Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 10: Căn Phòng Có Đàn Piano
Kim phút của chiếc đồng hồ Poljot trên cổ tay Khoa nhích từng vạch chậm chạp rồi chập khít vào con số mười hai. Mười hai giờ đêm. Cả khu phố ngoại giao…
Nội dung chương
Kim phút của chiếc đồng hồ Poljot trên cổ tay Khoa nhích từng vạch chậm chạp rồi chập khít vào con số mười hai.
Mười hai giờ đêm.
Cả khu phố ngoại giao Kim Mã đã chìm sâu vào đợt cắt điện luân phiên trước cơn bão số chín. Ánh sáng đèn đường từ phía ngã tư Liễu Giai hắt sang ban nãy giờ biến mất hoàn toàn, nhường chỗ cho một màn đêm đặc quánh bọc kín lấy khuôn viên căn biệt thự số 300. Bên ngoài, những ngọn xà cừ cổ thụ oằn mình theo từng đợt gió bấc giật mạnh, cành lá quất vào tường rào nghe ràn rạt. Không khí Ba Đình cuối năm buốt lạnh, hơi ẩm từ hồ Thủ Lệ bốc lên lùa qua các khe nứt của khối nhà cổ, tạo ra mùi rêu phong pha lẫn mùi bùn đất ngai ngái.
Khoa bật đèn pin, hạ thấp góc chiếu xuống sàn gạch bông để luồng sáng vàng đục gom lại một khoảng tròn chừng hai mét trước mặt. Anh siết chặt quai đeo của chiếc đèn tuần tra bên vai trái, tay phải nắm chắc thân gậy cao su chuyên dụng. Lời cảnh báo viết bằng nét bút mực tím cào rách mặt giấy trong cuốn nhật ký năm 1993 vẫn còn hằn rõ từng nét trong đầu anh: *Đừng đếm số bậc cầu thang sau 0 giờ. Nếu đếm, cầu thang sẽ không bao giờ dẫn lên tầng trên nữa.*
Là một người lính từng trải qua nhiều năm gác kho quân sự ở biên giới phía Bắc, Khoa hiểu rõ sức nặng của kỷ luật. Khi đối mặt với những hiện tượng chưa thể giải thích, việc tuân thủ triệt để các nguyên tắc phòng ngừa là điều kiện tiên quyết để giữ mạng sống. Anh bước ra khỏi phòng lưu trữ hồ sơ, hướng thẳng về chân cầu thang xoắn ốc đặt giữa đại sảnh.
Đế giày vải dã chiến của Khoa nện xuống mặt gỗ lim phát ra tiếng cọt kẹt trầm đục. Anh ngẩng đầu nhìn lên khoảng không tối om phía trên vòm trần thạch cao. Thay vì nhẩm tính số bậc như thói quen tuần tra thường nhật, Khoa cố định tầm mắt vào vệt vôi bong tróc hình bán nguyệt trên mảng tường đối diện. Anh bước từng bước đều đặn, tập trung toàn bộ thính giác vào tiếng gió rít ngoài cửa chớp và nhịp thở của chính mình.
Không đếm. Không dừng lại giữa chừng.
Mười bước. Hai mươi bước. Lớp bụi mịn tích tụ qua nhiều năm bốc lên theo gót giày, xộc vào mũi một mùi gỗ ẩm mục nát. Bàn tay anh bám chặt lấy tay vịn bằng sắt uốn nguội ngắt, lần theo độ cong vát của khối kiến trúc Pháp cổ. Sau một nhịp hụt chân nhẹ vào khoảng không quen thuộc, đế giày của anh chạm vào mặt sàn bằng phẳng.
Khoa đã lên đến hành lang chính của tầng hai.
Anh thở hắt ra một hơi dài, luồng khí ấm phả vào bóng tối lập tức ngưng tụ thành một dải sương mỏng tang trước mặt rồi tan biến.
Đúng lúc đó, chiếc đồng hồ đeo tay phát ra tiếng tích tắc báo hiệu mười hai giờ mười lăm phút.
Một nốt nhạc trầm đục vang lên, xé toạc sự tĩnh mịch của tầng lầu.
Nốt nhạc ngân dài, rung bần bật trên những dải dây thép gỉ sét của một cây đàn dương cầm cỡ lớn. Âm thanh khô khốc dội vào những bức tường quét vôi vàng đã nứt toác, tạo ra chuỗi hồi âm kim loại rợn người.
