Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 15: Bức Thư Viết Bằng Mực Đỏ

Khoa khép chặt nắm tay quanh chuôi dao găm, bước lùi từng bước chuẩn xác rời khỏi góc chân cầu thang xoắn ốc. Mặt sàn đá hoa râm phủ lớp bụi dày để lại…

Nội dung chương

Khoa khép chặt nắm tay quanh chuôi dao găm, bước lùi từng bước chuẩn xác rời khỏi góc chân cầu thang xoắn ốc. Mặt sàn đá hoa râm phủ lớp bụi dày để lại vết đế giày cao su sắc cạnh, nhưng ngay phía sau gót chân anh, từng giọt nước đục ngầu nhỏ xuống từ trên trần tạo thành những lỗ tròn lõm sâu trên nền vôi. Tiếng kim loại cọ xát ken két trên các bậc thang sắt phía sau lưng vẫn tiếp tục rỉ rả, âm thanh khô khốc vang vọng giữa lòng sảnh thông tầng hun hút.

Tấm ảnh chụp phái đoàn ngoại giao năm 1989 đã được Khoa nhét gọn vào túi ngực bên trong áo khoác bông. Lớp giấy ảnh cứng và góc cạnh cấn thẳng vào xương sườn anh, lạnh toát qua ba lớp áo lót.

Khoa không quay đầu lại nhìn tấm gương thủy ngân. Kinh nghiệm nhiều năm gác kho đạn ở vùng biên cương dạy anh một bài học xương máu: trong đêm tối, khi đối phương tạo ra tiếng động thăm dò, việc quay lưng hay đảo mắt liên tục chỉ bộc lộ sơ hở của bản thân. Anh duy trì nhịp thở đều đặn bốn giây hít vào, bốn giây nín thở, lui dần về phía góc hành lang tiếp giáp với sảnh chính, nơi bốt gác bằng khung gỗ và kính của ban quản lý công trình tạm bợ được dựng lên từ đầu tháng.

Cánh cửa bốt gác khép hờ. Khoa luồn người vào trong, lập tức đẩy mạnh then cài bằng sắt non xuống rãnh then.

Cạch.

Tiếng then sắt ăn khớp vào ổ khóa đem lại một cảm giác ngăn cách tạm thời, dẫu cho Khoa biết rất rõ những tấm vách gỗ dán công nghiệp dày chưa đầy hai phân cùng mấy ô kính mỏng chẳng thể chống đỡ nổi bất kỳ sức ép cơ học thực sự nào. Anh vặn chốt phụ bằng đồng, kéo luôn tấm rèm vải bạt màu xanh công nhân che kín ô kính nhìn thẳng ra hướng chân cầu thang.

Bốt gác có diện tích chưa đầy sáu mét vuông, kê vừa một chiếc bàn gỗ ép đã ẩm mục bốn góc, một chiếc ghế tựa bọc giả da nứt nẻ và bảng điện tạm nối từ cột hạ thế ngoài đường Kim Mã vào. Không khí bên trong bốt gác nồng nặc mùi mồ hôi khô, mùi mì tôm ăn dở ca chiều và mùi dầu gió Trường Sơn mà người đồng nghiệp lớn tuổi hay xức lên thái dương.

Khoa đặt khẩu dùi cui điện chuyên dụng lên mặt bàn gỗ, ngay sát con dao găm quân sự đã tuốt khỏi vỏ. Anh đưa tay quệt mồ hôi lạnh đọng trên sống mũi, ngước mắt nhìn lên chiếc đồng hồ treo tường vỏ nhựa màu đỏ mận.

Mười hai giờ hai mươi lăm phút đêm.

Ca trực bước vào giai đoạn nguy hiểm nhất. Đêm Hà Nội những ngày cuối năm thường đặc quánh hơi ẩm từ hồ Giảng Võ và sông Tô Lịch tạt vào, nhưng lúc này, sự ẩm ướt trong căn biệt thự 300 Kim Mã lại mang một tính chất hoàn toàn khác biệt. Nó không mang theo mùi cỏ mục hay phù sa sông nước, mà sực nức mùi tường vôi ngâm nước lâu ngày, mùi rêu phong bám chặt trên các khối đá móng và mùi sắt rỉ ẩm ướt rữa nát từ những đường ống nước thời Pháp.

