Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 7: Kén Khóa Lúc 23 Giờ

Khoa rảo bước qua khoảng sân gạch rêu phong, gót giày bảo hộ nện xuống nền đất ẩm những tiếng cộp cộp khô khốc. Gió đêm Ba Đình quét qua những tán xà cừ…

Nội dung chương

Khoa rảo bước qua khoảng sân gạch rêu phong, gót giày bảo hộ nện xuống nền đất ẩm những tiếng cộp cộp khô khốc. Gió đêm Ba Đình quét qua những tán xà cừ cổ thụ ven đường Kim Mã, làm rụng xuống từng cụm lá vàng úa giòn tan. Mặt sân trơn trượt sau những ngày nồm ẩm kéo dài, hơi sương bốc lên từ các kẽ nứt của lớp xi măng tạo thành làn khói mỏng là là ngang tầm mắt cá chân. Anh giữ chặt cây đèn pin nhôm cỡ lớn trong tay phải, từng khớp ngón tay siết chặt vào thân kim loại gồ ghề.

Mặt kính đồng hồ quân đội phản chiếu ánh dạ quang mờ đục: 22 giờ 47 phút.

Mười ba phút còn lại để hoàn thành mệnh lệnh sống còn đầu tiên. Lời dặn dò của người trực ca trước vẫn ghim chặt trong đầu anh: nếu kim đồng hồ điểm qua mốc 23 giờ 00 phút mà then cài cửa hầm chưa sập ngàm, ca trực coi như chấm dứt.

Khoa bước qua thềm tam cấp của tòa biệt thự. Anh đứng trước cánh cửa gỗ lim hai cánh. Cửa chính khép hờ. Khe hở để lộ một khe tối. Khe ấy dẫn thẳng vào đại sảnh. Anh đẩy nhẹ mép gỗ.

Bản lề rỉ sét phát ra tiếng cọ xát rợn người. Tiếng cọ xát vang giữa đêm khuya vắng lặng. Luồng không khí đặc quánh mùi vôi ẩm ùa ra. Mùi bụi mốc và gỗ mục phả thẳng vào mặt Khoa. Khoa hít sâu một hơi, nén chặt lồng ngực rồi lách người vào bên trong, tiện tay kéo mép cửa gỗ khép lại sau lưng nhằm ngăn gió lùa từ ngoài sân.

Đại sảnh tầng một chìm hoàn toàn trong bóng tối nhờ nhờ. Chiếc đồng hồ quả lắc dưới gầm cầu thang xoắn ốc vẫn đứng im lìm ở mốc mười hai giờ đêm, con lắc bằng đồng bất động giữa hai vách gỗ sồi. Vết nước nhờn màu nâu đen chảy dài từ mặt kính xuống chân số sáu đã đặc quánh lại, phản chiếu ánh đèn pin thành một vệt sáng bóng nhẫy giống như váng mỡ.

Khoa không nhìn lên mảng ố hình người trên trần thạch cao. Anh biết rõ sự tò mò vô ích sẽ làm tiêu hao sự tập trung của một người lính. Thay vào đó, anh rọi luồng sáng cực mạnh của đèn pin xuống sàn đá hoa cương, xác định phương hướng di chuyển.

Lối dẫn xuống căn hầm kỹ thuật nằm khuất ở phía sau khu vực bếp phụ, bên dưới một cầu thang hẹp bằng đá xẻ dùng cho người hầu thời thuộc địa. Khu vực này nằm chếch về góc tây nam của tòa nhà, ngay dưới sàn của phòng khánh tiết lớn.

Khoa bước nhanh qua dãy hành lang tầng trệt. Những bức tường sơn vàng đã bong tróc từng mảng lớn, trơ ra lớp gạch chỉ đỏ sẫm màu. Dọc đường đi, mùi ẩm mốc ngày càng nồng nặc hơn, xen lẫn một thứ mùi tanh lợm của kim loại gỉ và đất ẩm lâu năm bị giam hãm dưới lòng đất.

