Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 8: Ranh Giới Rạn Nứt

Sáu giờ ba mươi phút sáng, tiếng còi xe buýt từ ngã tư Kim Mã giao với Liễu Giai dội qua rặng xà cừ, xé tan bầu không khí đặc quánh tồn đọng suốt đêm…

Nội dung chương

Sáu giờ ba mươi phút sáng, tiếng còi xe buýt từ ngã tư Kim Mã giao với Liễu Giai dội qua rặng xà cừ, xé tan bầu không khí đặc quánh tồn đọng suốt đêm dài.

Ánh sáng ban ngày của một buổi sáng mùa đông Hà Nội tràn xuống khoảng sân gạch mọc đầy rêu xanh. Bầu trời xám xịt màu chì, treo lơ lửng trên những ngọn cây cổ thụ rụng gần hết lá. Khối nhà số 300 Kim Mã hiện ra dưới ánh ban mai bằng vẻ trơ trọi, cũ kỹ của một công trình ngoại giao thời Pháp thuộc bị bỏ rơi ba thập kỷ. Lớp vữa màu vàng mù tạt trên các mảng tường ngoài bong tróc từng mảng lớn, để lộ những hàng gạch chỉ đỏ sẫm đã xỉn màu vì mưa nắng và rêu mốc.

Nguyễn Hữu Khoa ngồi bên chiếc bàn gỗ ép trong bốt gác, ngón tay cái bên phải miết nhẹ quanh mép băng thun y tế quấn quanh cổ tay trái.

Dưới lớp gạc tiệt trùng, bốn lỗ thủng do những khúc xương cụt cào rách đêm qua vẫn giật từng cơn theo nhịp đập của mạch máu. Cảm giác buốt lạnh chạy dọc từ mu bàn tay lên tận cùi chỏ. Dù anh đã đổ cồn đỏ và rắc bột kháng sinh, phần thịt xung quanh vết rách vẫn mang một màu tím tái bất thường, lạnh ngắt khi chạm vào. Khoa nâng ấm nước nhôm đun sôi bằng bếp điện may-so, rót một dòng nước nóng bốc khói nghi ngút vào chiếc ca sắt tráng men.

Anh hãm một nắm chè búp Thái Nguyên thật đặc. Hơi trà nóng bốc lên phả vào mặt, mang theo vị chát đắng quen thuộc giúp xua bớt cơn buồn nôn dai dẳng đang đè nặng lồng ngực. Khoa uống cạn nửa ca nước chè, vị đắng gắt thấm vào cuống họng, kéo sự tỉnh táo trở về hệ thần kinh sau một đêm căng thẳng tột cùng.

Anh là một cựu quân nhân từng giữ kho quân sự vùng biên giới, được huấn luyện để nhìn nhận mọi hiểm họa bằng con mắt thực nghiệm. Đêm qua, sự hoảng loạn và bóng tối đã đẩy tâm trí anh vào những liên tưởng ma quái. Giờ đây, khi ánh mặt trời rọi rõ từng vết rạn trên tường vôi, Khoa quyết định kiểm tra lại toàn bộ sự việc bằng tư duy tác chiến.

Mọi hiện tượng phá hoại, dù tinh vi đến đâu, đều phải để lại dấu vết cơ học.

Khoa với lấy chiếc đèn pin nhôm cỡ lớn, cài cây dùi cui điện vào thắt lưng da, cầm thêm một chiếc thước dây kim loại loại năm mét cùng cuốn sổ ghi chép bảo vệ. Anh đẩy cửa bốt gác, bước ra khoảng sân ẩm ướt. Gió bấc thổi từng cơn qua cổng sắt, cuốn theo bụi đường và lá khô xào xạc dưới đế giày ghệt.

Khoa bắt đầu khảo sát từ hàng rào sắt bao quanh khuôn viên.

