Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 17: Cái Bóng Thứ Ba

Nguyễn Hữu Khoa gấp phẳng tập giấy công văn màu vàng ố, cẩn thận lồng vào chiếc túi ni lông có khóa kéo chống nước rồi nhét sâu vào ngăn ngực trong cùng…

Nội dung chương

Nguyễn Hữu Khoa gấp phẳng tập giấy công văn màu vàng ố, cẩn thận lồng vào chiếc túi ni lông có khóa kéo chống nước rồi nhét sâu vào ngăn ngực trong cùng của chiếc áo khoác bảo hộ. Tiếng cửa sổ gỗ lim va đập bần bật khắp ba tầng nhà vừa đột ngột ngừng lại, trả căn phòng lưu trữ hồ sơ về một khoảng lặng nặng nề. Vữa trần rơi rụng từng mảng lả tả, phủ một lớp bụi trắng mỏng lên đôi ủng cao su và mặt bàn gỗ ép mục nát.

Khoa bước nhanh ra khỏi căn phòng hồ sơ, bàn tay siết chặt báng chiếc dùi cui điện. Anh không để bản thân chìm vào sự hoang mang. Mười năm phục vụ trong quân ngũ và những năm tháng canh gác các kho quân lương trọng yếu ở vùng biên giới đã rèn cho anh phản xạ thực tế: khi mối đe dọa hiển hiện trước mắt, việc đầu tiên cần làm là kiểm soát địa bàn và củng cố chốt chặn.

Cảnh báo cuối cùng trong bản báo cáo mật năm 1990 vang lên rõ mồn một trong đầu anh. Vào những đêm giông bão lớn, khi áp suất khí quyển giảm mạnh và sấm sét đánh thức từ trường dưới lòng đất, kết giới chì sẽ suy yếu đến mức tối đa. Những thứ bị giam hãm suốt hơn ba thập kỷ qua sẽ tìm mọi cách tràn lên tầng áp mái để phá vỡ phong ấn còn sót lại.

Khoa bước tới hành lang chính của tầng một. Nhiệt độ không khí đang tụt dốc không phanh. Một luồng khí áp thấp đặc quánh luồn qua các khe thông gió, mang theo vị mặn chát của hơi nước bốc lên từ sông Hồng và mùi khét lẹt của tầng ozone bị xé rách trên tầng bình lưu.

Ngoài khung cửa sổ kính vỡ nhìn ra phố Kim Mã, bầu trời Ba Đình đã đổi sang một sắc tím thẫm ma quái. Mây đen vần vũ kéo về từ mạn tây bắc, cuồn cuộn che lấp nóc các tòa đại sứ quán xung quanh. Những ngọn đèn cao áp màu vàng nhạt dọc trục đường Kim Mã bắt đầu chao đảo dưới luồng gió thốc đầu mùa. Bản tin dự báo thời tiết phát trên chiếc đài bán dẫn lúc chiều muộn đã cảnh báo về một khối không khí lạnh dị thường va chạm với áp thấp nhiệt đới, tạo thành một cơn bão trái mùa có cường độ mạnh quét thẳng vào lòng Hà Nội.

Cơn giông này đến nhanh hơn mọi dự tính.

Khoa đi thẳng về phía bốt gác bảo vệ ở góc sân trước. Mặt đất dưới chân anh rung nhẹ từng nhịp, không phải rung chấn địa chấn thông thường mà giống như sự co giật của một mạch máu ngầm nằm sâu dưới móng nhà. Chiếc áo mưa cánh dơi bằng vải bạt quân đội dầy cộp được anh giật phắt khỏi móc treo, khoác trùm ra ngoài bộ đồng phục bảo vệ sờn vai.

Anh gom toàn bộ đồ nghề dự phòng đặt lên mặt bàn: ba cuộn xích sắt phi mười, năm chiếc ổ khóa đồng Việt Tiệp loại lớn, búa đinh, hộp đinh mười phân và cuộn dây thép bện. Dưới thời tiết thế này, mọi cánh cửa thông gió và lối ra vào của tầng trệt đều phải được khóa chết từ bên trong. Nếu để gió bão thổi tung các cánh cửa mục nát, luồng âm khí tích tụ dưới tầng hầm sẽ thuận theo các luồng thông gió mà bốc ngược lên tầng trên nhanh hơn.