22 giờ 50 phút.

Anh đến cửa ngách dẫn vào khu bếp cũ. Gian phòng này rộng khoảng ba mươi mét vuông, gạch lát sàn màu vàng nhạt đã nứt vỡ nhiều chỗ, để lộ lớp vữa xám xịt. Những chiếc kệ bếp bằng gang đúc trơ trọi, bàn đá xẻ dài áp sát góc tường phủ một lớp bụi dày cả đốt ngón tay. Ở góc trong cùng, sau một cánh cửa gỗ dán đã mục nát một nửa, một cầu thang bằng đá dốc đứng cắm thẳng xuống lòng đất tối om.

Khoa dừng lại ở bậc thềm đầu tiên, rọi đèn pin xuống dưới.

Chùm sáng trắng cắt ngang màn đêm đặc quánh, soi rõ mười hai bậc đá hẹp, bề mặt phủ một lớp rêu đen nhẫy ướt nước. Càng xuống sâu, không khí càng lạnh buốt. Luồng gió từ dưới đáy hầm thốc ngược lên mặt anh mang theo thứ hàn khí kỳ dị, lạnh thấu xương tủy, làm từng sợi lông tơ trên cánh tay anh dựng đứng. Đó là cái lạnh không thuộc về mùa đông Hà Nội, một thứ nhiệt độ âm u tích tụ từ những khoảng không gian bị cô lập suốt nửa thế kỷ.

Khoa hít một hơi dài, cơ bụng siết chặt theo thói quen chiến đấu. Mười hai năm phục vụ trong các đơn vị quản lý kho quân sự vùng biên giới phía Bắc rèn cho anh phản xạ kiểm soát nhịp tim trong các tình huống hiểm nghèo. Sợ hãi là một phản ứng sinh học bình thường của cơ thể trước hiểm họa; nhưng để nỗi sợ chi phối hành động là bản án tử hình đối với một người lính gác.

Anh đặt chân xuống bậc đá thứ nhất. Đế giày bảo hộ ma sát với lớp rêu nhớt, phát ra tiếng lạo xạo nhỏ.

Bậc thứ hai. Bậc thứ ba.

Cứ mỗi bước hạ thấp trọng tâm, Khoa lại cảm nhận rõ sự thay đổi của áp suất không khí. Tai anh hơi lùng bùng, tựa hồ vừa lặn xuống một vùng nước sâu. Luồng ánh sáng từ cây đèn pin nhôm run rẩy quét qua hai bên tường đá hộc gồ ghề. Những phiến đá xanh ghép lại với nhau bằng vữa vôi cát thời Pháp, mạch vữa đã mủn ra rơi lả tả xuống chân tường. Trên bề mặt đá ướt sũng, những giọt nước đọng lại thành chuỗi dài, đen đặc và nhớt quánh, chảy ròng ròng xuống rãnh thoát nước hẹp dọc chân cầu thang.

Bậc thứ tám.

Khoa nhìn thấy cánh cửa sắt của căn hầm.

Cánh cửa nằm ở chiếu nghỉ cuối cùng của cầu thang, cao chừng hai mét, rộng hơn một mét, được chế tác từ một tấm thép rèn nguyên khối dày ít nhất ba phân. Bề mặt cửa phủ một lớp sơn chống rỉ màu nâu đỏ đã phồng rộp, lấm tấm những mảng vảy sắt bong tróc như vảy rắn. Cửa được gắn chặt vào khung vòm cuốn bằng đá hộc thông qua bốn bản lề chốt tán to bản bằng nắm tay.

Điều khiến Khoa lập tức căng cứng toàn bộ cơ bắp là cánh cửa này đang hé mở.

Nó không đóng khít vào khung đá. Giữa mép cửa kim loại và ngàm giữ bằng thép trên tường tồn tại một khe hở rộng chừng một gang tay. Bên trong khe hở đó là bóng tối tuyệt đối, một màu đen sâu hoắm nuốt trọn mọi tia sáng hắt vào từ cây đèn pin nhôm.

