Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 9: Hai Chiếc Bóng Trên Tường

Hơi lạnh mùa đông tràn qua những chấn song sắt ngoài cổng lớn, quét một dải sương muối buốt giá dọc theo vỉa hè phố Kim Mã. Đèn cao áp vàng vọt của khu…

Nội dung chương

Hơi lạnh mùa đông tràn qua những chấn song sắt ngoài cổng lớn, quét một dải sương muối buốt giá dọc theo vỉa hè phố Kim Mã. Đèn cao áp vàng vọt của khu ngoại giao đoàn hắt bóng những cây xà cừ cổ thụ in dài trên mặt đường nhựa vắng tanh, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe máy chạy vụt qua rồi mất hút về hướng Liễu Giai.

Trong bốt gác sáu mét vuông, Nguyễn Hữu Khoa nghiêng chiếc phích Rạng Đông bọc sắt, cẩn thận chắt dòng nước sôi sùng sục vào chiếc ấm tích bằng gốm Bát Tràng. Nước nóng làm dậy lên mùi chè Thái Nguyên sao suốt đặc quánh, vị chát đắng quen thuộc tràn ngập căn phòng nhỏ. Anh nhấp một ngụm lớn, để chất nước nóng ran trượt qua cuống họng, xua đi cảm giác tê dại đang chực chờ đóng băng hai cánh mũi.

Cổ tay trái của anh vẫn được quấn ba vòng băng thun y tế. Dưới lớp gạc tiệt trùng, bốn vết rách đã se miệng nhưng vùng da xung quanh vẫn giữ một màu tím tái nhạt nhòa, thỉnh thoảng lại nhói lên một cơn buốt buốt mỗi khi gió bấc đập mạnh vào then cửa sổ. Mười năm phục vụ trong quân đội, từng đóng quân ở những kho hậu cần heo hút miền biên viễn giúp Khoa duy trì một thói quen bất di bất dịch: bình thản kiểm soát thân nhiệt và nhịp thở trước khi bước vào ca trực dài.

Anh đặt chén chè xuống mặt bàn gỗ tạp, đưa mắt nhìn chiếc đồng hồ Liên Xô Poljot cũ trên cổ tay phải. Mười một giờ mười lăm phút đêm.

Khoa vặn thử công tắc đèn tuýp trên trần bốt gác. Bóng đèn nhấp nháy hai lần rồi tắt ngúm. Lệnh cắt điện phụ tải cục bộ của bên điện lực để sửa chữa trạm biến áp đã có hiệu lực từ đầu giờ tối. Căn nhà số 300 Kim Mã và toàn bộ khuôn viên xung quanh giờ đây chìm hoàn toàn vào bóng tối đặc quánh, tách biệt hẳn với dải sáng yếu ớt của hệ thống đèn đường ngoài phố.

Anh đứng dậy, chỉnh lại chiếc thắt lưng da bộ đội, cài chặt nút chiếc áo dã chiến màu cỏ úa. Đèn pin ba pin đại loại vỏ nhôm cầm chắc trên tay phải, bên hông là chiếc dùi cui cao su cứng dài bốn mươi phân. Tác phong nhà binh rèn cho anh tính cẩn trọng tuyệt đối, không có chỗ cho sự cẩu thả hay hoảng loạn vô cớ. Nếu có thứ gì đó tồn tại bên trong khối biệt thự này, nó cũng phải tuân theo những giới hạn vật lý nhất định, và nhiệm vụ của anh là ghi nhận, đối mặt, bảo vệ phạm vi công trình được giao phó.

Khoa mở cửa bốt gác, bước ra khoảng sân lát đá xẻ.

Gió đêm mùa đông Ba Đình rít qua những tán lá rậm rạp, tạo thành những tiếng u u kéo dài như tiếng còi tàu từ xa vọng lại. Căn biệt thự ba tầng kiểu Pháp cổ đứng sừng sững trên nền trời xám đục, khối kiến trúc bê tông đồ sộ mang phong cách thuộc địa cuối thập niên 1930 với những đường gờ phào rêu phong nứt nẻ chạy dọc mái hiên. Những mảng sơn vàng nhạt đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ lớp gạch chỉ nung đỏ sẫm bên dưới, trông giống như những vết thương hở miệng qua hàng chục năm dầm mưa dãi nắng.

Anh bước lên các bậc tam cấp dẫn vào tiền sảnh. Đế giày vải bạt dã chiến gõ cồm cộp trên nền đá hoa cương xám xịt.

