Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 13: Chiếc Đồng Hồ Tự Đổ Chuông
Gió bấc luồn qua khe hành lang hun hút của khu tập thể A4 Giảng Võ mang theo hơi nước buốt giá từ mặt hồ thổi vào. Những mảng tường quét vôi vàng đặc…
Nội dung chương
Gió bấc luồn qua khe hành lang hun hút của khu tập thể A4 Giảng Võ mang theo hơi nước buốt giá từ mặt hồ thổi vào.
Những mảng tường quét vôi vàng đặc trưng của thập niên tám mươi đã bong tróc từng mảng lớn, trơ ra lớp gạch chỉ xỉn màu và mạng nhện giăng mắc trên những đường dây điện chằng chịt như rễ cây cổ thụ. Cầu thang bộ tối nhờ nhờ, bậc xi măng mòn vẹt ở mép giữa sau hàng chục năm gót chân người qua lại. Khoa bước từng bước chắc nịch lên tầng ba, tiếng đế giày cao su cọ xát với nền đá rửa ẩm ướt phát ra những âm thanh khô khốc. Mùi ẩm mốc của những góc chiếu nghỉ chứa đầy lồng sắt chuồng cọp và than tổ ong đã tàn quẩn quanh nơi cánh mũi anh, gợi cảm giác tù đọng quen thuộc của những góc phố cũ giữa lòng Ba Đình.
Sau khi bàn giao ca trực sáng cho anh nhân viên trẻ tên Thắng tại bốt gác số 300 Kim Mã, Khoa không về phòng trọ ngủ bù. Anh phóng chiếc xe máy cà tàng xuyên qua màn sương mù đặc quánh còn đọng lại sau cơn bão đêm qua, tìm thẳng đến địa chỉ ghi vội nơi trang đầu cuốn sổ trực cũ.
Dừng lại trước căn hộ số 302, Khoa nhìn cánh cửa gỗ sơn xanh đã nứt toác nhiều đường, bên trên gắn tấm biển nhôm gỉ sét khắc ba chữ: Trần Khắc Cần. Anh giơ tay gõ ba tiếng dứt khoát.
Bên trong có tiếng dép lê lẹt xẹt kéo lê trên nền gạch tàu, kèm theo tiếng ho khúc khắc kéo dài của một người già yếu phổi. Phải mất gần hai phút, chốt sắt bên trong mới lách cách mở ra.
Cánh cửa hé một khe hẹp vừa đủ để một gương mặt gầy guộc, nhăn nheo thò ra ngoài. Người đàn ông chừng ngoài bảy mươi tuổi, mặc chiếc áo gi-lê len màu cháo lòng sờn rách ở cổ, đôi mắt trũng sâu ẩn dưới đôi lông mày bạc trắng lởm chởm. Ông lão nheo mắt nhìn bộ đồng phục bảo vệ màu xanh đậm của Khoa, ánh nhìn lập tức chuyển từ dò xét sang vẻ cảnh giác cao độ.
"Chú tìm ai?" Giọng ông khàn đặc, hụt hơi.
"Cháu chào bác Cần. Cháu là Nguyễn Hữu Khoa, hiện đang nhận ca trực đêm ở biệt thự ba trăm Kim Mã." Khoa nói rõ ràng từng từ, giữ âm lượng vừa đủ nghe. "Cháu tìm bác vì thấy tên bác trong danh bạ bàn giao công tác của đoàn ngoại giao cũ."
Ngay khi cụm từ "ba trăm Kim Mã" vừa rời khỏi miệng Khoa, bàn tay gầy gò đang nắm lấy then cửa của ông Cần bỗng giật bắn lên. Các khớp ngón tay ông siết chặt lại, gân xanh nổi cộm dưới lớp da mồi mỏng dính. Đôi đồng tử đục ngầu co rút kịch liệt, quét vội ra hành lang vắng lặng phía sau lưng Khoa như thể sợ rằng có ai đó đang bám theo anh lên tận đây.
"Về đi." Ông Cần gằn giọng, toan giật mạnh cánh cửa khép lại. "Tôi không biết gì hết. Chuyện ba mươi năm trước rồi, đừng có bới móc lên nữa."