Khoa đưa cổ tay trái lên ngang mặt.

22 giờ 54 phút.

Còn đúng sáu phút.

Anh bước xuống bậc đá cuối cùng, bàn chân chạm vào vũng nước nông đọng ở chân cầu thang. Tiếng nước lõm bõm vang vọng vào bên trong vòm hầm, tạo ra những âm vang méo mó, trầm đục, như thể không gian bên dưới rộng lớn hơn rất nhiều so với sơ đồ của một căn hầm kỹ thuật thông thường.

Khoa giắt cây dùi cui điện vào đai lưng, chuyển cây đèn pin sang tay trái để giải phóng tay thuận. Anh thọc tay vào túi áo dã chiến, móc chùm chìa khóa cơ khí nặng trịch ra ngoài. Chiếc chìa bằng đồng thau đen đúa hình chữ U phát ra tiếng va chạm leng keng lanh lảnh giữa sự tĩnh lặng chết chóc.

Trên cánh cửa sắt, cơ chế then cài thời Pháp thuộc lộ rõ dưới ánh đèn pin. Đó là một thanh xà sắt đặc dài gần một mét, trượt trên ba giá đỡ bằng thép tán đinh vào thân cửa. Khi gạt then sang phải, đầu thanh xà sẽ cắm sâu vào một ngàm khóa âm tường được đục thẳng vào khối đá hộc chịu lực. Sau đó, một chiếc ổ khóa treo bằng đồng thau nặng hơn hai cân sẽ móc xuyên qua lỗ khóa trên ngàm giữ, cố định toàn bộ hệ thống then cài thành một khối bất di bất dịch.

Khoa đặt bàn tay phải lên mép cửa sắt. Bề mặt kim loại lạnh ngắt như một tảng băng vừa vớt lên từ đáy giếng sâu, cái lạnh truyền qua lớp găng tay sợi len thô ráp, làm tê dại các đầu ngón tay anh.

Anh dùng sức kéo cánh cửa về phía mình để chuẩn bị khép chặt.

Cánh cửa nặng khủng khiếp. Bản lề sắt gỉ sét cọ vào trục ngõng phát ra một tiếng rít chói tai xé toạc không gian ngầm:

*Kítttt... két...*

Cánh cửa chỉ nhúc nhích được khoảng ba phân rồi dừng khựng lại, như thể có một lực cản vô hình hoặc một chướng ngại vật phía bên trong đang chặn đứng chuyển động của khối sắt.

Khoa cau mày, rọi đèn pin qua khe cửa hở.

Chùm sáng mạnh quét xuyên qua khe nứt, nhưng chỉ nhìn thấy một khoảng trống rỗng. Bên trong không có bậc thang nào tiếp nối, chỉ có một mặt phẳng tráng xi măng đen ngòm trải dài ra xa tít tắp, ẩm ướt và phủ đầy những lớp bùn lỏng. Mùi tử khí bốc lên từ khe cửa nồng nặc đến mức khiến cổ họng Khoa co thắt dữ dội, dạ dày anh cuộn lên từng cơn buồn nôn. Đó là mùi của bùn đáy sông pha lẫn xác động vật phân hủy lâu ngày trong môi trường thiếu dưỡng khí.

22 giờ 56 phút.

Thời gian trôi qua với tốc độ tàn nhẫn. Nhịp kim giây bên trong chiếc đồng hồ cơ gõ lách tách đều đặn trên cổ tay anh, âm thanh nhỏ bé nhưng nặng nề như tiếng gõ của búa tạ vào đe sắt.

Khoa dồn trọng tâm về chân sau, tì cả bả vai phải vào mép cửa sắt, dồn toàn bộ sức mạnh cơ bắp của một cựu quân nhân vào cú đẩy.

Khép lại!

Anh gằn giọng qua kẽ răng.