Cánh cửa gỗ lim nặng trịch mở hé một khoảng vừa đủ một người lách qua. Khi bước vào bên trong đại sảnh, không khí đột ngột đổi khác. Cái lạnh ngoài trời mang tính chất hanh khô của gió mùa đông bắc, còn cái lạnh bên trong sảnh chính lại ẩm ướt, mang theo mùi vôi vữa mục rữa và hơi ẩm lưu cữu từ lòng đất bốc lên. Mùi bùn tanh từ hôm trước đã tan bớt, nhưng mùi ẩm mốc của giấy tờ và gỗ ngâm thì vẫn bám chặt lấy từng thớ tường.

Khoa bật đèn pin. Luồng ánh sáng vàng đặc rọi một vệt dài qua sảnh lớn, quét qua chiếc đồng hồ quả lắc câm lặng dưới gầm cầu thang xoắn ốc. Hai chiếc kim sắt đen đúa vẫn dán chặt vào vị trí mười hai giờ, không nhúc nhích dù chỉ nửa milimét.

Anh không đi thẳng lên các tầng trên. Mục tiêu của Khoa trong đêm nay là căn phòng hành chính cũ nằm ở góc khuất phía tây tầng trệt, nơi từng là văn phòng lưu trữ hồ sơ bàn giao của các đoàn ngoại giao trước khi tòa nhà bị bỏ hoang hoàn toàn. Từ lúc tiếp nhận ca trực ở căn nhà này, những quy tắc sống còn mà người tiền nhiệm để lại luôn là một dấu hỏi lớn. Căn biệt thự này từng là một cơ sở ngoại giao tầm cỡ, có vị trí đắc địa giữa trung tâm thủ đô, vậy lý do thực sự nào khiến nó bị bỏ phế hơn ba mươi năm qua mà không một cơ quan hay cá nhân nào dám sử dụng lâu dài?

Khoa rẽ vào hành lang phụ bên cánh trái. Hành lang hẹp, trần nhà đúc vòm cuốn kiểu La Mã, hai bên tường có những hốc đặt tượng nhỏ nhưng bên trong đều trống không. Tiếng gió từ sân sau luồn qua một ô kính vỡ ở cuối hành lang tạo nên tiếng rít the the chói tai.

Anh dừng lại trước một cánh cửa gỗ dán hai cánh, bên trên có gắn một tấm biển bằng đồng nhỏ đã xỉn màu: "Văn phòng Lưu trữ - Archive".

Khóa cửa là loại ổ khóa then trượt kiểu Pháp cũ kỹ, đã han rỉ nghiêm trọng. Khoa dùng tay lay nhẹ, then sắt trượt ra một cách dễ dàng, kéo theo tiếng kim loại cọ xát ken két khô khốc vang vọng trong không gian tĩnh mịch. Anh đẩy cửa bước vào.

Bụi bặm tích tụ hàng chục năm bốc lên sặc sụa. Căn phòng rộng chừng hai mươi mét vuông, cửa sổ chớp gỗ nhìn ra bức tường rào ngăn cách với khu tập thể phía sau đã bị đóng đinh cố định từ lâu. Dọc theo hai bên tường là những dãy tủ sắt bốn ngăn sơn màu xám nhạt kiểu Tiệp Khắc, lớp sơn bên ngoài đã nổ rộp như da cóc. Ở giữa phòng kê một chiếc bàn làm việc bằng gỗ sồi chân tiện tròn, trên mặt bàn phủ một lớp bụi xám dày cả đốt ngón tay.

Khoa tiến lại gần dãy tủ sắt. Anh dùng vạt áo dã chiến lau sạch một góc mặt kính của chiếc tủ hồ sơ thấp nhất. Bên trong chất đầy những tập hồ sơ bằng bìa các-tông vàng úa, gáy buộc dây gai mục mủn.

Anh nắm lấy tay cầm ngăn kéo thứ hai, kéo mạnh. Ngăn kéo sắt kẹt cứng vì rỉ sét. Khoa rút con dao nhíp từ túi quần, lựa mũi thép cạy sâu vào khe chốt rồi dùng sức bẩy mạnh một cái.

*Rắc.*

Khối kim loại rỉ sét chịu thua trước lực đòn bẩy. Ngăn kéo trượt ra ngoài cùng một đám bụi mốc bay tung tóe. Khoa cẩn thận soi đèn pin vào bên trong.

Đó là những tập tài liệu bàn giao từ thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, thời điểm khối Đông Âu tan rã và việc quản lý bất động sản ngoại giao tại Hà Nội có nhiều xáo trộn. Giấy tờ đều là loại giấy Bãi Bằng thời bao cấp, mỏng manh và xơ xác, mép giấy đã bị gián và mọt nhấm nham nhở.

Khoa lật từng tập hồ sơ bằng đầu ngón tay trần. Hầu hết là các văn bản hành chính thông thường: danh mục kiểm kê bàn ghế gỗ gụ, biên bản bàn giao đường dây điện thoại hữu tuyến, danh sách nhân viên phục vụ người Việt, công văn xin cấp kinh phí sơn sửa tường rào. Không có gì bất thường trong các con số và con dấu đỏ đã phai màu.