Khoa khựng lại giữa hành lang, toàn thân lập tức chuyển sang tư thế cảnh giác cao độ. Anh hạ thấp trọng tâm, ngón cái tay phải gạt chốt an toàn của dùi cui điện, đồng thời đưa đầu đèn pin quét dọc theo dãy cửa phòng đóng kín mít.
Phòng làm việc của tùy viên văn hóa: cửa khóa ngoài bằng chốt cài sắt. Phòng họp nhỏ: niêm phong giấy dó từ thời tiếp quản rách tả tơi.
Âm thanh không phát ra từ những căn phòng đó. Nó xuất phát từ cuối dãy hành lang sâu hun hút, nơi đặt cánh cửa đôi bằng gỗ lim bề thế dẫn vào phòng khánh tiết.
Một nốt nhạc thứ hai cất lên, cao hơn nốt trước nửa cung. Rồi nốt thứ ba, thứ tư nối tiếp nhau rơi xuống không gian lạnh lẽo. Giai điệu dần thành hình, tạo nên một bản valse chậm rãi, u uất và đầy vẻ ai oán. Từng phím đàn gõ xuống nghe rất nặng nề, tựa như người chơi phải dùng hết sức lực của những ngón tay khẳng khiu, khô héo để nhấn chìm các búa dạ xuống hàng dây kim loại bị ẩm mốc qua mấy thập kỷ.
Khoa chầm chậm tiến về phía cuối hành lang. Tiếng đế giày vải dập tắt hoàn toàn âm thanh chuyển động của anh, chỉ còn tiếng nhạc ma quái kia mỗi lúc một rõ ràng hơn.
Quy tắc số ba của lão Toàn lập tức hiện lên: *tuyệt đối không được gõ cửa phòng khánh tiết nếu nghe tiếng đàn dương cầm vọng ra.*
Khoa dừng bước cách cánh cửa phòng khánh tiết đúng ba mét.
Trước mắt anh, hai cánh cửa gỗ lim chạm trổ hoa văn phù điêu tinh xảo thời thuộc địa đang khép chặt. Một sợi xích sắt to bằng ngón tay cái, hoen gỉ và phủ đầy bụi đen, quấn chằng chịt bốn vòng quanh hai tay nắm đồng hình đầu sư tử. Giữa mối xích là một ổ khóa đồng cổ lỗ sĩ của Liên Xô, trên thân khóa đóng một lớp ten đồng màu xanh xám dày cộp.
Cánh cửa này rõ ràng đã bị khóa chết từ rất nhiều năm trước. Không một ai có thể bước qua cánh cửa này mà không phá tung sợi xích sắt kia ra.
Vậy mà, tiếng đàn dương cầm vẫn đang réo rắt ngay sau tấm ván gỗ dày cộp.
Khoa đứng chôn chân trên sàn hành lang. Lồng ngực anh nghẹn thắt lại dưới lớp áo dã chiến cài kín cúc. Luồng khí lạnh từ đâu đó luồn qua kẽ sàn gỗ thổi ngược lên ống quần, làm da thịt anh tê dại.
Bản năng của một người lính từng nhiều lần đối mặt với hiểm nguy thôi thúc anh phải làm rõ ngọn ngành. Căn biệt thự này nằm dưới sự quản lý trực tiếp của tổ bảo vệ, và anh có trách nhiệm ngăn chặn bất kỳ kẻ nào xâm nhập bất hợp pháp. Bàn tay trái của anh bất giác lần xuống chùm chìa khóa treo lủng lẳng bên hông thắt lưng da. Những chiếc chìa khóa bằng đồng va vào nhau lách cách nho nhỏ.
Chỉ cần tiến thêm hai bước, đưa tay gõ mạnh lên mặt gỗ lim để thăm dò, hoặc lựa chiếc chìa khóa vạn năng tra vào ổ khóa rỉ sét kia, cánh cửa sẽ hé lộ điều bí mật đang diễn ra bên trong. Liệu có một người vô gia cư nào đó lẻn vào qua lối ban công vỡ kính? Hay đây là trò đùa ác ý của những nhóm thám hiểm đô thị chuyên săn lùng những câu chuyện ma quái ở Hà Nội?