Khoa với lấy chiếc đèn pin halogen công suất lớn, cài thêm một băng pin tiểu vào thắt lưng chiến thuật rồi quay lại sảnh chính của tòa nhà.

Gió bắt đầu rít qua rặng xà cừ cổ thụ bao quanh khuôn viên số 300. Những cành cây to bằng bắp chân người lớn va đập vào nhau chan chát, phát ra những tiếng răng rắc khô khốc. Vài hạt mưa đầu tiên rơi xuống, to bằng hạt ngô, đập bộp bộp vào lớp mái ngói vảy cá của tòa nhà Pháp cổ. Rồi chỉ sau mười nhịp thở, đất trời Ba Đình vỡ òa trong một trận cuồng phong trút nước.

Màn mưa dày đặc như một bức màn trắng xóa ụp xuống, nuốt chửng toàn bộ tầm nhìn ra đường lớn. Nước mưa táp rát rạt vào mặt Khoa qua những ô cửa sổ không có kính chắn, mang theo hơi lạnh buốt thấu xương.

Khoa bắt đầu từ cánh cửa hậu nằm ở phía cuối hành lang tầng một, nơi dẫn ra mảnh vườn chuối hoang phế giáp ranh với khu dân cư ngõ Vạn Bảo. Cánh cửa gỗ hai cánh này đã bị mục phần chân do ẩm ướt lâu ngày, bản lề sắt han gỉ kêu cót két mỗi khi gió giật.

Khoa ghì chặt vai vào cánh cửa, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể đẩy mạnh mép gỗ khớp vào khung nẹp. Anh kéo then cài bằng sắt đặc trượt sâu vào lỗ ngàm trên sàn nhà, sau đó luồn đoạn xích sắt qua hai tay nắm hình đầu sư tử bằng đồng, quấn ba vòng thật chặt rồi bấm ổ khóa Việt Tiệp lại. Tiếng "tách" đanh gọn của bi khóa kim loại đem lại một cảm giác an toàn cơ học tạm thời.

Anh dùng búa đóng thêm ba chiếc đinh mười phân chéo góc vào khung cửa để triệt tiêu độ rung lắc. Mỗi nhát búa nện xuống thân đinh gỗ lim phát ra tiếng chan chát vang vọng khắp dãy hành lang vắng lặng.

Nước mưa bắt đầu chảy tràn qua khe cửa dưới sàn, tạo thành một vệt nước đen ngòm rỉ rả men theo các đường mạch vữa gạch bông. Mùi đất ẩm xộc lên nồng nặc, quyện với mùi rêu mốc và mùi sáp niêm phong từ căn phòng hồ sơ tạo thành một thứ tử khí khó thở.

Khoa di chuyển tiếp sang dãy cửa sổ lá sách dọc cánh đông của tòa nhà. Có tổng cộng sáu khung cửa sổ lớn nhìn ra khoảng sân phụ đầy cỏ dại. Những thanh gỗ thông gió đã bị thời gian gặm nhấm, nhiều chỗ lung lay chực rơi ra. Khoa kiểm tra từng then chốt chữ T bằng đồng, tra chốt cài xuống móc giữ, rồi dùng dây thép bện quấn chặt các thanh cài vào chấn song sắt dày bản.

Bên ngoài, sấm rền bắt đầu nổ ra từ phía chân trời xa. Những tiếng ầm ì trầm đục lan truyền qua lòng đất, khiến toàn bộ khung cửa sổ rung bần bật trong tay anh.

Khi Khoa bước đến khung cửa sổ thứ tư, ánh đèn pin của anh quét qua lớp kính mờ bụi nước. Qua màn mưa mù mịt ngoài sân, một vật thể màu trắng đung đưa giữa hai thân cây xà cừ. Khoa chớp mắt, đưa luồng sáng tập trung vào điểm đó. Đó là chiếc xích đu rỉ sét cũ kỹ của các nhân viên ngoại giao để lại từ năm 1989. Dưới sức gió gầm giật cấp tám, chiếc xích đu sắt không hề đung đưa theo chiều gió xuôi ngược, mà đang xoay tròn tại chỗ từng vòng chậm rãi, đều đặn như một chiếc kim đồng hồ khổng lồ đang đếm ngược thời gian.