Anh tiếp tục bới sâu vào đáy ngăn kéo. Ngay dưới một tập bản vẽ thiết kế hệ thống cấp thoát nước bị ố vàng loang lổ, bàn tay anh chạm vào một vật cứng hình chữ nhật bọc bìa cứng màu xanh công nhân.

Khoa nhấc cuốn sổ ra ngoài, đặt lên mặt bàn gỗ sồi.

Đó là một cuốn sổ nhật ký bảo vệ khổ A4, loại kẻ ô ly thường dùng cho các cơ quan hành chính thời trước. Bìa sổ dán một nhãn giấy kẻ khung hoa văn hình quả trám, bên trên có dòng chữ viết bằng bút máy mực xanh đen: "Nhật ký Trực ban Bảo vệ Ngoại giao - Biệt thự 300 Kim Mã - Bắt đầu: 01/01/1993 - Kết thúc: 31/12/1993".

Năm 1993. Đó chính là năm cuối cùng căn biệt thự này còn có sự hiện diện của một tổ chức ngoại giao trước khi cửa chính bị niêm phong bằng dây cáp thép và bỏ mặc cho rêu phong nuốt chửng suốt ba thập kỷ.

Khoa ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ lim duy nhất còn nguyên vẹn trong phòng, đặt cây đèn pin đứng thẳng trên mặt bàn để ánh sáng hắt lên trần rồi tỏa ngược xuống trang giấy. Anh cẩn thận lật bìa trước của cuốn sổ.

Mùi giấy mốc nồng nặc bốc lên khoang mũi. Các trang đầu ghi chép ca trực rất quy củ, nét chữ nắn nót, mực xanh đều đặn:

"Ngày 15/01/1993. Ca 1: Nguyễn Văn Bình. Tình hình an ninh trật tự khu vực ổn định. Đoàn khách phái viên đến làm việc lúc 14 giờ, rời đi lúc 17 giờ 30. Không có hiện tượng nghi vấn."

"Ngày 22/03/1993. Ca 3: Trần Đình Quý. Trực từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau. Mưa phùn gió bấc. Kiểm tra hệ thống khóa cổng, khóa hầm lúc 23 giờ đều an toàn. Có tiếng mèo chạy trên mái ngói khu nhà phụ."

Những dòng nhật ký diễn ra đều đặn, phẳng lặng như nhịp sống hành chính thời bao cấp. Nhưng khi Khoa lật đến những trang tháng Chín năm 1993, nét chữ bắt đầu có sự biến chuyển rõ rệt. Nét bút không còn nắn nót mà trở nên run rẩy, gãy khúc, khoảng cách giữa các dòng thụt thò thất thường.

"Ngày 18/09/1993. Ca 3: Trần Đình Quý. 0 giờ 30 phút. Khu vực phòng khánh tiết tầng hai lại phát ra âm thanh. Báo cáo đồng chí tổ trưởng kiểm tra thì phòng vẫn khóa niêm phong từ bên ngoài. Không thể là tiếng chuột cống. Rõ ràng là âm thanh kim loại va đập và tiếng gỗ co ngót."

"Ngày 05/10/1993. Ca 3: Nguyễn Văn Bình. Đội thợ sơn từ chối tiếp tục cạo vôi vữa hành lang tầng hai. Họ nói rằng ban đêm có mùi nước thải hôi thối bốc lên từ các khe tường gạch, dù hệ thống cống đã được tẩy trùng bằng vôi bột hai lần. Đề nghị cấp trên cho kiểm tra lại bản vẽ nền móng cũ của Pháp."

Khoa nheo mắt, lật nhanh qua các trang tiếp theo. Sự bất ổn trong tổ bảo vệ hiện lên ngày một rõ ràng qua từng trang giấy. Đến tháng Mười Một, số lượng nhân viên trực ca đêm giảm hẳn. Nhiều ca trực chỉ có một người nhận phiên gác, kèm theo những dòng ghi chép ngắn ngủi đầy sự căng thẳng.

Anh dừng lại ở trang ghi ngày 14 tháng 12 năm 1993.

Trang giấy này khác hẳn những trang trước. Nó không được viết bằng mực xanh hay bút bi thông thường, mà được viết bằng mực tím Cửu Long loại đậm, nét bút cày sâu xuống mặt giấy đến mức làm rách cả thớ bột gỗ mỏng manh.

Phần đầu trang ghi tên người trực: "Ca 3: Trần Đình Quý - Nguyễn Văn Bình (vắng mặt không lý do)".