Khoa nhanh chóng đưa mũi giày bảo hộ chèn vào khe cửa, lực chặn vững như một tảng đá. Anh không dùng vũ lực để xông vào, chỉ nhìn thẳng vào đôi mắt đang run rẩy của ông lão, hạ thấp giọng:
"Đêm qua, cháu đã thấy bữa tiệc trong tấm gương thủy ngân ở chiếu nghỉ. Và cháu cũng thấy cái bóng của chính mình tách ra, đứng chỉ tay lên tầng áp mái."
Cả thân hình còm cõi của ông Cần run bắn lên như bị điện giật. Gương mặt ông tái nhợt đi, lớp da xám xịt chuyển sang một màu trắng bệch ma quái. Bàn tay ông lão buông lỏng then cài, hơi thở dồn dập đứt quãng qua kẽ răng. Ông lùi lại hai bước, cánh cửa tự động hé rộng ra, để lộ không gian chật hẹp bên trong căn hộ tập thể nồng nặc mùi thuốc lào và dầu gió.
"Cậu... cậu nhìn thấy chúng nó thật rồi à?" Ông Cần run rẩy hỏi, giọng méo mó. "Cậu bước chân vào cái phòng khánh tiết chết tiệt đó rồi sao?"
"Cháu chưa vào phòng khánh tiết." Khoa điềm tĩnh rút chân ra, bước qua ngưỡng cửa rồi quay người cài chốt sắt lại cẩn thận. "Cháu chỉ đứng ở chiếu nghỉ thang xoắn. Cháu muốn biết sự thật. Nếu bác không nói, sớm muộn gì ca trực tiếp theo cháu cũng sẽ mất mạng ở căn nhà đó."
Ông Cần đứng chết trân giữa phòng khách một hồi lâu. Căn phòng rộng chưa đầy hai mươi mét vuông kê một bộ bàn ghế nan tre đã ngả màu đen bóng, một chiếc giường đơn gấp gọn gàng góc tường và la liệt những giá sách chất đầy sách tiếng Nga, tiếng Ba Lan phủ bụi. Cuối cùng, ông lão thở dài một tiếng nặng trịch như trút bỏ gánh nặng đè nén suốt mấy thập kỷ, lê từng bước nặng nề đến bên bàn nước.
"Ngồi xuống đi." Ông Cần chỉ tay vào chiếc ghế nan đối diện.
Khoa kéo ghế ngồi xuống. Chiếc bàn gỗ con đặt một chiếc ấm tích bọc trong bao rơm giữ nhiệt cũ kỹ. Ông lão run rẩy rót ra hai chiếc chén sành da lươn. Nước vối nguội ngắt, có màu nâu sẫm của lá ủ lâu ngày, mặt nước đóng một lớp váng mỏng lờ đờ.
Khoa không đụng vào chén nước, anh đặt hai bàn tay lên đầu gối, giữ tư thế ngồi thẳng lưng của một người lính chờ lệnh. Đôi mắt sắc bén của anh quan sát từng cử chỉ run rẩy của ông lão đối diện. Ông Cần với lấy điếu cày ở chân bàn, bàn tay run rẩy đến mức phải châm lửa đến lần thứ ba mới bắt được đóm. Khói thuốc lào đặc quánh phả ra, cuộn tròn quanh ngọn đèn tuýp mờ mờ trên trần nhà, tạo nên một tấm rèm xám ngăn cách giữa hai người.
"Cậu làm ở đó được bao lâu rồi?" Ông Cần cất tiếng hỏi sau một hồi im lặng kéo dài, ánh mắt ông dán chặt vào mảng tường đối diện chứ không dám nhìn vào Khoa.
"Mới được ba ca trực." Khoa đáp. "Nhưng mọi chuyện bắt đầu vượt quá tầm kiểm soát từ đêm qua. Nước rỉ ra từ chân tường, tiếng đàn dương cầm tự phát ra bài dạ khúc, và những người trong tấm gương... cổ của họ xoay ngược lại nhìn cháu."
Tiếng chén sành va vào mặt bàn kêu cạch một tiếng. Bàn tay ông Cần run rẩy đến mức nước vối tràn ra ngoài miệng chén, rớt từng giọt xuống mặt tre.