Khoa lạnh lùng siết chặt thêm một vòng dây thép, vặn xoắn nút buộc bằng kìm cơ khí rồi dứt khoát quay lưng bước tiếp. Người lính không để sự chú ý của mình bị phân tán bởi những hiện tượng quấy nhiễu thị giác. Nhiệm vụ tối thượng đêm nay là thiết lập phòng tuyến, cô lập căn nhà trước khi biến cố thực sự bùng nổ.

Lối xuống tầng hầm là điểm kiểm tra tiếp theo. Cánh cửa sắt đặc sơn màu xanh quân đội ngăn cách cầu thang dẫn xuống hầm rượu và hệ thống cống ngầm của tòa nhà. Đây là nơi bắt nguồn của quy tắc sống còn thứ nhất mà người đi trước đã căn dặn: khóa chặt cửa tầng hầm sau hai mươi ba giờ.

Đồng hồ trên cổ tay Khoa đã chỉ mười một giờ bốn mươi phút đêm.

Khoa bước tới trước cánh cửa sắt. Ổ khóa số và then trượt vẫn nằm nguyên vị trí cũ, nhưng từ dưới khe hở chân cửa, một làn sương lạnh màu xám đục đang rỉ ra, trườn bò trên mặt sàn gạch hoa văn như những xúc tu vô hình. Nhiệt độ xung quanh khu vực này thấp hơn hẳn các phòng khác ít nhất năm độ C.

Khoa đặt lòng bàn tay lên bề mặt tấm kim loại dày. Cánh cửa sắt lạnh ngắt như một tảng băng vừa vớt lên từ đáy giếng. Anh nghe thấy từ phía dưới sâu, qua những bậc thang bê tông ẩm thấp, tiếng nước chảy róc rách xen lẫn tiếng kim loại cạo vào thành đá. Đó không phải tiếng nước cống chảy tràn do mưa lớn. Âm thanh đó phát ra thành từng nhịp đều đặn, lê thê, hệt như tiếng một sợi xích sắt khổng lồ đang bị kéo lê trên sàn gạch ngập nước.

Lực lượng âm khí từ huyệt đạo ngầm quá mạnh. Chúng đã bẻ gãy toàn bộ các điểm neo tâm linh. Câu chữ trong bản công văn lại dội về trong trí óc Khoa.

Khoa không mở cửa hầm để kiểm tra. Anh lôi sợi xích thứ hai, khóa chéo thêm một đường bên ngoài tay nắm cửa, gia cố chốt chặn bằng một ổ khóa đồng thứ ba. Hai lớp khóa kim loại cọ vào nhau kêu lách cách. Anh muốn đảm bảo rằng bất kể thứ gì đang thức dậy dưới lòng đất kia, chúng sẽ không thể bước lên tầng một một cách dễ dàng bằng con đường vật lý thông thường.

Khi anh vừa khóa xong chốt cuối cùng, một tia chớp rạch ngang bầu trời đêm.

Tia sáng trắng xanh rực rỡ xé toang bóng tối bao trùm phố Kim Mã trong một phần tư giây, soi rõ từng chi tiết kiến trúc của đại sảnh: những cột trụ tròn kiểu La Mã vỡ lở trơ gạch đỏ,

bức phù điêu thạch cao hình thiên thần cụt cánh trên vòm trần. Phía dưới là chiếc cầu thang xoắn ốc bằng gỗ lim uốn lượn dẫn thẳng lên bóng tối thăm thẳm của tầng hai và tầng áp mái.

Ngay sau tia chớp, một tiếng sét nổ tung ngay trên đỉnh đầu tòa nhà.

ĐÙNG!

Mặt đất rung chuyển dữ dội. Sóng xung kích từ tiếng sét làm vỡ toang hai ô kính thông gió trên cao, những mảnh thủy tinh rơi rào rào xuống bậc thềm gạch. Toàn bộ hệ thống bóng đèn sợi đốt còn sót lại trên trần đại sảnh nháy giật liên hồi rồi đồng loạt tắt phụt.