*Kẹt... rắc...*

Cánh cửa sắt nặng nề chuyển động thêm một tấc. Khớp xương bả vai của Khoa phát ra tiếng lục cục dưới áp lực cực lớn. Rỉ sét từ bản lề rơi lả tả xuống vai áo dã chiến của anh thành những mảng bột đỏ vụn. Khe hở giữa cánh cửa và khung đá thu hẹp dần, từ một gang tay xuống còn khoảng bốn đốt ngón tay.

Gió từ bên trong hầm đột nhiên rít lên qua khe hẹp. Âm thanh nghe như tiếng thở dài nghẹn ứ của hàng chục con người đang chen chúc dưới đáy sâu, một âm thanh ẩm ướt, đứt quãng và đầy oán hận.

Khoa không dừng lại. Anh biết rõ quy tắc thời gian không có chỗ cho sự do dự. Anh co chân phải lên, lấy đà đạp mạnh đế giày bảo hộ vào gờ mép ngoài của cánh cửa, đồng thời hai tay nắm chặt tay nắm sắt giật mạnh về phía khung tường.

*Rầm!*

Cánh cửa sắt ép sát vào gờ khung đá. Khe hở thu lại chỉ còn một kẽ nứt mảnh chừng hai phân, vừa đủ để luồng gió buốt buốt rít qua kẽ hở.

Khoa buông tay khỏi mép cửa, nhanh chóng nhấc thanh then sắt đặc dài một mét lên. Thanh sắt han rỉ nặng trịch trong tay anh. Anh tra đầu then vào rãnh trượt, chuẩn bị đẩy thẳng nó vào ngàm khóa âm tường.

Mặt đồng hồ nhấp nháy ánh dạ quang.

22 giờ 59 phút.

Kim phút đã chạm sát vào vạch phân định cuối cùng trước mốc 23 giờ. Chỉ cần ba mươi giây nữa, bánh răng cơ học sẽ nhảy sang chu kỳ mới.

Khoa dồn lực vào hai cánh tay, đẩy mạnh thanh then sắt trượt sang bên phải.

*Xoẹt...*

Đầu thanh xà sắt vừa chạm vào miệng ngàm giữ trên tường đá thì một sự biến động dữ dội xảy ra.

Từ trong khe nứt hẹp hai phân của cánh cửa sắt, năm ngón tay xám ngoét thò vút ra ngoài.

Đó là một bàn tay gầy guộc đến mức da bọc sát xương, các khớp ngón tay khẳng khiu vặn vẹo như những cành củi khô ngâm nước lâu ngày. Lớp da trên mu bàn tay có màu xám tro của tử thi, tróc lở từng mảng rỉ máu đen đặc, các đầu ngón tay không có móng mà chỉ là những khúc xương cụt nhọn hoắt dính đầy bùn ướt.

Bàn tay ma quái đó chộp thẳng vào cổ tay trái của Khoa - nơi đang giữ chiếc đèn pin soi vào ngàm khóa.

*Xèo!*

Một cơn đau buốt thấu tận tủy xương bùng nổ trên da thịt anh. Cảm giác không phải là sự va chạm vật lý thông thường, mà giống như có một tảng băng khô âm hàng chục độ áp thẳng vào mạch máu. Lớp vải của tay áo dã chiến lập tức đông cứng lại thành một mảng giòn vụn, hơi lạnh xuyên thấu qua lớp da, đông cứng các mao mạch và ghim chặt vào khớp xương cổ tay anh.

Khoa rít lên một tiếng đau đớn qua hai hàm răng nghiến chặt.

Chiếc đèn pin nhôm trượt khỏi những ngón tay đang mất dần cảm giác của anh, rơi xuống vũng nước dưới chân phát ra một tiếng bõm. Luồng sáng trắng hắt ngược từ dưới mặt nước lên trần vòm đá, tạo ra những bóng đen chao đảo quái dị trên tường.