Khoa với tay bật công tắc chiếc ấm đun nước siêu tốc đặt ở góc bàn, định pha một cốc trà đặc để giữ sự tỉnh táo cho các giác quan.

Tách.

Đèn báo đỏ trên thân ấm vừa lóe sáng thì kim của chiếc vôn kế gắn trên bảng điện gắn tường giật mạnh một nhịp.

Kim đo điện áp từ vạch hai trăm hai mươi vôn tụt thẳng xuống dưới một trăm sáu mươi. Sợi dây tóc bên trong bóng đèn tròn sáu mươi watt treo lơ lửng giữa trần bốt gác lập tức đỏ ửng lên thành một vòng tròn màu cam xỉn, không đủ sức phát quang mà chỉ tỏa ra một luồng sáng yếu ớt, ma quái soi rọi những hạt bụi lơ lửng bất động trong không gian.

Tiếng dòng điện chạy qua cuộn dây biến áp phát ra âm thanh vo ve râm ran như đàn ong vò vẽ làm tổ trong góc tường.

Khoa buông tay khỏi quai ấm, bàn tay lập tức chuyển sang nắm chặt lấy báng cao su của chiếc dùi cui điện. Đèn báo pin xanh lục trên thân dùi cui vẫn sáng ổn định, báo hiệu nguồn điện dự phòng sáu ngàn vôn của thiết bị tác chiến cá nhân này vẫn ở trạng thái sẵn sàng.

Đúng lúc đó, một mùi hương lạ xộc thẳng qua các khe hở của khung cửa bốt gác.

Đó là mùi long não.

Mùi băng phiến nồng nặc, cay xè và gắt đến mức làm niêm mạc mũi của Khoa rát buốt. Thứ mùi này thường chỉ bốc lên khi người ta mở tung những chiếc rương gỗ lim bọc da chứa đầy quần áo len dạ của mùa đông cũ kỹ, bị lãng quên dưới đáy tủ suốt nhiều năm ròng rã. Nó quánh đặc, đậm đặc đến nghẹt thở, nhanh chóng đè bẹp hoàn toàn mùi dầu gió và mùi ẩm mốc của căn phòng bảo vệ chật hẹp.

Xen lẫn trong vị cay nồng của long não là mùi khói thuốc lá.

Không có tiếng bật lửa zippo, cũng không có tiếng xé giấy gói thuốc. Nhưng làn khói xám tro mỏng manh bắt đầu cuộn tròn, chầm chậm luồn qua khe hở rộng nửa đốt ngón tay dưới chân cánh cửa gỗ của bốt gác.

Khoa nhận ra mùi khói đó ngay lập tức. Mùi xì-gà La Habana thượng hạng, nồng đượm vị lá thuốc lên men quyện lẫn hương gỗ tuyết tùng khô khốc. Đây chính là thứ mùi ngoại giao vương giả từng ngự trị trong các phòng khánh tiết thời kỳ trước, khi những vị đại sứ và các nhà ngoại giao quốc tế ngồi quanh bàn tiệc bàn thảo về các hiệp ước và phân chia ranh giới.

Mùi long não của xác chết được bảo quản trong tủ kín cùng mùi xì-gà của những người đã biến mất hơn ba mươi năm trước đang hòa vào nhau, tạo thành một hỗn hợp mùi vị lợm giọng đặc sánh quanh quẩn khắp gian phòng.

Khoa nheo mắt, đứng thẳng dậy. Lưng anh tựa sát vào góc tường vững chãi nhất của bốt gác, tạo thế đứng ba điểm kiên cố. Ánh mắt người lính lướt qua ba mặt kính còn lại của phòng bảo vệ.

Một mặt nhìn ra cổng sắt khóa xích hướng thẳng ra đường Kim Mã. Bên ngoài, ánh đèn cao áp màu vàng đục của trục đường chính Ba Đình rọi xuống mặt đường nhựa ướt rượt không một bóng người qua lại. Đôi lúc có một chiếc xe tải chở vật liệu chạy gầm rú qua cầu vượt, nhưng tiếng máy gầm gừ ấy vừa chạm vào bức tường rào bê tông cao ba mét của khu đất này liền bị triệt tiêu sạch trơn, biến thành những âm thanh ục ục như vọng lên từ dưới đáy giếng sâu.