"Đúng là nó rồi... Vẫn là cái cảnh tượng kinh tởm ấy." Ông lão lẩm bẩm, giọng nói chìm sâu vào một nỗi sợ hãi nguyên thủy đã bị vùi lấp quá lâu. "Năm đó tôi làm tạp vụ, lo việc quét dọn, bốc vác, chuẩn bị hậu cần cho tòa nhà. Hồi đó khu Kim Mã còn vắng lắm, xung quanh toàn đầm nước với bãi cỏ hoang, khu biệt thự ấy sang trọng bậc nhất thủ đô, tường xây dày nửa mét, đá hoa cương mang từ bên Tây sang. Ai cũng nghĩ làm việc ở đấy là sướng, là vinh dự."
Khoa vẫn ngồi yên, lắng nghe từng nhịp thở ngắt quãng của ông lão. Thái độ điềm tĩnh vốn có của người từng trải qua kỷ luật quân trường giúp anh gạt bỏ cảm giác bồn chồn, kiên nhẫn đợi nút thắt được tháo gỡ.
"Tháng mười hai năm 1993, phái đoàn nhận lệnh rút toàn bộ nhân sự về nước đột ngột." Ông Cần nheo mắt lại, khói thuốc cay xè làm khóe mắt kèm nhèm ứa ra hai giọt lệ đục. "Mọi thứ diễn ra gấp gáp vô cùng. Chỉ trong vòng ba ngày, tài liệu, hồ sơ cơ mật bị đốt sạch trong những lò sưởi ở tầng trệt suốt ngày đêm. Tro tàn bay đen kịt cả góc vườn xà cừ. Đêm cuối cùng trước ngày bàn giao cơ sở, ngài Đại sứ quyết định tổ chức một bữa tiệc chia tay nội bộ tại phòng khánh tiết tầng hai. Họ bảo đó là tiệc ly biệt."
"Chỉ có người của phái đoàn?" Khoa hỏi.
"Đúng. Khoảng ba mươi người. Toàn bộ viên chức ngoại giao, các tùy viên, nhân viên văn phòng và gia quyến của họ." Giọng ông Cần bắt đầu run rẩy rõ rệt hơn, ngón tay ông cào nhẹ lên mặt bàn tre. "Tôi và hai người phụ bếp Việt Nam chỉ được phép chuẩn bị bàn tiệc cocktail, rượu vang và đồ ăn nguội xong xuôi từ chập tối. Đến chín giờ đêm, ngài Đại sứ đích thân xuống sảnh, đưa cho ba chúng tôi mỗi người một khoản tiền thưởng rất hậu bằng đô la, rồi nghiêm giọng ra lệnh cho chúng tôi phải rời khỏi biệt thự ngay lập tức. Ông ấy dặn khóa cổng sắt bên ngoài lại, sáng hôm sau tám giờ mới được quay lại để phụ trách bàn giao chìa khóa cho bên ngoại vụ của mình."
Khoa hơi rướn người về phía trước: "Sau đó thì sao?"
"Tôi nhận tiền, mừng rỡ dắt xe đạp ra về cùng hai người kia." Ông Cần ngập ngừng, lồng ngực gầy guộc phập phồng một cách khó nhọc. "Nhưng đi được nửa đường, đến ngã tư Liễu Giai thì tôi phát hiện mình bỏ quên chiếc ví da nhét dưới tấm đệm ghế ở phòng bảo vệ cổng phụ. Trong ví có giấy tờ tùy thân và toàn bộ số tiền tiết kiệm của tôi suốt mấy năm tích cóp. Trời thì rét căm căm, mưa phùn bắt đầu nặng hạt. Tôi tiếc của nên lén quay xe lại, định bụng chỉ lẻn vào phòng bảo vệ lấy ví rồi biến ngay, không làm phiền bữa tiệc của các ngài ấy."
Khoa cảm nhận được một luồng khí lạnh vô hình dường như đang lướt qua sống lưng mình. Căn phòng tập thể kín mít nhưng những đầu ngón tay anh bỗng chốc buốt cóng.
Lúc bác quay lại là mấy giờ?