Lực bấu của bàn tay xám ngoét mạnh đến mức không tưởng. Những mấu xương cụt cắm ngập vào da thịt cổ tay anh, kéo giật cánh tay anh về phía khe cửa hẹp. Khoa nhìn thấy rõ từng đường gân đen sì nổi ngoằn ngoèo dưới lớp da mỏng dính của nó, và từ bên trong bóng tối sau cánh cửa, một đôi mắt đục ngầu không có con ngươi đang dán sát vào khe nứt, nhìn chằm chằm vào mặt anh qua khoảng cách chưa đầy hai mươi phân.

Tiếng thở khò khè tanh tưởi phả thẳng vào gò má anh.

22 giờ 59 phút 30 giây.

Kim giây đang quét những nhịp cuối cùng trên mặt số dạ quang nằm ngay dưới những ngón tay tím tái của sinh vật trong khe cửa.

Trong giây phút sinh tử, cái lạnh buốt làm tê liệt nửa thân trên. Bản năng sinh tồn của người lính từng vào sinh ra tử trỗi dậy. Nó lấn át hoàn toàn cơn đau thể xác.

Khoa không cố giật tay trái ra khỏi gọng kìm băng giá. Anh hiểu rằng bất kỳ động tác lùi lại nào cũng sẽ tạo cơ hội cho cánh cửa bị đẩy bật tung ra.

Anh gầm lên một tiếng trầm đục trong lồng ngực.

Bằng tay phải còn tự do, Khoa buông then sắt, rút phắt cây dùi cui điện nặng trịch bên hông ra. Không cần bật công tắc phóng điện cao thế, anh dùng toàn bộ sức nặng của khối thép bọc cao su nện thẳng xuống mu bàn tay xám ngoét đang bấu chặt lấy cổ tay mình.

*Rắc!*

Tiếng xương ngón tay gãy vụn vang lên giòn tan dưới cú đập tàn khốc. Bàn tay ma quái giật nảy lên, nhưng những mấu xương cụt vẫn ngoan cố cào rách lớp da cổ tay Khoa, để lại bốn vệt máu đen sẫm rỉ ra từ vết rách sâu hoắm.

Khoa buông rơi cây dùi cui, chộp lấy thanh then sắt lớn bằng cả hai bàn tay.

Anh xoay người, dồn toàn bộ trọng lượng chín mươi cân của cơ thể cùng sức bật của hai chân, thúc mạnh bả vai và cánh tay vào đuôi thanh xà sắt, dập thẳng nó vào ngàm khóa trên tường đá.

*RẦM!*

Thanh sắt đặc trượt qua rãnh trượt rỉ sét, đâm xuyên qua ngàm giữ với một lực va đập khủng khiếp. Đầu thanh then sắt cắm ngập vào hốc đá chịu lực sâu hơn một gang tay, chém đứt lìa hai mấu xương cụt của bàn tay xám ngoét còn sót lại trong khe cửa.

Một tiếng rít the thé, chói tai như tiếng còi hơi bị tắc nghẽn vang lên từ đáy hầm sâu thẳm. Âm thanh rền rĩ dội vào các bức tường đá, làm rung chuyển cả lớp vữa trần hầm rơi lả tả xuống đầu Khoa.

Bàn tay xám ngoét rụt phắt vào trong bóng tối như bị lửa thiêu.

Khoa thở dốc, hai mắt vằn tia máu. Anh chộp lấy chiếc ổ khóa treo bằng đồng thau nặng hai cân rưỡi đang lủng lẳng bên cạnh, móc ngàm khóa xuyên qua lỗ then cài rồi dập mạnh thân khóa vào còng thép.

*TÁCH!*

Tiếng ngàm khóa cơ khí sập lại đanh gọn, vang dội giữa vòm đá ẩm ướt.

Khoa đưa cổ tay trái lên trước mắt, quệt vệt mồ hôi lạnh đang chảy ròng ròng trên trán.

23 giờ 00 phút 05 giây.

Kim giây vừa trượt qua điểm mốc cao nhất của mặt đồng hồ tròn.

Một giây sau khi ổ khóa sập ngàm, cánh cửa sắt rung chuyển dữ dội.

