mục tiêu tiếp theo trong quy trình tuần tra là tầng hai, nơi ba trí phòng khánh tiết lớn nhất của tòa biệt thự, cũng chính là nơi Thăng nhắc tới trong điều cấm thứ ba: cấm gõ cửa nếu nghe thấy tiếng dương cầm.

Khoa bước lên bậc thang đầu tiên.

Tấm ván gỗ lim dày cộp dưới sức nặng của anh khẽ cựa mình, phát ra tiếng cọt kẹt khô khốc vọng ngược lên vòm trần cao ngất. Âm thanh ấy như một tín hiệu đánh động vào không gian đặc quánh của tòa nhà.

Khoa dừng lại nửa nhịp, mắt hướng thẳng lên khúc quanh của chiếu nghỉ tầng hai. Vệt sáng tròn từ đèn pin quét lên bức tường vôi ố vàng loang lổ những vệt nước mưa ngấm từ mái xuống. Trên mặt tường ẩm mốc ấy, bóng của Khoa in sẫm lại, cao lớn và vững chãi, đổ dài theo từng nấc thang.

Anh hít một hơi thật sâu mùi không khí lạnh ngắt, siết chặt thân đèn pin nhôm trong tay, rồi tiếp tục bước lên những nấc thang tiếp theo, tiến thẳng vào bóng tối của tầng hai.

Chương khác

Xem thêm