"Gần mười một giờ đêm." Ông Cần hạ giọng xuống mức thì thầm, hai mắt trừng trừng nhìn vào chén nước vối nguội ngắt. "Toàn bộ căn nhà ba trăm Kim Mã lúc ấy sáng rực ánh đèn pha lê. Từ ngoài đường nhìn vào, tầng hai lấp lánh như một khối vàng ròng giữa trời mưa đêm. Tôi trèo qua đoạn tường rào thấp bên hông nhà, bò vào phòng bảo vệ lấy được ví. Nhưng khi vừa bước chân ra lối đi rải sỏi để vòng ra cổng, tôi nghe thấy tiếng đàn dương cầm."
Ông Cần nuốt một ngụm nước bọt khô khốc, yết hầu giật lên từng hồi:
"Bản nhạc ấy rộn rã vô cùng, nhưng xen lẫn trong tiếng đàn không phải là tiếng nói cười hay tiếng cụng ly. Cậu có hiểu cái cảm giác đứng dưới một ngôi nhà đầy ắp người, sáng rực đèn, nhưng lại im phăng phắc không? Không một tiếng trò chuyện, không một tiếng bước chân. Chỉ có tiếng phím đàn gõ liên hồi, càng lúc càng nhanh, dồn dập như tiếng vó ngựa chạy trốn."
Khoa khẽ cau mày, ký ức về âm thanh ma quái đêm qua trong hành lang tầng hai lập tức dội về trong tâm trí anh: "Bác đã nhìn thấy gì trên đó?"
"Tôi tò mò bước lên bậc thềm sảnh chính. Cửa gỗ lớn hé mở một khe nhỏ. Tôi ghé mắt nhìn vào trong." Hai vai ông Cần co rúm lại, hai tay ông ôm chặt lấy đầu, ngón tay cào mạnh vào mớ tóc bạc xơ xác. "Trời đất ơi... Ba mươi năm rồi tôi không dám kể với ai, kể ra người ta bảo tôi phát điên, người ta nhốt tôi vào viện tâm thần mất!"
"Cháu tin bác." Khoa nói dứt khoát, ánh mắt ghim chặt vào ông lão. "Bác hãy nói cho cháu biết, bên trong có cái gì?"
Ông Cần ngẩng đầu lên, khuôn mặt già nua co giật vì nỗi kinh hoàng tột độ:
"Những người đó... toàn bộ quan khách và viên chức... họ không hề uống rượu hay khiêu vũ. Họ đứng thành một vòng tròn lớn quanh chân cầu thang xoắn ốc dẫn lên tầng áp mái. Tất cả bọn họ đều mặc lễ phục đen tuyền, trên mặt không có một giọt máu. Và ngài Đại sứ... ông ấy đang quỳ ở chính giữa bậc thềm thứ ba của cầu thang xoắn."
Ông ấy làm gì ở đó?
"Ông ấy cầm một chiếc búa lớn bằng đồng và những chiếc đinh sắt dài bằng bàn tay." Giọng ông Cần nghẹn lại trong cổ họng, rít lên từng tiếng the thé. "Dưới sàn gỗ ngay góc khuất chân cầu thang có một cái hốc đá sâu hoắm. Bên trong hốc đá ấy... có một thứ gì đó đang cựa quậy. Một khối đen sì, nhầy nhụa bùn đất và rác rưởi, liên tục phì phò thở ra thứ mùi tanh nồng của bùn sông chết. Ngài Đại sứ vừa run rẩy khấn những câu từ kỳ lạ bằng một thứ ngôn ngữ cổ xưa méo mó, vừa giáng từng nhát búa đóng chặt những thanh xà gỗ sồi bọc chì bịt kín cái hốc ấy lại. Cứ mỗi nhát búa nện xuống, cả căn biệt thự lại rung chuyển, và những người đứng xung quanh lại đồng loạt rên rỉ một âm thanh vô hồn như tiếng thú hoang bị bóp cổ."
Khoa siết chặt nắm đấm đặt trên đầu gối. Anh nhớ lại những vết nứt hình chữ thập và mùi tanh tưởi bốc lên nồng nặc quanh góc chân cầu thang mà anh từng ngửi thấy trong hai ca trực trước.
"Họ phong ấn thứ gì ở đó?" Khoa gặng hỏi.
