Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 6: Nhật Ký Trực Thất Lạc

Ổ khóa con cóc rỉ sét kêu ken két khi chiếc chìa sắt dẹt chọc sâu vào lõi. Khoa ngồi thụp xuống sàn xi măng bốt gác, hai đầu gối ép chặt vào thành bàn…

Nội dung chương

Ổ khóa con cóc rỉ sét kêu ken két khi chiếc chìa sắt dẹt chọc sâu vào lõi.

Khoa ngồi thụp xuống sàn xi măng bốt gác, hai đầu gối ép chặt vào thành bàn làm việc để giữ thăng bằng. Không khí trong căn phòng rộng chưa đầy sáu mét vuông đặc quánh mùi vôi vữa lưu niên, mùi giấy vụn mủn vì ẩm và mùi tanh nồng của kim loại oxy hóa lâu ngày. Chiếc quạt tai voi cũ kỹ gắn trên góc tường đứng bất động, từng mảng sơn xanh tróc vảy để lộ phần lõi đồng bám đầy bụi đen.

Anh vặn mạnh cổ tay. Lò xo bên trong ổ khóa bật nảy một tiếng "tách" khô khốc.

Khoa từ từ kéo ngăn kéo dưới cùng của chiếc tủ sắt Liên Xô ra ngoài. Rãnh trượt sắt cọ xát vào nhau, nhả ra một vệt mạt sắt đỏ quạch rơi lả tả xuống mu bàn chân anh. Chiếc ngăn kéo trĩu nặng, chứa ngổn ngang những tập tài liệu kẹp bìa các-tông xám xịt, mép giấy quăn queo, mục nát từng mảng do nước mưa tạt qua khe cửa sổ suốt nhiều năm tháng bỏ hoang.

Khoa với tay lấy cốc trà đặc trên bàn. Nước trà móc câu hãm từ sáu giờ chiều nay đã nguội ngắt, bề mặt đóng một lớp màng váng mỏng màu xám tro. Anh hớp một ngụm lớn, vị chát đắng gắt ghê cổ họng xộc thẳng lên cuống mũi, kéo lại chút tỉnh táo cho hệ thần kinh đang căng như dây đàn.

Đặt chiếc cốc nhựa xuống góc bàn, Khoa bê toàn bộ xấp tài liệu ẩm ướt lên mặt gỗ dán.

Ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn sợi đốt treo lơ lửng trên trần bốt gác tỏa xuống những trang giấy ngả màu cháo lòng. Đây là toàn bộ hồ sơ bàn giao, biên bản hiện trạng mặt bằng và nhật ký trực bảo vệ của biệt thự 300 Kim Mã qua các thời kỳ, kéo dài từ giai đoạn cuối thập niên 1980 cho đến khi dự án cải tạo gần nhất bị dừng đột ngột vào cuối năm ngoái.

Khoa lật giở từng tập bằng những đầu ngón tay thô ráp. Bụi giấy mốc bay lên làm anh hắt hơi một tiếng ngắn. Trên đầu ngón tay anh, vệt mạt gạch đỏ từ mảng tường bị cào nát ở tầng hai vẫn còn bám chặt dưới kẽ móng, nhắc nhở rằng những va chạm thể xác với căn nhà này là sự thật trần trụi.

Tập hồ sơ đầu tiên là danh sách bàn giao trang thiết bị văn phòng ngoại giao lập năm 1989. Chữ đánh máy bằng máy chữ cơ cũ kỹ, mực đen in hằn sâu vào thớ giấy giáp thô, nhiều chỗ thủng lỗ chỗ vì con dấu búa đập quá mạnh. Các hạng mục đều rất bình thường: bàn trà gỗ gụ, tủ tài liệu ba buồng, gương đồng phòng khách, thảm len dệt tay...

Khoa lật tiếp sang cuốn sổ nhật ký trực của tổ bảo vệ thuộc công ty dịch vụ công ích giai đoạn 1991 - 1994.