Hai mặt kính còn lại nhìn sâu vào đại sảnh và hành lang dẫn về dãy phòng làm việc cũ kỹ của toà biệt thự.

Phía sau lớp kính mỏng bám đầy bụi xi măng, đại sảnh tối đen như một họng súng khổng lồ.

Tiếng bước chân trần kéo lê lẹt xẹt trên nền gạch hoa xi măng bắt đầu xuất hiện.

Âm thanh đó di chuyển rất chậm, từ hướng chân cầu thang xoắn ốc tiến dần về phía bốt gác. Tiếng da thịt ẩm ướt giẫm lên lớp vôi vụn nghe lạo xạo, xen kẽ với tiếng vải vóc thô ráp cọ vào mặt tường vôi sần sùi. Cứ sau mỗi bước chân, tiếng thở dài nặng nhọc lại vang lên, kèm theo những tiếng rít khẽ của luồng không khí bị ép qua thanh quản méo mó.

Khoa đưa tay trái che mũi, tay phải ngón trỏ đặt hờ lên công tắc phóng điện của dùi cui. Anh nhìn chằm chằm vào khoảng tối bên ngoài ô cửa kính hướng về phía sảnh.

Chiếc bóng đen kịt từ từ tách ra khỏi chân cột đá trụ đỡ trần.

Đó là vóc dáng của một người đàn ông cao lớn, khoác trên mình bộ âu phục sẫm màu với đôi cầu vai cứng đờ vuông vức. Cái bóng bước đi xiêu vẹo, phần đầu ngoẹo hẳn sang một bên vai theo một góc gập bất thường, gần như gãy gập xuống xương quai xanh. Từng cử động của thân thể ấy đều giật cục, giống như một con rối gỗ bị đứt dây điều khiển nhưng vẫn bị một lực vô hình nào đó kéo lê trên sàn nhà.

Cái bóng dừng lại cách bốt gác khoảng năm mét, ngay rìa vệt sáng le lói phát ra từ bóng đèn sợi đốt đang hấp hối trong phòng Khoa.

Làn khói xì-gà bốc lên từ khoảng tối nơi cái bóng đứng, cuộn tròn thành từng dải xám ngoét trôi là đà ngang tầm mắt. Mùi long não lúc này bốc lên nồng nặc đến mức đỉnh đầu Khoa nhức buốt từng cơn, hai thái dương giật thắt liên hồi.

"Bác Cần đã nói đúng," Khoa thầm nghĩ, hàm răng nghiến chặt vào nhau. "Bọn họ chưa từng bước ra khỏi cổng chính."

Khoa căng mắt nhìn vào phần mặt của cái bóng. Nhưng ở khoảng cách ấy, khuôn mặt của thực thể hoàn toàn là một khoảng tối đen trũng sâu, hệt như vết giấy ảnh bị cào rách trên bức hình anh đang giấu trong ngực áo. Duy chỉ có hai đốm sáng màu xám đục lấp lánh như lân tinh đang hướng thẳng về phía Khoa, không chớp, không chuyển động.

Tiếng kim vôn kế trên bảng điện đập lách cách liên hồi. Điện áp bắt đầu nhảy múa điên loạn: một trăm tám mươi vôn, một trăm mười vôn, rồi vụt tắt hẳn, chỉ còn lại sợi dây vonfram đỏ lừ như một giọt máu khô.

Cái bóng bắt đầu di chuyển.

Không phải tiến thẳng về phía cửa bốt, mà lướt ngang qua ô kính chắn gió phía trước mặt Khoa. Thân hình nó lướt êm ru trên không trung, không còn tiếng bước chân lạo xạo, chỉ có tiếng gió rít nhè nhẹ qua các kẽ nứt của lớp vữa trần.

Khoa không lùi bước. Anh xoay người theo hướng di chuyển của cái bóng, đầu mũi dùi cui điện luôn hướng thẳng về phía mục tiêu qua lớp kính ngăn cách. Ngón tay anh siết chặt công tắc, sẵn sàng ấn xuống để kích hoạt hồ quang xanh biếc xé toang bóng tối nếu lớp kính bị phá vỡ.