Căn biệt thự này nằm trên một khu đất rộng hàng nghìn mét vuông, được bao bọc bởi tường rạch dày hai mươi phân cao ngang ngực, phía trên cắm những chông sắt nhọn hoắt uốn hoa văn kiểu Pháp. Anh đi chậm rãi men theo chân tường rào giáp mặt đường Kim Mã, mắt quét sát từng đoạn dây thép gai rỉ sét được giăng thêm bên trên. Không có đoạn chông sắt nào bị cưa đứt. Lớp rêu bám trên mặt bờ tường bê tông vẫn nguyên vẹn, không có vết cọ quẹt của đế giày leo trèo hay vết xước do móc sắt kéo qua.

Khoa chuyển hướng sang bức tường phía Tây, nơi tiếp giáp với ngõ nhỏ và các hộ dân xung quanh. Mấy bụi chuối dại và dây leo mọc um tùm phủ kín mép tường rào. Anh dùng đầu gậy dùi cui gạt từng vạt lá mục dưới đất, tìm kiếm dấu chân của kẻ đột nhập.

Đất mùn ẩm ướt sau trận mưa phùn đêm trước mềm như bột, nếu có người trưởng thành nặng trên sáu mươi cân nhảy từ ngoài vào, mặt đất chắc chắn phải lún sâu ít nhất hai phân. Thế nhưng, ngoại trừ những vệt giun đùn và lá mục phân hủy, mặt đất hoàn toàn phẳng lặng.

Khuôn viên bên ngoài hoàn toàn cô lập. Kẻ đột nhập không đi qua rào chắn.

Khoa quay trở lại khu vực chân móng của khối nhà chính. Căn biệt thự được thiết kế theo lối kiến trúc biệt thự nhiệt đới đầu thế kỷ hai mươi, có hệ thống chân móng xây đá hộc nhô cao hơn mặt đất gần một mét nhằm chống ẩm và tạo khoảng đệm thông gió cho sàn tầng một.

Dọc theo chân móng là các ô cửa sổ sắt nhỏ hẹp dẫn gió xuống khu vực hầm ngầm. Mỗi ô cửa chỉ rộng chừng ba mươi phân, cao hai mươi phân, được chặn bằng ba thanh thép đặc phi mười sáu hàn chết vào khung gang đúc.

Khoa quỳ một chân xuống nền gạch, rọi luồng ánh sáng trắng từ cây đèn pin vào từng hốc thông gió.

Những thanh thép rỉ sét đóng thành từng mảng vảy dày cộp vì hơi ẩm bốc lên từ lòng đất. Mạng nhện phủ kín các kẽ sắt, bám đầy xác ruồi muỗi chết khô. Khoa đưa bàn tay lành lặn nắm lấy một thanh thép, dùng hết sức giật mạnh. Khung gang rung lên một tiếng trầm đục liên kết chặt chẽ với khối đá hộc của móng nhà, không hề có dấu hiệu bị nới lỏng hay cắt đứt rồi gắn keo ngụy trang.

Bên trong các ô thoáng đó, một mùi bùn thối rữa nồng nặc phả ra ngoài theo từng cơn gió luồn. Thứ mùi này giống hệt thứ khí độc tanh tưởi thoát ra từ cánh cửa sắt dưới chân cầu thang phụ đêm qua, thứ mùi mà Khoa tin chắc chỉ có thể sinh ra từ đáy những hố chôn sâu không bao giờ thấy ánh sáng mặt trời.

Cửa hầm ngầm cơ học đã bị khóa chặt lúc 23 giờ. Nếu các ô thông gió này không bị phá, thì thứ cố gắng trồi lên vào lúc nửa đêm không thể thoát ra ngoài sân bằng đường móng bè.

Khoa đứng dậy, phủi lớp bụi bám trên đầu gối quần dã chiến. Anh ngẩng đầu nhìn lên các tầng cao của tòa nhà.