"Tôi không biết! Tôi không thể biết được!" Ông Cần lắc đầu lia lịa, giọng run rẩy đến cùng cực. "Tôi chỉ biết thứ nằm dưới lòng đất ấy không thuộc về thế giới này. Đất của khu Kim Mã này xưa kia vốn là vùng đầm lầy trũng sâu, là nơi tụ thủy của những nhánh sông Tô Lịch cổ đã bị vùi lấp. Người ta đào móng xây cái biệt thự đó từ thời Pháp thuộc, đã chạm phải một long mạch đen hay một huyệt mộ chết chìm gì đó dưới lòng đất. Phái đoàn ngoại giao ở đó mấy năm, người ta đồn họ đã làm kinh động đến thứ tà ma nằm sâu dưới đáy đầm. Ngài Đại sứ cố gắng dùng mạng sống và nghi lễ tà môn để khóa chặt nó lại trước khi rời đi, nhằm ngăn nó trồi lên mặt đất."
Khoa hít một hơi thật sâu, cố gắng chắp nối những mảnh ghép hỗn loạn:
"Bác nói họ phong ấn nó lại. Vậy sáng hôm sau, khi bác quay lại nhận bàn giao thì sao? Phái đoàn đã đi đâu?"
Ông Cần đột ngột ngừng bặt. Đôi mắt trũng sâu của ông lão mở to hết cỡ, nhìn thẳng vào mặt Khoa với vẻ chết lặng. Bầu không khí trong gian phòng nhỏ đặc quánh lại, chỉ còn tiếng tích tắc khô khốc của chiếc đồng hồ treo tường cũ kỹ vang lên từng nhịp rời rạc.
"Đó mới là điều khủng khiếp nhất, cậu Khoa à." Ông Cần ghé sát mặt lại gần, từng hơi thở mang theo mùi thuốc lào khét lẹt phả vào không khí. "Sáng hôm sau, đúng tám giờ, tôi cùng cán bộ của Vụ Lễ tân Bộ Ngoại giao có mặt trước cổng chính để làm thủ tục tiếp nhận chìa khóa. Cổng sắt lớn bên ngoài vẫn khóa chặt bằng ba ổ khóa mà chính tay tôi đã bấm từ tối hôm trước. Xung quanh tường rào không có một dấu vết trèo ra. Nhưng khi mở cửa bước vào trong..."
Ông lão nuốt ực một cái, đồng tử run bần bật:
"Trong nhà hoàn toàn trống rỗng. Đồ đạc, hành lý cá nhân của phái đoàn vẫn còn nguyên vẹn trên bàn. Những ly rượu vang uống dở vẫn đặt trên mặt khay bạc. Trên sàn nhà không có một vết máu, không có bất kỳ dấu hiệu xô xát nào. Nhưng toàn bộ ba mươi mốt con người của bữa tiệc tối hôm trước... không một ai biến mất bằng cổng chính cả."
"Không một ai?" Khoa lặp lại, lông mày nhíu chặt.
"Không một ai rời khỏi căn nhà đó bằng cổng chính!" Ông Cần nhấn mạnh từng chữ, giọng nói như nghẹn lại ở đáy họng. "Bọn họ biến mất hoàn toàn, bốc hơi như sương khói giữa căn biệt thự bốn bề đóng kín mít. Biên bản bàn giao năm đó bị đình lại, phía bạn cử người sang điều tra suốt ba tháng ròng nhưng không tìm ra bất kỳ manh mối nào. Cuối cùng, để tránh một cuộc khủng hoảng ngoại giao chấn động, hồ sơ vụ việc bị niêm phong tuyệt mật. Căn nhà bị bỏ hoang từ đó, không một cơ quan nào dám dọn vào ở, không một đại sứ quán nào dám thuê lại."
Trái tim người lính trong lồng ngực Khoa đập mạnh một nhịp dứt khoát. Sự hoài nghi ban đầu hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho một cảm giác ớn lạnh sâu sắc lan tỏa dọc sống lưng. Hình ảnh những con người mặc âu phục sang trọng với chiếc cổ vặn ngược và những hốc mắt trắng dã trong tấm gương thủy ngân đêm qua hiện về rõ mồn một.
Bọn họ chưa từng rời đi.
