Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 3: Hành Lang Gió Lùa

Tiếng gỗ lim dưới đế giày bảo hộ nén xuống một âm thanh đanh gọn. Khoa dừng lại ở chiếu nghỉ tầng hai, đưa quầng sáng vàng từ chiếc đèn pin bọc nhôm quét…

Nội dung chương

Tiếng gỗ lim dưới đế giày bảo hộ nén xuống một âm thanh đanh gọn. Khoa dừng lại ở chiếu nghỉ tầng hai, đưa quầng sáng vàng từ chiếc đèn pin bọc nhôm quét một vòng dọc theo chiều sâu của sảnh đón.

Không gian bên trên thoáng rộng hơn tầng một, nhưng cái lạnh lại sắc buốt hơn hẳn. Toàn bộ hành lang dài gần ba mươi mét chạy dọc theo mặt tiền phía đông của tòa biệt thự, một bên là dãy phòng làm việc cũ kỹ đã tháo dỡ gần hết cánh cửa, bên còn lại là một chuỗi bảy khung cửa sổ kiểu Pháp nối tiếp nhau vươn cao sát trần. Mỗi khung cửa gồm hai lớp: bên trong là cửa kính chia ô chéo, bên ngoài là cửa chớp gỗ sơn màu xanh rêu - thứ màu sơn đặc trưng của những công trình công quyền thời thuộc địa, nay đã rộp lên từng mảng lớn, bong tróc trơ cả thớ gỗ mục màu xám tro.

Gió bấc từ ngoài đường Kim Mã thốc thẳng qua tán cây xà cừ cổ thụ ngoài vườn, đập dồn dập vào mặt ngoài dãy cửa chớp. Những nan gỗ lá sách bị gió rung bần bật, va vào nhau tạo nên chuỗi âm thanh lách cách rợn người, tựa tiếng răng va lập cập giữa cơn sốt rét rừng mà Khoa từng chứng kiến thời còn đóng quân ở vùng biên giới Lạng Sơn.

Khoa bước lên hết bậc thang cuối cùng, đặt chân lên mặt sàn gạch bông hoa văn hình học màu xám lam pha đỏ gạch. Mặt sàn lạnh ngắt truyền thẳng qua lớp đế cao su dày. Anh đưa tay nắn lại quai dùi cui cao su bên hông, ngón tay cái miết nhẹ lên chuôi kim loại để bảo đảm vũ khí phòng thân luôn ở vị trí sẵn sàng rút ra nhanh nhất.

Nhiệm vụ đầu tiên của anh trong lượt tuần tra này là kiểm tra và đóng chặt toàn bộ các cánh cửa chớp. Một công trình đang trong giai đoạn cải tạo thô chứa đầy vật liệu và giàn giáo,

nếu để gió lùa giật bung các khung cửa cổ này thì chỉ cần một trận dông quét qua, toàn bộ kính hoa bên trong sẽ vỡ vụn, kéo theo sự đổ vỡ của những mảng vữa trần thạch cao đã mục ruỗng.

Khoa tiến lại khung cửa sổ đầu tiên, ngay sát lối rẽ cầu thang.

Gió rít qua khe nứt giữa hai cánh cửa chớp, thổi bay một làn bụi vôi trắng mịn bay là là trên mặt bậu cửa sổ bằng đá rửa. Khoa đưa tay nắm lấy then cài bằng sắt tây. Then cài dạng then đẩy truyền thống, gồm một thanh sắt dẹt trượt dọc theo sống cửa, ăn sâu vào ngạnh sắt chôn chặt dưới bậu đá. Anh dùng sức ấn mạnh hai cánh gỗ vào khung bao, kéo thanh then tụt xuống rãnh then.

*Khực.*

Tiếng kim loại rỉ sét cọ sát phát ra một âm sắc khô khốc. Ngạnh sắt cắn sâu vào lỗ khóa bên dưới sàn đá. Khoa giật thử hai lần, cánh cửa đứng im phắc, tiếng rung lắc của nan gỗ lập tức dịu đi. Gió ngoài trời vẫn gầm gào nhưng luồng khí sắc nhọn không còn lọt qua khe hở được nữa.