Tiếng máy biến áp ngoài đầu ngõ Vạn Bảo nổ bùm một tiếng chói tai, kéo theo một cột khói đen bốc lên giữa trời mưa. Toàn bộ lưới điện khu vực Kim Mã, Liễu Giai và một góc phố Vạn Phúc chìm ngập hoàn toàn vào bóng đen dày đặc.

Không còn ánh đèn đường hắt vào từ cửa sổ. Không còn ánh đèn pha quét qua từ những chiếc xe máy chạy muộn trên đường. Cả khu ngoại giao đoàn Ba Đình giờ đây biến thành một vùng bình địa tối tăm, chỉ còn tiếng gió mưa gầm thét xé toạc màn đêm và tiếng nước gõ rầm rập lên các tấm tôn rỉ.

Tòa nhà 300 Kim Mã đã bị cô lập hoàn toàn giữa lòng thủ đô.

Khoa bật công tắc đèn pin halogen. Luồng ánh sáng vàng đặc quánh cắt xuyên qua màn bụi vữa vừa rơi xuống, rọi thẳng về phía lối vào chính của tòa nhà.

Cửa chính của căn biệt thự gồm hai cánh cửa gỗ sồi đồ sộ bọc đồng, hiện đang khép hờ để đón gió thông hơi cho người trực ban. Xa hơn mười mét, qua khoảng sân xi măng ngập nước xối xả, là cánh cổng sắt đen đồ sộ ngăn cách khuôn viên số 300 với mặt đường Kim Mã. Cánh cổng sắt ấy vốn được Khoa khép hờ vào lúc đầu ca trực, chỉ cài then nông để tiện quan sát người qua lại.

Khoa bước nhanh về phía thềm sảnh chính, định bụng lao ra sân dưới trời mưa để khóa chặt cánh cổng sắt trước khi gió bão làm nó va đập gãy bản lề.

Mưa táp thẳng vào mặt anh. Nước lạnh buốt chảy tràn từ trán xuống cằm, ngấm qua cổ áo len bên trong chiếc áo mưa bảo hộ dày cộp. Từng giọt nước mưa đập vào gò má rát như bị ném sỏi. Giữa khoảng sân, nước ngập đã dâng cao ngập đến mắt cá chân, biến nền xi măng thành một mặt hồ sủi bọt đục ngầu phù sa và lá mục.

Đúng lúc Khoa vừa bước một chân xuống bậc thềm đá hoa cương ngoài sảnh, một tia sét thứ hai lại rạch nát bầu trời Ba Đình.

Ánh chớp sáng lòa, kéo dài thành ba vệt ngoằn ngoèo xé dọc màn mây đen đặc quánh. Ánh sáng chói chang biến không gian xung quanh thành một bức ảnh đen trắng với độ tương phản cực đại.

Dưới luồng ánh sáng chói lòa ấy, cánh cổng sắt đen nặng hàng trăm cân ở lối vào số 300 Kim Mã bỗng nhiên chuyển động.

Không có bóng người nào đẩy cổng. Không có sức gió nào đủ mạnh để bẻ cong lực cản của khối kim loại đúc dày dặn. Hai cánh cổng sắt từ từ khép lại, từng tấc một, phát ra tiếng ma sát kim loại rợn người lấn át cả tiếng mưa gầm.

Rầm!

Hai cánh cổng sắt va đập vào nhau với một lực va chạm kinh hoàng. Then cài bằng gang đúc từ trên đỉnh cổng tự động sập xuống ngàm khóa đánh "khục" một tiếng đanh gọn, như thể vừa có một bàn tay hộ pháp đóng chốt từ phía ngoài đường.

Cánh cổng đã khóa chặt. Biệt thự 300 Kim Mã đã tự niêm phong lối thoát duy nhất dẫn ra thế giới văn minh bên ngoài.

Khoa dừng bước ngay trên bậc thềm đá. Bàn tay anh siết chặt báng dùi cui điện đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Phản xạ của người lính cựu mách bảo anh rằng mối đe dọa không còn nằm ở phía ngoài cổng nữa. Mối nguy hiểm thực sự đã hoàn thành việc khép kín vòng vây.