Khoa siết chặt chùm chìa khóa. Các khớp ngón tay anh trắng bệch vì dùng lực quá mạnh. Anh nhấc chân lên, định bước tới gần khe cửa.
Nhưng kỷ luật thép của quân đội đã ghìm chặt bàn chân anh lại.
Lão Toàn chưa từng nói dối về những hiện tượng trong căn nhà này. Vết thương màu tím đen trên cổ tay Khoa vẫn còn âm ỉ nhức nhối dưới lớp băng gạc, là minh chứng rõ ràng nhất cho việc những quy tắc ấy được đúc kết bằng máu và sự an nguy tính mạng. Vi phạm quy tắc không phải là hành động dũng cảm, mà là sự liều lĩnh ngu xuẩn.
Khoa từ từ hạ gót chân xuống, giữ nguyên khoảng cách an toàn, ngón tay nới lỏng chùm chìa khóa nhưng vẫn ghìm chặt chuôi gậy cao su.
Tiếng đàn dương cầm đột ngột chuyển sang một đoạn cao trào dồn dập. Những phím đàn nảy lên tanh tách, tiếng búa gõ dội vào thùng đàn vang lên lùng bùng như tiếng sấm xa.
Và rồi, lẫn trong tiếng nhạc cổ điển u ám ấy, một chuỗi âm thanh khác bắt đầu xuất hiện.
Khoa nheo mắt, lắng tai nghe thật kỹ.
Có tiếng xột xoạt của những tà váy dạ hội bằng lụa satin quét trên mặt sàn gỗ. Tiếng gót giày da bóng loáng nện nhịp nhàng theo điệu valse. Tiếng rì rầm to nhỏ của một đám đông vô hình, những giọng nói trầm bổng đan xen nhau tạo thành một thứ tạp âm hỗn loạn của một buổi tiệc chiêu đãi sang trọng.
Keng.
Âm thanh thủy tinh va chạm vang lên giòn tan, thanh mảnh và lạnh buốt. Đó là tiếng chạm ly pha lê đặc trưng trong các bữa tiệc ngoại giao thời kỳ trước. Tiếng chạm ly vang lên liên tiếp, hai lần, ba lần, xen lẫn tiếng cười khúc khích đầy vẻ kiểu cách của phụ nữ.
Khoa cảm thấy sống lưng mình lạnh toát.
Anh soi đèn pin vào khe hở giữa hai cánh cửa gỗ lim. Khe hở hẹp chưa đầy nửa đốt ngón tay, tối đen như mực. Không hề có bất kỳ ánh nến hay ngọn đèn nào lọt qua khe cửa. Bên trong căn phòng khánh tiết hoàn toàn chìm trong bóng tối dày đặc, vậy mà thứ âm thanh sống động của một đêm hội hoa lệ vẫn đang diễn ra cuồng nhiệt phía sau lớp gỗ mục.
Một mùi hương lạ lùng bắt đầu len qua kẽ cửa, phả thẳng vào mặt Khoa.
Đó không phải mùi ẩm mốc của căn nhà hoang, cũng không phải mùi bùn cống rãnh. Đó là mùi nước hoa Pháp cổ điển nồng nặc mùi hoa diên vĩ, quyện chặt với mùi khói xì gà Cuba thượng hạng và mùi rượu vang ủ lâu năm đã lên men chua loét. Mùi hương đậm đặc đến mức làm Khoa thấy lợm giọng, cổ họng anh khô khốc như vừa nuốt phải một ngụm tro tàn.
Đột nhiên, tiếng đàn dương cầm khựng lại ở một hợp âm chói gắt.
Tiếng chạm ly biến mất. Tiếng cười nói của đám đông im bặt trong chớp mắt. Toàn bộ không gian tầng hai rơi vào một khoảng lặng chết chóc, chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít gào bên ngoài khung cửa kính vỡ của hành lang.
Khoa nín thở, ngón tay đặt sẵn trên nút bật của dùi cui điện. Mắt anh không rời khỏi khe cửa lim xích sắt.
Từ bên kia cánh cửa, sát ngay vị trí Khoa đang đứng, có tiếng bước chân chầm chậm tiến lại gần. Tiếng gót giày nhọn gõ từng nhịp khô khốc lên sàn gỗ, dừng lại ngay sau lớp ván dày.