Bọn họ vẫn bị giam cầm bên trong những bức tường vôi vữa của căn biệt thự ba trăm Kim Mã, biến thành những cái bóng ký sinh vào khối kiến trúc cổ quái ấy suốt hơn ba mươi năm qua.
"Vậy còn tầng áp mái?" Khoa trầm giọng hỏi tiếp. "Tại sao chiếc bóng của cháu lại chỉ lên tầng áp mái?"
Nghe đến ba chữ "tầng áp mái", khuôn mặt ông Cần co rúm lại trong sự tuyệt vọng. Ông lão run rẩy chắp hai bàn tay vào nhau, hướng về phía cửa sổ vái lạy lia lịa như thể đang cầu xin một thế lực vô hình nào đó tha thứ.
"Đừng bao giờ bước lên đó... Cậu nghe lời tôi đi, bỏ việc ngay hôm nay đi!" Ông Cần khóc nấc lên, hai bờ vai gầy guộc run bần bật. "Năm đó, sau khi ngài Đại sứ đóng đinh phong ấn hốc đá dưới chân cầu thang, tôi thấy ông ấy cầm theo chiếc hòm sắt nhỏ leo lên tầng áp mái. Cửa tầng áp mái đã bị đóng đinh bít kín từ bên ngoài bằng những tấm gỗ ván dày cộp. Những gì bị nhốt ở trên đó... còn kinh khủng hơn cả thứ nằm dưới lòng đất!"
Khoa giữ chặt lấy bả vai ông lão, truyền vào đó một luồng lực kiên định để trấn an tinh thần đang hoảng loạn của người nhân chứng:
"Bác Cần, cháu không thể bỏ dở ca trực. Cháu là người lính, cháu cần biết chính xác vị trí của cái hốc đá bị phong ấn dưới chân cầu thang. Nó nằm ở chỗ nào?"
Ông Cần ngước nhìn Khoa, ánh mắt tràn ngập vẻ bi thương và kinh hãi tột cùng. Thấy sự kiên định không chút lay chuyển trong mắt người bảo vệ trung niên, ông lão run rẩy buông một tiếng thở dài thảm não.
"Dưới chân cầu thang xoắn ốc... ngay sau tấm ván ốp chân tường bằng gỗ sồi mục nát, nơi có ba vết đinh sắt đóng chéo hình tam giác ngược." Giọng ông lão thì thào, yếu ớt như tiếng gió rít qua khe cửa. "Ở đó có một khe hở ăn sâu vào móng gạch. Ngài Đại sứ đã giấu một thứ vào khe vách ấy trước khi bước lên tầng trên... Nếu cậu muốn biết sự thật về đêm tiệc ly biệt, cậu phải cạy mảng ốp gỗ đó ra. Nhưng cậu hãy nhớ lấy lời tôi..."
Ông Cần vươn bàn tay xương xẩu tóm chặt lấy cổ tay Khoa, những móng tay vàng ố bấm sâu vào lớp vải áo ấm của anh:
"Một khi cậu chạm vào tấm gỗ phong ấn dưới chân cầu thang, những kẻ trong tấm gương sẽ biết cậu đã nhìn thấy bí mật của chúng. Chúng nó sẽ không để cho cậu sống sót rời khỏi cổng chính đâu!"
Khoa gỡ từng ngón tay run rẩy của ông lão ra khỏi cổ tay mình, đứng dậy chỉnh lại vạt áo đồng phục ngay ngắn. Anh cúi đầu chào người cựu tạp vụ già rồi xoay người bước ra cửa.
Gió lạnh từ hồ Giảng Võ vẫn thổi hun hút dọc hành lang khu tập thể cũ kỹ. Khoa bước xuống cầu thang bộ, trong đầu vang vọng lời cảnh báo của ông lão họ Trần. Anh đưa tay sờ vào con dao găm quân dụng đeo bên hông thắt lưng dưới lớp áo khoác dày.
Trời đã quá trưa, ánh nắng mùa đông nhợt nhạt yếu ớt cố xuyên qua màn mây mù đặc quánh bao trùm khu Ba Đình. Khoa tra chìa khóa khởi động xe máy, hướng thẳng tay lái quay trở lại con đường Kim Mã. Anh biết rõ điều gì đang đợi mình dưới góc khuất chân cầu thang xoắn ốc khi màn đêm buông xuống.