Bên dưới là một đoạn ghi chép dài, nhưng phần lớn các câu chữ đã bị một cây bút bi mực đỏ gạch nát bét bằng những đường ngoằn ngoèo bạo lực, như thể ai đó trong cơn kinh hoàng tột độ đã cố gắng xóa sạch những gì vừa được viết ra. Vết mực đỏ đè lên mực tím tạo thành những vệt tím đen nhờn nhợt, giống hệt màu vết thương trên cổ tay của Khoa.

Khoa ghé sát mặt xuống trang giấy, soi thẳng luồng sáng hội tụ của đèn pin vào từng nét chữ bị gạch xóa. Bằng kinh nghiệm đọc bản đồ quân sự và giải mã văn thư tác chiến, anh lần tìm những nét chữ còn sót lại dưới lớp mực đỏ cào xước.

"...Lúc 23 giờ 45 phút... tôi đi tuần tra từ tầng trệt lên tầng hai để kiểm tra chốt cửa sổ hướng ra vườn xà cừ... Cầu thang xoắn ốc bằng gỗ lim có mười chín bậc, đó là con số tôi vẫn đếm mỗi đêm suốt sáu tháng qua..."

Bàn tay cầm đèn pin của Khoa khẽ siết lại.

Nét chữ tím phía dưới run rẩy hơn, các con chữ dạt sang một bên mép giấy:

"...Nhưng khi bước đến bậc thứ mười chín, chân tôi vẫn chưa chạm đến chiếu nghỉ hành lang. Phía trước vẫn còn một bậc thang nữa... Tôi bước tiếp... mười chín... hai mươi... hai mươi mốt... Bậc thang cứ kéo dài mãi trong bóng tối dù tôi đã đi qua khỏi chiều cao của trần tầng một..."

Một đoạn dài bị gạch xóa hoàn toàn bằng mực đỏ đậm đặc, không thể đọc nổi. Nhưng ở góc dưới cùng của trang nhật ký, người viết đã dùng đầu ngòi bút ấn mạnh đến mức thủng cả mặt giấy bên dưới, để lại một dòng cảnh báo viết tay nguệch ngoạc:

*"Đừng đếm số bậc cầu thang sau 0 giờ. Nếu đếm, cầu thang sẽ không bao giờ dẫn lên tầng trên nữa."*

Dòng chữ bị cào rách nham nhở, nhưng nội dung thì rõ ràng từng nét. Bên cạnh dòng chữ đó là một vết ố tròn màu nâu sẫm đã khô giòn qua năm tháng, hình dáng giống như một giọt máu nhỏ rơi thẳng xuống mặt giấy ô ly.

Đó là mục ghi chép cuối cùng của cuốn sổ. Tất cả các trang giấy phía sau đều bị xé toạc ra khỏi gáy sổ một cách thô bạo, chỉ trơ lại những mép giấy nham nhở dính bụi đen.

Khoa đóng sầm cuốn sổ nhật ký lại. Âm thanh khô khốc của bìa các-tông va vào mặt bàn gỗ dội thẳng vào bốn bức tường phòng lưu trữ rồi tắt ngấm.

Một cơn gió bấc mạnh đột ngột quất thẳng vào cánh cửa chớp gỗ của căn phòng, làm các bản lề rỉ sét rung lên bần bật. Tiếng rít qua khe cửa nghe giống như một hơi thở dài bị bóp nghẹt.

Anh nhìn đồng hồ Poljot trên cổ tay.

Mười một giờ năm mươi phút đêm. Chỉ còn mười phút nữa là ca trực chạm vào mốc 0 giờ định mệnh.

Khoa nhét cuốn sổ nhật ký cũ vào túi trong của áo dã chiến, cài chặt cúc bấm kim loại trước ngực. Anh cầm chắc cây đèn pin, tay kia nắm chặt chuôi dùi cui cao su, bước dứt khoát ra khỏi phòng lưu trữ. Tác phong nhà binh không cho phép anh lùi bước hay giam mình trong một căn phòng cụt. Cửa phòng khánh tiết tầng hai và chiếc cầu thang xoắn ốc dẫn lên các tầng trên vẫn đang nằm trong lộ trình tuần tra bắt buộc của ca trực đêm nay.

Khi bước chân anh trở lại đại sảnh chính, toàn bộ không gian của căn nhà dường như đang co cụm lại trong một sự im lặng nặng nề. Gió bên ngoài vườn xà cừ đột ngột lặng ngắt, không còn tiếng lá cây xào xạc hay tiếng còi xe vọng lại từ ngã tư Liễu Giai.

Chỉ còn tiếng tích tắc khô khốc, chậm rãi, phát ra từ một điểm vô định nào đó trên những bậc cầu thang xoắn ốc đang chìm sâu trong bóng tối.

Chương khác

Xem thêm