*RẦM! RẦM! RẦM!*

Những cú húc tàn bạo giáng xuống từ phía bên kia cánh cửa. Khối thép rèn dày ba phân lồi lõm từng mảng dưới áp lực khủng khiếp, bốn chiếc bản lề chốt tán rên rỉ ken két trên khung đá hộc. Những tiếng cào cấu điên cuồng bằng móng tay nhọn cọ xát vào mặt trong cánh cửa sắt, tạo ra những âm thanh rợn người kéo dài: *xoẹt... két... rột...*

Kèm theo đó là những tiếng ậm ừ uất nghẹn, tiếng thở dốc ướt sũng của nhiều thực thể đang chen chúc dẫm đạp lên nhau ngay sau tấm thép lạnh.

Khoa lùi lại một bước, rồi bước thứ hai, chân anh giẫm lên cây đèn pin đang nằm dưới vũng nước. Anh cúi người nhặt đèn lên, chùi ống kính vào vạt áo rồi rọi thẳng vào cánh cửa.

Thanh then sắt nằm im trong ngàm đá. Chiếc ổ khóa đồng thau đen đúa giữ chặt lấy chốt giữ. Dù cánh cửa bị va đập đến biến dạng, kết cấu cơ khí bằng thép đặc thời thuộc địa vẫn kiên cường trụ vững trước sự cuồng nộ từ lòng đất.

Khoa đứng chôn chân ở chân cầu thang đá, cây đèn pin rọi thẳng vào ổ khóa, ngực anh phập phồng theo từng nhịp thở dốc. Mồ hôi lạnh ướt đẫm lưng áo dã chiến, dính bết vào da thịt.

Những cú đập thưa dần.

Tiếng cào cấu trên mặt thép yếu ớt dần, chuyển thành những tiếng sột soạt kéo lê chậm chạp trên nền bùn ướt, rồi lùi dần, lùi dần vào khoảng không gian sâu thẳm bên dưới sàn phòng khánh tiết.

Sau ba phút, sự tĩnh lặng chết chóc lại ập xuống vòm hầm. Chỉ còn tiếng nước rỉ tí tách từ các mạch vữa trên trần rơi xuống mặt sàn đá xám xịt.

Căn hầm đã bị kén khóa hoàn toàn.

Khoa chống một tay vào vách đá gồ ghề, cắn chặt môi để ngăn cơn run rẩy đang truyền dọc sống lưng. Cổ tay trái của anh đau buốt dữ dội. Dưới ánh đèn pin trắng lóa, vùng da xung quanh khớp cổ tay đã chuyển sang màu tím thẫm như một miếng thịt đông lạnh lâu ngày, bốn vết rách do các khúc xương cụt cào thủng đang rỉ ra một thứ chất lỏng màu đen nhờn, lạnh ngắt và bốc mùi tanh nồng.

Cái lạnh từ vết thương vẫn tiếp tục tỏa ra xung quanh, làm các ngón tay anh tê dại, không thể co duỗi bình thường.

Khoa quay người, bước từng bước nặng nề lên cầu thang đá. Anh không quay đầu nhìn lại cánh cửa sắt thêm một lần nào. Mỗi bậc đá nâng cơ thể anh rời xa vùng hàn khí ẩm mốc của lòng đất, đưa anh trở lại với không gian quen thuộc của căn biệt thự bỏ hoang.

Anh băng qua gian bếp cũ, đóng sập cánh cửa gỗ dán mục nát lại, rồi bước ra hành lang tầng trệt.

Chiếc đồng hồ quả lắc dưới gầm cầu thang xoắn ốc vẫn đứng im. Kim chỉ mốc mười hai giờ. Mảng ố hình người trên trần thạch cao đã nhạt màu đi một chút. Mảng ố không còn tỏa ra mùi tử khí nồng nặc như trước. Khác hẳn so với lúc anh mới bước vào. Toàn bộ căn nhà ba tầng chìm trong một sự câm lặng tuyệt đối, một khoảng lặng giả tạo giữa hai đợt sóng ngầm.