Khoa chuyển sang khung cửa thứ hai. Khung này nằm cạnh một hốc tường lõm, nơi trước kia từng đặt tượng bán thân của một nhà ngoại giao nào đó, nay chỉ còn lại bệ xi măng trơ trọi bám đầy mạng nhện. Cánh cửa này hé mở khoảng một gang tay, đung đưa theo từng đợt gió rít.

Khoa bước sát mép cửa, nhìn ra bên ngoài qua khe hở.

Khoảng sân bên dưới tối đen như mực. Tán cây xà cừ khổng lồ trồng từ thời Pháp vươn những cành khẳng khiu chĩa thẳng lên trời đêm, bóng cây đổ rạp xuống bãi cỏ hoang tàn ngập lá rụng. Xa hơn một chút, qua bức tường rào bê tông cắm mảnh chai bảo vệ, đường Kim Mã vắng ngắt. Thỉnh thoảng mới có một chiếc xe máy chạy vụt qua, ánh đèn pha quét ngang qua mặt đường ướt rồi biến mất hút vào bóng tối, để lại chuỗi âm thanh động cơ rè rè nhỏ dần.

Khoa thu tầm mắt lại, dùng cả hai tay kéo cánh cửa chớp gỗ nặng nề về phía mình. Lớp sơn xanh rêu bong tróc rơi lả tả xuống mu bàn tay anh. Anh hạ then sắt xuống ngạnh bậu cửa, gài then ngang cẩn thận rồi xoay chốt hãm theo chiều kim đồng hồ. Cửa khóa chặt.

Anh tiếp tục bước về phía khung cửa thứ ba và thứ tư.

Mỗi bước chân của Khoa nện xuống mặt sàn gạch bông đều vang lên rõ ràng, trầm đục. Mùi vôi ẩm, mùi gỗ mục và hơi ẩm từ những mảng tường rêu xanh bốc lên ngai ngái, xộc thẳng vào mũi. Trong một tòa nhà bỏ hoang nhiều năm, thứ mùi này rất quen thuộc, đó là mùi của sự ngưng đọng thời gian, không có hơi ấm sinh hoạt của con người.

Khoa thuần thục đóng tiếp hai khung cửa sổ tiếp theo. Các chốt ngạnh sắt đều đã cũ, rỉ sét bám đỏ quạch, mỗi lần gài then đều đòi hỏi anh phải dùng lực cổ tay giằng thật mạnh. Với sức vóc của một cựu quân nhân từng vác hòm đạn pháo, những thao tác này chẳng tốn bao nhiêu sức lực.

Đến khung cửa thứ tư, toàn bộ nửa đầu hành lang đã trở nên yên tĩnh hơn. Tiếng gió bớt hẳn tiếng gào thét hung hãn, chỉ còn lại âm thanh vi vu trầm trầm lùa qua những ô thông gió trên vòm trần.

Khoa đứng lại giữa hành lang, cúi xuống bấm bật chiếc đồng hồ đeo tay Liên Xô cũ. Ánh dạ quang màu xanh le lói báo mười một giờ hai mươi lăm phút.

Anh định quay người bước tiếp về phía cuối hành lang để xử lý ba cánh cửa còn lại, nơi dẫn thẳng tới cửa ngách của phòng khánh tiết lớn.

Đúng lúc anh vừa xoay gót chân, một âm thanh đanh gọn vang lên ngay sau lưng.

*Cạch.*

Âm thanh kim loại bật khỏi lẫy sắt rất giòn.

Khoa đứng sững lại. Anh không quay đầu ngay mà giữ nguyên tư thế, hạ thấp trọng tâm người theo phản xạ tự nhiên. Hai tai anh căng lên, lọc từng tạp âm của căn nhà trong đêm lạnh.

*Kẽo... kẹt...*

Tiếng bản lề gỗ rỉ sét nghiến vào nhau chầm chậm. Luồng gió lạnh buốt lập tức thốc mạnh vào sau gáy Khoa, mang theo hơi ẩm ướt của sương đêm và mùi ngai ngái của vỏ cây xà cừ mục nát.

Khoa xoay người lại, đưa quầng sáng đèn pin quét thẳng về phía phát ra âm thanh.

Cánh cửa sổ thứ hai, cánh cửa nằm cạnh hốc tường xi măng mà anh vừa dùng sức gài chặt ngạnh sắt cách đây chưa đầy hai phút, hiện đang hé mở toang hoác. Then sắt cài cửa không hề bị gãy, mà nó nằm vểnh lên trên mặt bậu cửa sổ, ở đúng vị trí mở chốt.