Biệt thự có hai tầng nổi và một tầng áp mái lợp ngói vảy cá sẫm màu. Mặt trước tòa nhà có một ban công lớn ở tầng hai với lan can con tiện bằng gốm tráng men xanh, đã nứt vỡ nhiều đoạn. Mặt bên hướng Nam đối diện với rặng xà cừ có bốn ô cửa sổ lớn bằng gỗ lim chớp nghiêng, bên trong là lớp cửa kính khung gỗ hai cánh.

Khi mắt Khoa dừng lại ở ô cửa sổ góc phía Đông của tầng hai - căn phòng nằm ngay phía trên sảnh khánh tiết lớn - anh khựng lại.

Cánh cửa sổ bằng gỗ lim bên ngoài đang khép hờ, nhưng góc dưới của cánh bên phải bị vênh ra một khoảng chừng mười lăm phân, để lộ một khe hở tối om vào bên trong căn phòng.

Khoa nheo mắt quan sát kỹ hơn.

Ô cửa sổ đó nằm ở độ cao hơn bốn mét so với mặt sân gạch. Bức tường phía dưới ô cửa trơn tuột, phủ một lớp rêu phong xanh thẫm trơn trượt không tì vết. Không có ống thoát nước mưa bằng gang nào chạy qua khu vực đó. Cành xà cừ gần nhất vươn ra cũng cách bệ cửa sổ tới hơn ba mét, quá xa để một người có thể đu bám nhảy sang mà không rơi xuống gãy xương.

Khoa quay vào bốt gác, xách ra chiếc thang nhôm rút đa năng của đội thợ sửa chữa bỏ lại trong góc sân. Anh kéo thang dài ra mức tối đa, đặt đế cao su vững chắc lên nền sân gạch, dựng đầu thang tựa vào gờ chỉ bê tông ngay dưới bệ cửa sổ tầng hai.

Khớp xương cổ tay anh nhói lên một cơn đau dữ dội khi các ngón tay bám vào gióng thang nhôm. Khoa cắn răng, dồn trọng lượng vào cánh tay phải và hai chân, từng bước leo lên độ cao bốn mét.

Gió trên cao thổi mạnh hơn, mang theo mùi ngói ẩm và bụi đường Kim Mã. Khi mặt anh ngang bằng với bệ cửa sổ bằng đá hoa cương, mùi bùn ướt thối rữa lại xộc thẳng vào mũi.

Khoa bám chắc một tay vào gióng thang, tay kia với chiếc đèn pin rọi thẳng vào then cửa sổ bị vênh.

Những gì hiện ra trước mắt khiến toàn bộ kinh nghiệm quân ngũ của anh bị đảo lộn.

Cụm then cài cửa sổ bằng đồng thau dày dặn, loại phụ kiện nhập khẩu từ Pháp thời thuộc địa chuyên dùng cho các công trình công sở kiên cố, đã bị phá hủy hoàn toàn. Thanh cài bằng đồng đặc to bằng ngón tay cái người lớn bị vặn xoắn thành một góc một trăm tám mươi độ, kim loại bị xé rách theo thớ ngang, để lộ những vết gãy lởm chởm ánh lên sắc vàng đục của hợp kim đồng cũ.

Lực tác động lên thanh cài này diễn ra từ phía bên ngoài.

Một vật thể nào đó đã luồn qua khe hở của cửa chớp, bám vào thanh cài và dùng một lực vặn xoắn cực đại theo chiều kim đồng hồ để bẻ gãy chốt hãm. Trên bề mặt kim loại không có bất kỳ vết xước sắc nhọn nào của lưỡi cưa sắt, xà beng hay kìm cộng lực thủy lực. Thay vào đó, trên lớp rỉ đồng xanh xám bám dày quanh ổ khóa là những vết hằn sâu hoắm, tròn trịa và gồ ghề, mang hình dạng khớp xương của bàn tay người.

Lực bóp để làm biến dạng một khối đồng thau đặc dày hai phân như thế này vượt xa giới hạn cơ học của cơ bắp con người. Để tạo ra độ xoắn xé rách kim loại như vậy, người ta cần đến một chiếc máy ép thủy lực công nghiệp nặng hàng tấn.