Bìa sổ bọc bằng vải bạt quân nhu đã bạc màu, gáy sổ được khâu tay bằng chỉ dù to bản. Khoa mở trang đầu tiên. Nét chữ viết tay bằng bút máy Hồng Hà đều đặn, nắn nót ghi lại lịch trình tuần tra theo ca:

"Ngày 12 tháng 10 năm 1991. Ca 1: Bình thường. Ca 2: Đèn đường Kim Mã mất điện từ 21 giờ. Có tiếng mèo hoang kêu sau vườn chuối. Ca 3: Kiểm tra cổng chính, khóa xích nguyên vẹn."

Ngày 18 tháng 11 năm 1991. Ca 3. Đồng chí Thắng báo cáo có tiếng gõ cửa sổ phòng khánh tiết tầng hai lúc 2 giờ sáng. Đã lên kiểm tra. Chốt cửa cài trong, không phát hiện người lạ.

Các trang nhật ký tiếp theo vẫn duy trì giọng văn hành chính khô khốc của những người lính chuyển ngành hoặc công nhân bảo vệ nhà nước. Thế nhưng, khi lật đến giữa năm 1992, tần suất của những dòng ghi chú bất thường bắt đầu dày đặc.

Ngày 04 tháng 5 năm 1992. Ca 3. Đồng hồ cây ở gầm cầu thang tự đổ chuông lúc nửa đêm. Đã tháo quả lắc và rút dây tạ từ tháng trước. Nhưng chuông vẫn điểm đủ mười hai tiếng. Đề nghị ban quản lý cho chuyển chiếc đồng hồ đi nơi khác."

Phía dưới dòng ghi chú đó là một vết gạch xóa mạnh bạo bằng mực đỏ, kèm theo chữ ký phê duyệt của tổ trưởng: "Yêu cầu tập trung chuyên môn, không hoang mang, không tuyên truyền mê tín."

Khoa nheo mắt, đưa ngón tay miết dọc theo dòng mực đỏ đã phai thành màu cánh gián. Kinh nghiệm nhiều năm chỉ huy tiểu đội trinh sát biên phòng mách bảo anh rằng cấp trên của tổ bảo vệ khi đó đang cố tình bịt miệng cấp dưới. Một phản xạ quản lý hành chính quen thuộc khi xuất hiện những biến số không thể giải thích bằng quy chuẩn thông thường.

Anh lật tiếp sang các trang năm 1993.

Đến giai đoạn này, nét chữ trong sổ không còn đều đặn nữa. Mực bút máy chuyển từ xanh đen sang mực tím nhòe nhoẹt, nét chữ nghiêng ngả, run rẩy, lực ấn bút lúc nông lúc sâu làm rách toạc cả thớ giấy ẩm. Nhiều đoạn văn bị bôi đen đặc quánh như thể người viết vừa hạ bút xong liền vội vã muốn xóa sạch dấu vết tư duy của chính mình.

Khoa lần giở danh sách nhân sự trực gác được kẹp ở bìa sau của cuốn sổ. Anh đối chiếu từng cái tên với cột ghi chú tình trạng công tác bên cạnh. Một luồng ớn lạnh bắt đầu chạy dọc từ đốt sống lưng lên gáy anh.

Đinh Văn Thắng - chuyển công tác tháng 12/1991 (ghi chú phụ: điều trị thần kinh tại Bệnh viện Mai Hương).

Lê Ngọc Hùng - tự ý bỏ chốt gác đêm 14/02/1992 (ghi chú phụ: gia đình báo mất tích sau ba ngày).

Trần Quốc Toản - xin thôi việc tháng 08/1992 (ghi chú phụ: chấn thương sọ não do ngã cầu thang xoắn ốc).

Nguyễn Gia Định - thôi việc tháng 11/1993 (ghi chú phụ: phát hiện đi lang thang ngoài hồ Thủ Lệ trong tình trạng mất trí nhớ).

Bốn cái tên liên tiếp. Bốn con người khác nhau, cùng trực ca đêm tại một địa điểm, đều chịu chung những kết cục dị thường chỉ trong vòng chưa đầy hai năm.