Khoa đẩy cửa chính, bước nhanh ra khoảng sân trước.

Không khí đêm Hà Nội se lạnh nhưng trong lành ùa vào phổi anh, xua bớt thứ mùi bùn ướt kinh tởm còn bám lại trên cổ áo. Xa xa bên ngoài hàng rào sắt, tiếng còi xe máy trên đường Kim Mã vọng lại đều đặn, ánh đèn vàng vọt từ ngã tư Liễu Giai hắt lên những ngọn xà cừ một màu sáng ấm áp của thế giới sống.

Khoa bước vào bốt gác bảo vệ, sập then cửa gỗ lại, tự giam mình trong không gian sáu mét vuông quen thuộc.

Anh ngồi phịch xuống chiếc ghế xoay bằng nỉ rách, đặt cây đèn pin và dùi cui điện lên bàn làm việc. Hơi thở của anh dần dần ổn định lại, nhưng các cơ bắp ở bả vai và cánh tay vẫn còn giật giật vì gắng sức quá độ.

Khoa với tay mở chiếc tủ sắt rỉ sét, lôi hộp cứu thương cá nhân bọc vải bạt màu xanh cỏ úa ra ngoài.

Anh dùng kéo cắt bỏ phần ống tay áo dã chiến đã bị hóa giòn vì hàn khí. Vết thương trên cổ tay hiện ra rõ mồn một: bốn lỗ thủng sâu hoắm viền quanh bởi một mảng da thâm đen hình bàn tay người, lạnh như băng đá. Anh lấy chai cồn đỏ i-ốt dốc thẳng lên vết thương.

*Xèo...*

Dung dịch thuốc sát trùng sủi bọt trắng xóa khi tiếp xúc với chất dịch đen nhờn. Một cơn đau rát buốt xộc thẳng lên tận màng tang khiến Khoa phải nghiến chặt răng, hai hàm siết chặt đến mức phát ra tiếng ken két. Anh dùng gạc tiệt trùng lau sạch lớp dịch nhầy tanh tưởi, rắc bột kháng sinh rồi quấn chặt ba vòng băng thun y tế quanh cổ tay.

Vải băng ép chặt vào da thịt giúp ngăn bớt cảm giác tê dại đang lan dần lên cẳng tay.

Khoa tựa lưng vào thành ghế, với tay lấy bao thuốc lá Thăng Long dẹt trên bàn, rút một điếu châm lửa. Ngọn lửa vàng từ chiếc bật lửa ga bập bùng soi rõ những nếp nhăn khắc khổ và ánh mắt lạnh lùng của cựu quân nhân bốn mươi lăm tuổi. Anh rít một hơi dài, khói thuốc cay nồng tràn ngập khoang họng, làm dịu đi cảm giác buồn nôn dai dẳng.

Mắt anh nhìn ra ngoài cửa sổ bốt gác.

Khối biệt thự 300 Kim Mã vẫn sừng sững đứng đè lên màn đêm Ba Đình. Quy tắc thứ nhất đã được thực thi trọn vẹn trước thời khắc giới hạn. Cánh cửa sắt dưới đáy hầm đã được niêm phong bằng then cài và ổ khóa cơ khí hạng nặng. Thứ tồn tại bên dưới lòng đất sẽ không thể trồi lên theo lối cầu thang phụ được nữa.

Khoa nhìn đồng hồ.

23 giờ 30 phút.

Màn đêm của ca trực vẫn còn kéo dài hơn sáu tiếng đồng hồ nữa mới chạm đến bình minh. Nhưng ít nhất vào lúc này, anh cho rằng mối hiểm họa lớn nhất đã bị khóa chặt sau lớp thép dày ba phân dưới chân tòa nhà, và căn biệt thự sẽ giữ được sự yên tĩnh tạm thời cho đến khi trời sáng.

Khoa nhả một làn khói trắng mỏng lên tấm kính mờ hơi sương, lặng lẽ chờ đợi những biến chuyển tiếp theo của ca trực đêm.

Chương khác

Xem thêm