Thế nhưng, kẻ tạo ra vết phá hủy này đã đứng ở đâu?

Khoa nhìn xuống bệ cửa sổ bằng đá hoa cương bên dưới.

Mặt đá phủ một lớp bụi mịn tích tụ qua nhiều năm tháng, lẫn với lá mục khô giòn. Trên bề mặt đó, hoàn toàn không có vết cào của móng sắt leo núi, không có dấu giày cao su trượt ngã. Phía dưới bệ đá là bức tường thẳng đứng phủ đầy rêu trơn, lớp rêu vẫn bám chặt vào vữa vôi, không hề có một vệt cọ xát nào cho thấy có vật thể bám víu leo lên từ mặt đất.

Vật thể ấy lơ lửng giữa không trung. Độ cao bốn mét. Nó bẻ gãy thanh then cài cửa sổ.

Một cơn ớn lạnh bò dọc sống lưng Khoa giữa ánh sáng ban ngày chói chang. Sự việc đã vượt xa ranh giới của những vụ trộm cắp vật tư công trình hay sự quấy rối của đám thanh niên vô lại ngoài đường.

Khoa rọi luồng sáng đèn pin vào sâu hơn trong khe then gãy.

Giữa hai ngàm kim loại bị xé toạc, có một vật thể lạ đang mắc kẹt lại.

Khoa rút chiếc nhíp thép y tế trong túi áo dã chiến ra, cẩn thận gắp vật thể đó ra khỏi khe hở.

Đó là một chiếc cúc áo bằng kim loại đặc, đường kính khoảng hai phân rưỡi. Mặt cúc phủ một lớp bùn đen quánh dẻo đã khô lại một nửa, bốc ra thứ mùi tanh nồng kinh tởm giống hệt thứ dịch rỉ ra từ cổ tay anh.

Khoa dùng vạt áo ngoài lau sạch lớp bùn bám trên bề mặt kim loại.

Dưới ánh sáng ban ngày, chiếc cúc áo ánh lên một màu đồng thau mạ vàng đã xỉn đen vì chôn vùi lâu năm dưới lòng đất. Trên mặt cúc đúc nổi một hình mỏ neo quấn quanh bởi hai nhánh ô liu - biểu tượng đặc trưng của quân phục nghi lễ ngoại giao thuộc địa của Pháp vào những năm 1940 và 1950.

Phía sau chân cúc vẫn còn kẹt lại vài sợi chỉ len màu xanh tím than bị xé đứt nham nhở. Những sợi chỉ này đã mục ải đến mức chỉ cần Khoa chạm nhẹ đầu nhíp, chúng liền mủn ra thành những mẩu vụn đen sì rơi lả tả xuống mặt bệ đá.

Chiếc khuy áo này thuộc về một bộ lễ phục đã mục nát từ nhiều thập kỷ trước.

Khoa nắm chặt chiếc cúc áo bằng đồng trong lòng bàn tay. Kim loại lạnh ngắt truyền qua lớp da thịt, mang lại cảm giác tê buốt quen thuộc. Dấu vết này xác nhận một điều trần trụi: những hiện tượng trong căn biệt thự 300 Kim Mã không phải là những ảo giác tâm thần do áp lực ca đêm gây ra. Có một thực thể mang hình hài vật chất đang vận động bên trong và bên ngoài khối nhà, một thực thể mang theo dấu vết của bùn đất sâu và lịch sử đen tối của căn biệt thự ngoại giao này.

Khoa gấp chiếc nhíp lại, nhét chiếc cúc áo vào một chiếc túi ni lông nhỏ rút từ túi quần rồi cất cẩn thận vào túi ngực áo dã chiến. Anh cẩn thận leo từng bước xuống thang nhôm, thu gọn thang lại rồi vác về dựng bên hiên bốt gác.

Tiếng rè rè quen thuộc phát ra từ chiếc đài bán dẫn chạy pin đặt trên bàn trực của anh.