Khoa cau mày, bước nhanh lại gần khung cửa.

Anh cầm đèn rọi sát vào ngạnh kim loại. Rãnh khoét dưới bậu đá rửa vẫn nguyên vẹn, không có dấu vết nứt vỡ hay sứt mẻ nào chứng tỏ có một lực mạnh từ ngoài bẻ gãy then. Thanh sắt dẹt đóng vai trò then cài cũng thẳng tắp, không hề cong queo.

Khoa dùng ngón tay đẩy thử thanh then. Nó di chuyển rất nặng tay vì lớp rỉ sét bám dày cộp, phải tốn một lực đẩy dứt khoát thì thanh then mới có thể trượt lên trượt xuống. Gió bên ngoài dù có thổi mạnh đến đâu cũng chỉ tạo ra lực ép ngang vuông góc với cánh cửa, chứ làm sao có thể tạo ra một lực đẩy thẳng đứng từ dưới lên trên để nhấc bổng thanh then ra khỏi hốc đá?

Trừ phi gỗ khung cửa bị co ngót do thời tiết, hoặc chốt hãm lò xo bên trong đã bị chờn ren khiến then tự trượt khi cánh cửa rung lắc.

Khoa tự tìm cho mình một lời giải thích dựa trên cơ sở cơ học. Những căn biệt thự cổ xây từ đầu thế kỷ trước luôn tồn tại độ rơ lớn giữa các cấu kiện gỗ và sắt sau nhiều thập kỷ chịu đựng thời tiết nồm ẩm đặc trưng của Hà Nội.

Anh tì một bên vai vào cánh cửa gỗ, dồn trọng lượng cơ thể ép chặt hai mép cửa khít rịt vào nhau. Lần này, Khoa không chỉ gạt thanh then trượt sâu vào hốc đá dưới bậu cửa, mà anh còn rút chùm chìa khóa bảo vệ từ thắt lưng ra, dùng đầu một chiếc chìa khóa chữ U gài chèn ngang vào khe hở của tay nắm then, tạo thành một chốt chặn cơ học tạm thời.

"Để xem mày bật ra kiểu gì," Khoa lẩm bẩm trong cổ họng.

Anh xoay người, tiếp tục sải bước về phía cuối hành lang.

Lần này, anh đi chậm hơn. Ánh đèn pin quét đều đặn qua từng mét sàn gạch, rọi rõ từng vết nứt chân chim trên tường vôi vàng ệch. Mặt sàn phủ một lớp bụi mỏng. Dấu chân bảo hộ của Khoa in rõ nét trên nền bụi xám, nhưng tuyệt nhiên không có bất kỳ dấu vết nào khác. Không có dấu giày thợ nề, không có dấu chân người lạ lẩn trốn.

Khoa bước đến khung cửa thứ năm và thứ sáu. Anh làm việc một cách dứt khoát, dùng sức khóa chặt hai bộ then sắt. Hai cánh cửa ngoan ngoãn khép lại, cắt đứt hoàn toàn dòng khí lạnh từ khu vườn xà cừ.

Toàn bộ hành lang lúc này gần như kín gió.

Thế nhưng, cảm giác bức bách trong lồng ngực Khoa không hề giảm bớt, ngược lại ngày một nặng nề hơn. Không khí trong hành lang đặc quánh lại, lạnh buốt thấu xương. Hơi thở của anh phả ra thành từng luồng khói trắng mờ lơ lửng trước mặt, trôi lững lờ dưới quầng sáng đèn pin.

Khoa vừa bước được bốn bước về phía khung cửa thứ bảy, khung cửa cuối cùng nằm ở góc chết của hành lang, thì sau lưng anh lại vang lên những tiếng động nối tiếp nhau.

*Cạch.*

Một tiếng.

*Cạch.*

Tiếng thứ hai vang lên ngay sát nút, đanh gọn và dứt khoát.

Sau đó là tiếng bản lề gỗ rên rỉ ken két kéo dài.