Khoa cảm nhận được một luồng hơi lạnh thấu xương đang luồn qua kẽ hở giữa hai cánh cửa gỗ, phả thẳng vào ngực anh. Luồng khí ấy mang theo hơi lạnh buốt giá của một căn hầm sâu chôn dưới lòng đất hàng chục mét.
Một giọng nữ thì thầm cất lên.
Giọng nói nhẹ bẫng, phát ra bằng thứ tiếng Pháp chuẩn xác, đài các nhưng vô hồn, âm thanh như được phát ra từ một chiếc máy hát đĩa cổ đã bị méo tiếng:
*"Bonsoir... Monsieur Nguyen Huu Khoa."*
Từng âm tiết tiếng Việt trong tên của anh được phát âm rành rọt, chuẩn xác đến rợn người, kẹp giữa câu chào tiếng Pháp lạnh ngắt.
Hơi thở buốt giá phả qua khe cửa làm ngọn đèn pin trên tay Khoa chao đảo.
Cơn chấn động tâm lý cực mạnh giáng thẳng vào thần kinh của cựu quân nhân. Tim Khoa đập dồn dập như muốn vỡ tung khỏi lồng ngực. Mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa sau gáy, chảy ròng ròng xuống cổ áo dã chiến.
Làm sao thực thể bên trong cánh cửa kia có thể biết được danh tính của anh? Anh mới chỉ nhận ca trực tại căn nhà này được vài ngày, chưa từng để lại giấy tờ tùy thân hay xưng tên với bất kỳ ai ngoài lão Toàn và đơn vị quản lý công trình.
Giọng nói ấy không phải là ảo giác. Nó chân thực, sắc lạnh và mang đầy ác ý tò mò.
Ngay sau câu thì thầm, một tiếng cười khẽ rúc rích vang lên ngay sát tai anh, kèm theo tiếng móng tay sắc nhọn cào soàn soạt lên mặt gỗ lim từ phía bên trong. Vết cào kéo dài từ trên cao xuống dưới thấp, tạo ra âm thanh ken két ghê rợn của kim loại nghiến trên thớ gỗ già.
Bản năng sinh tồn giật đứt cơn tê liệt tạm thời của Khoa.
Kỷ luật thép buộc anh không được phép hoảng loạn, nhưng trực giác mách bảo anh phải rời khỏi vị trí này ngay lập tức. Cánh cửa phòng khánh tiết đang bắt đầu rung lên bần bật, sợi xích sắt hoen gỉ căng ra nghe răng rắc như sắp sửa đứt tung dưới một lực đẩy vô hình từ bên trong.
Khoa lùi lại một bước, rồi hai bước. Anh không quay lưng bỏ chạy, mà giữ nguyên tư thế đối mặt, mắt vẫn ghim chặt vào cánh cửa lim, chân dò dẫm từng bước thụt lùi trên hành lang ván gỗ.
Tiếng đàn dương cầm bên trong căn phòng bất ngờ bùng nổ trở lại. Lần này không còn là điệu valse u sầu ban nãy, mà là một chuỗi những nốt nhạc dồn dập, hỗn loạn, gõ đập điên cuồng như thể có ai đó đang dùng cả hai bàn tay nện túi bụi xuống mặt phím đàn. Tiếng cười của người phụ nữ rộ lên the thé qua kẽ cửa, đuổi theo từng bước chân lùi của anh.
Cơn gió bão từ ô cửa sổ hành lang thốc mạnh vào, tạt nước mưa lạnh buốt lên mặt Khoa, kéo anh giật thót khỏi cơn mê muội.
Anh lùi nhanh hơn, đế giày dập mạnh xuống mặt sàn gỗ. Những bước chân gấp gáp đưa anh thoát khỏi vùng ảnh hưởng của mùi nước hoa nồng nặc và tiếng đàn ma quái đang gào thét nơi cánh cửa xích sắt.
Sau năm mét lùi liên tục, gót giày của Khoa chạm mạnh vào gờ gỗ nhô cao của sàn nhà.
Anh đã lùi về đến chiếu nghỉ rộng lớn nằm giữa tầng hai và tầng ba, nơi khúc quanh của cầu thang xoắn ốc mở ra một khoảng không gian rộng có đặt chiếc gương lớn viền gỗ mun.
Ánh đèn pin trên tay Khoa rung lên bần bật, luồng sáng vàng quét chéo qua lớp kính mờ đục phủ đầy bụi của tấm gương cổ đang sừng sững chờ sẵn trong góc tối.