Khoa bước vào phòng bảo vệ, với tay vặn to núm âm lượng của chiếc đài Sony cũ kỹ. Giọng phát thanh viên của Đài Tiếng nói Việt Nam vang lên đều đặn giữa không gian tĩnh mịch:

Bản tin dự báo thời tiết khẩn cấp trưa nay. Một vùng áp thấp nhiệt đới trên vùng biển phía Đông Bắc quần đảo Hoàng Sa đã mạnh lên thành bão. Đây là cơn bão số chín trong năm. Tâm bão đang di chuyển nhanh theo hướng Tây Tây Bắc, dự kiến sẽ đổ bộ trực tiếp vào các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ vào đêm nay..."

Tiếng rè rè ngắt quãng vì sóng yếu, rồi giọng phát thanh viên tiếp tục:

Khu vực Hà Nội từ chiều tối nay sẽ có mưa to đến rất to. Gió giật cấp bảy, cấp tám. Để bảo đảm an toàn cho hệ thống lưới điện trong điều kiện ngập úng cục bộ,

Công ty Điện lực Ba Đình thông báo sẽ tiến hành cắt điện toàn bộ khu vực phụ tải. Khu vực cắt điện dọc tuyến đường Kim Mã, Vạn Bảo và Liễu Giai. Cắt điện bắt đầu từ hai mươi mốt giờ tối nay cho đến khi bão tan."

Cắt điện toàn khu. Mưa bão lớn đổ bộ trong đêm.

Khoa đứng sững bên bàn làm việc, ánh mắt nhìn trân trân vào màng loa của chiếc đài bán dẫn.

Anh nhìn ra ngoài cửa sổ bốt gác. Bầu trời Hà Nội lúc này đang sẫm màu lại rất nhanh. Những đám mây đen nặng trĩu hơi nước từ phía Đông Bắc đang cuồn cuộn kéo về, che khuất chút ánh sáng ban ngày le lói cuối cùng của khu Ba Đình. Gió bấc bắt đầu rít lên qua những khe cửa sổ bốt gác, mang theo hơi lạnh buốt giá và mùi ẩm ướt của một cơn giông lớn sắp ập xuống.

Khoa bước ra khỏi bốt gác, tiến vào đại sảnh của căn biệt thự chính.

Cánh cửa gỗ lim nặng nề mở toang đón gió. Sảnh chính chìm trong một thứ bóng tối lờ nhờ của buổi chiều tà đến sớm. Chiếc đồng hồ quả lắc dưới chân cầu thang vẫn câm bặt, hai chiếc kim sắt đen đúa vẫn chỉ thẳng vào con số mười hai định mệnh.

Khoa dừng bước trước chân cầu thang xoắn ốc bằng sắt đúc uốn lượn dẫn lên các tầng trên.

Mùi tử khí và hơi ẩm mốc từ trên cao dội xuống từng đợt lạnh buốt. Phía trên cùng của cầu thang, nơi dẫn thẳng lên tầng áp mái, bóng tối dày đặc nuốt chửng toàn bộ các bậc thang bằng gỗ lim. Những dải mạng nhện khổng lồ bám đầy bụi đen rủ xuống từ lan can sắt, khẽ đung đưa theo từng đợt gió lùa luồn qua các ô cửa kính vỡ.

Căn biệt thự đang nín thở chờ đợi.

Cánh cửa sắt dưới đáy hầm đã bị kén khóa đêm qua, nhưng chốt cửa sổ tầng hai đã bị vặn gãy từ bên ngoài. Ranh giới mong manh giữa thế giới của sự sống ngoài ngã tư Kim Mã và thứ tồn tại mục rữa bên trong khối nhà này đang rạn nứt từng giờ.

Khoa ngước nhìn cầu thang xoắn ốc dẫn lên tầng áp mái phủ đầy mạng nhện, ý thức được căn nhà đang chuẩn bị nghênh đón một đêm mưa bão cắt điện toàn khu.

Chương khác

Xem thêm