Đúng lúc cái bóng lướt qua khung kính lớn nhất nhìn ra hành lang, kim đo của chiếc vôn kế bỗng nhiên giật nảy kịch kim sang vạch ba trăm vôn.

Một tiếng nổ đanh gọn vang lên ngay trên đỉnh đầu Khoa.

Tách!

Bóng đèn sợi đốt sáu mươi watt vỡ tung ra thành hàng trăm mảnh thủy tinh vụn li ti. Sợi dây vonfram bốc cháy lóe lên một tia sáng trắng chói lòa trong một phần mười giây rồi vụt tắt ngúm. Vài tia lửa điện đỏ rực bắn tung tóe xuống mặt bàn gỗ ép, rơi vào cuốn sổ nhật ký ca trực tạo thành những lỗ thủng cháy sém khét lẹt.

Bóng tối đen đặc ụp xuống bốt gác như một tấm vải liệm trùm kín.

Sự tĩnh lặng tuyệt đối bao trùm trong ba nhịp thở, chỉ còn lại mùi thủy tinh cháy khét lẹt quyện chặt lấy mùi long não nồng nặc.

Khoa lập tức hạ thấp trọng tâm, ngón tay cái bấm mạnh vào nút công tắc đèn pin chiến thuật gắn bên hông thắt lưng.

Tách.

Luồng ánh sáng vàng sắc lẹm từ thấu kính đèn pin rọi thẳng vào ô kính phía trước mặt bàn làm việc.

Cảnh tượng hiện ra sau luồng sáng khiến cơ bắp toàn thân người lính cựu co rút dữ dội.

Áp chặt vào mặt ngoài của tấm kính thủy tinh mỏng manh, không phải một chiếc bóng độc lập nào nữa.

Hàng loạt bàn tay người.

Hàng chục, rồi hàng trăm bàn tay xám ngoét, ướt sũng bùn đất và chất nhầy nhờn nhợt đang dán chặt lên mặt kính từ bên ngoài. Những ngón tay dài ngoẵng, nhăn nheo như ngâm nước lâu ngày cào xới điên cuồng lên mặt kính, để lại những vệt nước đục ngầu trượt dài thành dòng rỉ rả. Những lòng bàn tay trắng bệch ép mạnh đến mức các khớp xương biến dạng, làm cho tấm kính dày năm ly của bốt gác phát ra những tiếng ken két rạn nứt ghê người.

Những bàn tay ấy vươn ra từ mọi góc tối của hành lang và sảnh lớn, tầng tầng lớp lớp chồng chéo lên nhau, bịt kín toàn bộ các ô kính của căn bốt bảo vệ. Chúng vây kín lấy căn phòng nhỏ, cô lập hoàn toàn không gian bên trong với thế giới bên ngoài.

Qua những kẽ hở giữa các ngón tay nhớp nháp đang ép chặt trên kính, Khoa nhìn thấy phía xa, ở cuối hành lang tối tăm dẫn về dãy phòng hành chính, cánh cửa gỗ sồi của căn phòng lưu trữ hồ sơ đang mở toang một nửa.

Bên trong căn phòng đó, chiếc tủ sắt ba ngăn gỉ sét xám xịt đứng sừng sững dưới ánh trăng mờ lọt qua khe cửa sổ vỡ.

Vòng vây vô hình đã khép chặt quanh chiếc lồng kính mỏng manh này. Cố thủ ở đây chỉ là chờ chết khi lớp kính vỡ vụn. Muốn tìm đường sống và lật mở toàn bộ sự thật bị chôn giấu suốt ba mươi năm qua, anh buộc phải phá tung cánh cửa bốt gác, xông thẳng qua đám thực thể này để chạm tới văn bản lưu trữ cuối cùng đang nằm kẹt dưới đáy chiếc tủ sắt kia.

Khoa hít sâu một hơi luồng không khí nồng nặc mùi long não, ngón tay gạt chốt phóng điện của chiếc dùi cui. Tiếng hồ quang xanh lè nổ lách tách rực sáng trong bóng tối.

Chương khác

Xem thêm