Khoa ngồi thẳng lưng, hai vai căng cứng. Anh từng trải qua những đêm phục kích giữa rừng sâu Tây Bắc, từng đối mặt với họng súng của những toán buôn lậu thuốc phiện liều mạng xuyên biên giới. Anh hiểu rõ nỗi sợ hãi của con người trước cái chết. Nhưng danh sách trước mặt anh không phản ánh một mối hiểm họa có hình thù cụ thể. Nó giống như một bản thống kê tổn thất vô hình, nơi từng người lính gác lần lượt bị nghiền nát tâm trí mà không hề có dấu vết của tiếng súng hay đòn cận chiến.

Gió bên ngoài rào sắt thốc mạnh hơn.

Tán cây xà cừ cổ thụ trước cổng số 300 nghiêng ngả. Cành khô cọ vào mái tôn bốt gác. Chuỗi âm thanh ken két chói tai vang lên giữa đêm. Trên mặt đường Kim Mã, một chuyến xe buýt đêm muộn chạy qua gầm rú xé tan màn mưa phùn, ánh đèn pha quét qua khung kính bốt gác, rọi bóng Khoa đổ dài, méo mó lên bức tường quét vôi vàng sứt sẹo.

Khoa lật tiếp sang phần nhật ký của tháng 12 năm 1993.

Đến đây, các trang giấy bị xé rời khỏi gáy chỉ một cách thô bạo. Vết xé nham nhở, kéo rách cả một phần lề sổ bọc bạt. Kẻ nào đó đã dùng tay giật phăng ít nhất chục trang ghi chép của toàn bộ mùa đông năm đó.

Khoa lật từng mẩu giấy vụn còn sót lại sát chân chỉ khâu. Anh đưa đèn pin sát mặt bàn, rọi chùm sáng trắng tập trung vào một góc giấy rách hình tam giác còn sót lại ở trang ghi ngày 21 tháng 12 năm 1993.

Mẩu giấy ẩm mốc, mép viền đã chuyển sang màu đen sì do nấm mốc ăn mòn thớ sợi cellulose. Trên góc giấy sót lại ấy, một đoạn chữ viết vội bằng mực tím bị nước ngấm làm nhòe nhoẹt đường viền. Nét chữ nghuệch ngoạc, cào xước mặt giấy với một lực ấn khủng khiếp, như thể người viết đang dùng hết chút tàn lực cuối cùng trước khi bị kéo giật ra khỏi bàn làm việc:

Chúng không ở ngoài vào. Chúng trồi lên từ căn hầm dưới đáy phòng tiệc.

Chỉ một dòng duy nhất.

Phía dưới dòng chữ đó là một vệt mực kéo dài ngoằn ngoèo xé toạc mép giấy, giống hệt dấu vết của một ngòi bút máy bị giật mạnh khỏi tay người cầm theo phương ngang.

Khoa ngồi sững sờ. Mắt anh dán chặt vào từng chữ mực tím nhòe nhoẹt.

Chúng không ở ngoài vào, chúng trồi lên từ căn hầm dưới đáy phòng tiệc.

Khoa đứng lặng, mặt tái xám.

Dưới đáy phòng tiệc.

Phòng khánh tiết lớn ở tầng một của căn biệt thự, nơi có sàn gỗ lim đắt tiền và lò sưởi giả kiểu Pháp, nằm ngay phía trên hệ thống hầm ngầm kỹ thuật của toàn bộ tòa nhà. Căn hầm ấy có lối dẫn xuống thông qua một cánh cửa sắt nặng nề nằm ở góc chết dưới chân cầu thang phụ phía sau khu bếp.

Khoa nhắm mắt lại, tái hiện toàn bộ sơ đồ kiến trúc của khối nhà chính trong đầu.

Một căn biệt thự ba tầng xây dựng từ thời thuộc địa, tường chịu lực dày bốn mươi phân, móng bè sâu dưới lòng đất để chống lún trên nền đất trũng Ba Đình. Nếu cấu trúc ngầm đó bị rỗng, nếu có một khoảng không gian bị bọc kín bên dưới lớp sàn bê tông và dầm thép...

Tiếng bước chân trễ nửa nhịp lúc nãy trên tầng hai. Mùi tử khí bốc ra từ vệt nước ố hình người trên trần thạch cao. Bức tường bị cào nát trơ lõi gạch chỉ đỏ.