Lông tơ sau gáy Khoa dựng đứng lên. Cơ bắp toàn thân anh co cứng lại theo phản xạ chiến đấu. Anh không quay ngoắt lại ngay lập tức mà bình tĩnh lùi một bước về phía sau, lưng áp sát vào vách tường gạch dày để tránh bị đánh lén từ điểm mù, rồi mới từ từ nâng tay cầm đèn pin lên ngang tầm mắt, quét một vòng rộng từ trái sang phải.

Cảnh tượng hiện ra trước mắt khiến hơi thở của người cựu quân nhân nghẹn lại một nhịp.

Không phải một cánh.

Cả khung cửa thứ ba và khung cửa thứ tư mà anh vừa đích thân chốt chặt đều đã mở toang sang hai bên. Hai cánh chớp gỗ đứng im lìm vuông góc với bờ tường, như thể có người vừa dùng tay đẩy nhẹ chúng ra rồi giữ nguyên ở vị trí đón gió.

Thế nhưng, kỳ quái nhất lại là khung cửa thứ hai ở đằng xa.

Cánh cửa thứ hai vẫn khép hờ, nhưng chiếc chìa khóa sắt chữ U mà Khoa dùng để chèn ngang then cài lúc nãy đang nằm lăn lóc trên mặt sàn gạch bông, cách bậu cửa sổ chừng một mét. Chiếc chìa khóa nằm trơ trọi giữa quầng sáng đèn pin, lạnh lẽo và bất động.

Gió ngoài trời lúc này dường như đã lặng đi rất nhiều. Những tán xà cừ ngoài vườn không còn gầm rú dữ dội như lúc anh mới bước lên tầng hai. Vậy mà ba khung cửa sổ lại tự động mở toang một cách trật tự, tuần tự từng cánh một ngay sau mỗi lần anh quay lưng bước đi.

Khoa siết chặt thân đèn pin nhôm đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.

Anh nhớ đến cuốn sổ trực để lại trên bàn gác của Thăng. Nhớ đến ba điều cấm kỵ được viết bằng những nét chữ cào rách mặt giấy. Nhưng trong ba điều đó, Thăng chỉ nhắc đến cửa tầng hầm, cái bóng trên tường và tiếng đàn dương cầm trong phòng khánh tiết. Thăng không hề nói một lời nào về những cánh cửa chớp trên hành lang gió lùa này.

Liệu đây là trò đùa của một kẻ nào đó đang trốn trong tòa nhà?

Khoa hít một hơi thật sâu luồng không khí lạnh ngắt để ổn định nhịp tim. Trải qua bao năm tháng trận mạc, anh hiểu rõ nỗi sợ hãi chỉ sinh ra khi con người ta mất đi sự phán đoán logic. Kẻ địch nguy hiểm nhất luôn là kẻ bằng xương bằng thịt đang ẩn nấp trong bóng tối.

"Ai ở đó?" Khoa cất tiếng hỏi, giọng anh trầm, vang và dứt khoát, dội vào các bức tường vôi mục nát tạo thành chuỗi âm thanh lặp lại: *Ai ở đó... ở đó... đó...*

Không có tiếng người trả lời.

Chỉ có tiếng những giọt nước rỉ tí tách đâu đó từ trần nhà rơi xuống sàn ván gỗ của một căn phòng trống bên cạnh.

Khoa không quay lại đóng ba cánh cửa kia nữa. Anh nhận ra việc làm đó lúc này là vô nghĩa. Thay vào đó, anh quyết định hoàn thành việc kiểm tra khung cửa sổ thứ bảy - cánh cửa cuối cùng nằm ở góc sâu nhất của hành lang tầng hai, ngay sát cạnh bức tường ngăn cách với phòng khánh tiết lớn.

Anh quay người, bước từng bước thận trọng về phía góc tối.

Khung cửa sổ thứ bảy này có thiết kế hơi khác so với sáu khung cửa trước. Nó hẹp hơn, cao hơn, và được lắp đặt lùi sâu vào một vòm cuốn xây bằng gạch chỉ đỏ. Đây là vị trí đón luồng gió xoáy thổi từ khoảng sân sau của biệt thự hắt lên.

Thế nhưng, khi Khoa bước đến gần, anh nhận thấy cánh cửa chớp này đã hé mở sẵn từ bao giờ.