Anh từ từ xoay người lại, hướng luồng sáng đèn pin ngược vào trong đại sảnh của căn nhà.

Ánh chớp trên trời vừa tắt ngấm, để lại luồng sáng vàng đơn độc từ chiếc đèn pin trong tay Khoa. Luồng sáng quét từ bậc thềm cửa chính, qua ngưỡng cửa đá hoa cương bị nứt vỡ, rồi dừng lại ở sàn nhà phòng khách.

Trên nền gạch bông hoa văn hình học cổ điển, ngay tại mép cửa sảnh chính nơi Khoa vừa đứng lùi lại nửa bước, một vệt nước đục ngầu vừa xuất hiện.

Đó là một dấu chân trần của người lớn.

Dấu chân ướt sũng bùn đất đen sẫm, in hằn rõ mồn một từng vết vân da và năm ngón chân tõe ra, ngập trong lớp nước mưa nhờn nhợt. Vết bùn ấy còn tươi rói, nước từ mép vết chân vẫn đang rỉ ra, lan chậm trên các đường ron xi măng xám xịt.

Khoa nín thở. Đôi mắt anh căng ra nhìn chằm chằm vào khoảng trống ngay trước mặt.

Không hề có ai đứng đó. Chỉ có luồng không khí lạnh buốt bốc lên mùi bùn tanh tưởi của đáy đầm lầy pha lẫn mùi long não nồng nặc đến nghẹt thở.

Tõm.

Một tiếng động nhỏ xíu nhưng vang lên rành rọt giữa tiếng sấm rền ngoài trời.

Một dấu chân bùn thứ hai lập tức hiện hình trên nền gạch, cách dấu chân thứ nhất đúng một bước chân bình thường.

Rồi dấu thứ ba.

Dấu thứ tư.

Chuỗi dấu chân bùn ướt rượt cứ thế lần lượt xuất hiện từ hư không, in lún phún từng vết nhơ nhớp trên mặt sàn, lướt ngang qua mũi ủng cao su của Khoa mà không hề dừng lại. Khoảng cách giữa những bước chân đều đặn một cách máy móc, hướng thẳng từ ngưỡng cửa chính, băng qua trung tâm đại sảnh, tiến về phía chân cầu thang xoắn ốc bằng gỗ lim.

Nước bùn đen ngòm từ các dấu chân nhỏ giọt rỉ rả, để lại một vệt dài bốc khói mờ ảo trong luồng sáng đèn pin.

Từng bước, từng bước một.

Chuỗi dấu chân bước lên bậc gỗ đầu tiên của cầu thang xoắn. Tiếng ván gỗ lim ba mươi năm tuổi rên rỉ phát ra một tiếng "ken két" khô khốc dưới sức nặng của một thực thể vô hình.

Vết bùn thứ năm in thẳng lên mặt bậc gỗ, rồi vệt nước tiếp tục leo lên bậc thứ hai, thứ ba, uốn lượn theo vòng xoắn của khung lan can sắt mỹ nghệ, dẫn thẳng lên bóng tối thăm thẳm của tầng hai và tầng áp mái phía trên.

Một tiếng đàn dương cầm lạc điệu bỗng nhiên buông xuống từ khoảng tối trên cao, rơi tõm vào khoảng lặng giữa hai đợt sấm sét.

Cánh cổng phía sau lưng Khoa đã khóa chết dưới mưa bão. Cánh cửa thông lên nơi đặt lõi phong ấn bị vỡ phía trên đầu anh vừa đón một kẻ trở về.

Khoa hít sâu một hơi luồng không khí tanh tưởi, ngón tay cái gạt chốt an toàn của chiếc dùi cui điện sang vị trí kích hoạt tối đa. Tia lửa hồ quang xanh biếc nổ lách tách trên đầu mũi kim loại, soi rõ khuôn mặt đanh lại như thép nguội của người lính già.

Đêm trực định mệnh thực sự chỉ vừa mới bắt đầu.

Chương khác

Xem thêm