Tất cả các hiện tượng đó không phải là những vụ đột nhập cơ học từ tường rào bên ngoài hay từ mái nhà xuống. Lời cảnh báo của người tiền nhiệm ba mươi mốt năm trước đập thẳng vào tâm trí anh một sự thật lạnh lẽo: trung tâm phát tán của sự bất thường nằm ở bên dưới. Nằm sâu dưới lòng đất, ngay dưới những phiến đá hoa cương và sàn gỗ lim mục ải.

Khoa cúi đầu nhìn xuống chiếc đồng hồ cơ đeo ở cổ tay trái.

Mặt kính đồng hồ quân đội phủ dạ quang phản chiếu ánh sáng lân tinh màu xanh lục mờ nhạt. Kim giờ chỉ gần sát mốc số mười một. Kim phút đang nhích dần qua mốc bốn mươi lăm.

22 giờ 45 phút.

Một cơ chế điểm giờ cơ học bên trong chiếc đồng hồ rung lên một nhịp ngắn trên cổ tay anh, phát ra âm thanh vo vo trầm đục tiếp xúc trực tiếp với xương khớp.

Mười lăm phút nữa là chạm ngưỡng 23 giờ.

Thời khắc thực thi quy tắc đầu tiên đang đến gần từng phút.

Quy tắc thứ nhất: Khóa chặt cửa tầng hầm sau 23h.

Lời dặn của người gác ca trước khi bàn giao chốt gác vang lên rõ mồn một bên tai Khoa, khô khốc và dứt khoát như một mệnh lệnh quân sự trước giờ nổ súng. Người đó không giải thích lý do, chỉ giao cho anh một chùm chìa khóa có chiếc chìa hình chữ U bằng đồng thau đen đúa và bảo rằng nếu kim đồng hồ điểm 23 giờ 01 phút mà then cài cửa hầm chưa sập ngàm, thì ca trực coi như chấm dứt.

Khoa đứng bật dậy. Chiếc ghế xoay bằng nỉ rách kêu cọt kẹt dưới sức bật của cơ thể anh.

Anh gấp cuốn sổ trực bọc bạt lại, nhét vội vào túi trong của chiếc áo khoác dã chiến dày cộp, kéo khóa kín đến tận cằm. Bàn tay anh với lấy chiếc đèn pin nhôm siêu sáng cỡ lớn và cây dùi cui điện trên bàn. Anh kiểm tra chốt an toàn của dùi cui, tiếng tạch tạch của tia lửa điện phóng qua hai đầu cực kim loại lóe lên một vệt sáng xanh le lói trong bốt gác tối tăm.

Khoa thọc tay vào túi quần, lôi chùm chìa khóa cơ khí nặng trịch ra ngoài. Ngón tay trỏ của anh móc chính xác vào chiếc chìa bằng đồng thau có khắc ba rãnh khuyết sâu hoắm - chiếc chìa dành riêng cho ổ khóa treo nặng hai cân rưỡi chốt cánh cửa sắt tầng hầm.

Gió đêm Ba Đình lúc này bỗng ngừng bặt.

Sự tĩnh lặng kỳ quái ập xuống khoảng sân gạch mọc đầy rêu của biệt thự 300 Kim Mã. Tiếng xe cộ ngoài ngã tư Liễu Giai bị một bức tường vô hình ngăn cách. Âm thanh ấy không còn lọt qua nổi rặng xà cừ cổ thụ.

Khoa bước tới mép cửa bốt gác, đặt tay lên then chốt sắt. Qua ô kính mờ hơi nước, khối nhà biệt thự kiểu Pháp sừng sững đứng đè lên nền trời đêm u ám như một khối bê tông khổng lồ đang nín thở. Toàn bộ các ô cửa sổ tầng hai tối đen như những hốc mắt rỗng tuếch, nhìn chằm chằm xuống khoảng sân nơi anh chuẩn bị bước qua.

Khoa hít sâu một hơi không khí lạnh buốt, gạt then cửa sắt, đẩy cửa bước thẳng vào màn đêm.

Chương khác

Xem thêm