Cánh cửa mở hờ một khe chừng mười phân, để lộ một mảng bóng tối đen ngòm phía ngoài vườn cây. Điều kỳ lạ là dù gió ngoài vườn đã lặng hẳn, không một chiếc lá xà cừ nào lay động, cánh cửa gỗ này vẫn đứng im bất động ở góc mở đó, không hề rung lắc, không một tiếng cót két. Nó như một hàm răng khẽ hé mở trong bóng đêm, chờ đợi một điều gì đó.

Khoa tiến lại gần bậu cửa, đưa luồng sáng đèn pin soi thẳng vào then cài.

Thanh then bằng ngạnh sắt dẹt của cánh cửa thứ bảy này không hề rơi xuống hay tụt khỏi ngạnh. Nó bị kẹt ở lưng chừng rãnh trượt, dường như bị một vật gì đó chèn cứng vào giữa sống sắt và then cài.

Khoa nheo mắt, dí sát đầu đèn pin hơn.

Vật chèn vào then sắt không phải rác rưởi, cũng chẳng phải vôi vữa rơi rụng từ trên vòm cuốn.

Đó là một búi sợi màu đen sẫm.

Khoa đưa bàn tay trái lên, dùng hai ngón tay chạm nhẹ vào búi sợi. Cảm giác mềm mại, trơn tuột và lạnh ngắt truyền thẳng qua da thịt khiến anh khẽ giật mình.

Đó là tóc.

Một lọn tóc dài đen nhánh, dài tới quá thắt lưng, ướt sũng nước mưa. Lọn tóc bị kẹp chặt giữa then sắt và then cài, những sợi tóc đan kết vào nhau dính bết lại bởi bùn đất ẩm ướt và một thứ chất lỏng sền sệt có mùi ngai ngái khó tả, tựa như mùi bùn đáy cống rãnh lâu ngày không được nạo vét.

Khoa ghé sát đèn pin nhìn kỹ hơn. Tóc người thật sự. Từng sợi tóc đen mượt, óng ánh dưới ánh sáng vàng của bóng đèn halogen, nhưng phần chân tóc bị giằng đứt nham nhở, dính theo một mẩu da đầu nhỏ xíu màu trắng bợt đã ngâm nước nhiều giờ.

Lọn tóc này từ đâu ra?

Tại sao một lọn tóc của phụ nữ lại có thể mắc kẹt vào then cài bên trong của một cánh cửa sổ tầng hai trong một tòa biệt thự ngoại giao bỏ hoang, cách mặt đất hơn bốn mét?

Khoa dùng sức giật mạnh lọn tóc ra khỏi khe then sắt.

Những sợi tóc ướt lạnh quấn chặt lấy ngón tay anh, rịn ra một thứ nước nhờn nhợt lạnh buốt đến thấu xương.

Ngay khi sợi tóc cuối cùng vừa rời khỏi then sắt, toàn bộ không gian xung quanh Khoa đột ngột biến đổi.

Tiếng gió rít lùa qua khe cửa sổ từ nãy đến giờ bỗng nhiên ngưng bặt hoàn toàn. Sự tĩnh lặng ập đến nhanh và đột ngột tới mức tạo ra một cảm giác hẫng hụt kỳ quái trong lồng ngực, tựa như áp suất không khí trong toàn bộ hành lang vừa bị rút cạn trong nháy mắt. Không còn tiếng cành xà cừ cọ vào tường gạch. Không còn tiếng nan gỗ va đập lách cách. Đến cả tiếng động cơ xe máy vọng từ đường Kim Mã ngoài xa cũng biến mất không một dấu vết.

Cả tòa biệt thự 300 Kim Mã rơi vào một sự câm lặng tuyệt đối, chết chóc và nặng nề.

Khoa đứng sững bên khung cửa sổ mở hé, lọn tóc ướt vẫn nắm chặt trong lòng bàn tay. Giữa không gian tĩnh mịch đặc quánh ấy, chỉ còn nghe thấy tiếng nhịp thở nặng nhọc của chính anh phả ra làn khói mờ.

Rồi, từ sâu thẳm dưới đại sảnh tầng trệt, xuyên qua các tầng sàn gỗ lim và vòm trần thạch cao nứt nẻ, một âm thanh khô khốc, chậm rãi và nặng trịch bắt đầu vang lên dội ngược lên hành lang.

Chương khác

Xem thêm