Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 19: Dấu Chân Bùn Ướt

Dòng nước đen ngầu sủi bọt nhờn nhợt tràn qua ngưỡng cửa cổng sắt, rạch đôi khoảng sân lát gạch xám đang chìm trong mưa xối xả. Nguyễn Hữu Khoa ghìm chặt…

Nội dung chương

Dòng nước đen ngầu sủi bọt nhờn nhợt tràn qua ngưỡng cửa cổng sắt, rạch đôi khoảng sân lát gạch xám đang chìm trong mưa xối xả.

Nguyễn Hữu Khoa ghìm chặt đế ủng cao su xuống mặt xi măng trơn trượt. Gió luồn qua khe cổng vừa bung chốt rít lên từng hồi the thé, quất thẳng những hạt mưa rát buốt vào nửa bên mặt anh. Mùi tanh tưởi bốc lên sực nức, thứ mùi ngai ngái của đất bùn đáy ao tù nhiều năm tích tụ xác lá rữa mục lẫn tạp chất hữu cơ phân hủy, pha trộn với mùi tanh kim loại rỉ sét từ đường ray cũ thời Pháp. Khoa siết chặt thân chiếc đèn pin Maglite bằng vỏ nhôm đúc, lòng bàn tay trong găng tay bảo hộ bắt đầu rịn một lớp mồ hôi lạnh ngắt.

Là một người từng trải qua nhiều năm canh giữ kho đạn và công trình quân sự vùng biên giới, Khoa hiểu rõ bản chất của bóng đêm. Đêm tối không bao giờ hoàn toàn im lặng. Luôn có tiếng côn trùng, tiếng gió cọ xát vào ngọn cỏ, tiếng cựa mình của các thanh xà gỗ mục. Nhưng màn đêm bên trong khuôn viên biệt thự số 300 Kim Mã lúc này mang một tính chất hoàn toàn dị biệt. Nó đặc quánh, nặng nề đè ép lên lồng ngực như một khối bùn lỏng sắp đông cứng.

Khoa hạ thấp trọng tâm cơ thể, bước giật lùi từng bước một về phía hành lang có mái hiên che. Đôi mắt anh đảo liên tục từ khe hở cánh cổng sắt đen kịt ra mặt đường Kim Mã ngập nước phía xa, rồi thu luồng sáng trở lại vệt nước đục đang bò dần vào sân.

Không có người. Tuyệt đối không có một bóng dáng cụ thể nào xuất hiện dưới màn mưa bão. Nhưng vệt nước đen ngòm kia lại chảy ngược dốc.

Sân trước của ngôi biệt thự được thiết kế theo lối kiến trúc thuộc địa kinh điển, mặt sàn dốc dần từ thềm đại sảnh xuôi ra phía cổng chính nhằm mục đích thoát nước mưa tự nhiên vào hệ thống cống ngầm thời trước. Thế nhưng dòng nước đen sẫm rỉ ra từ khe cổng lại đang chảy ngược dốc một cách trái khoáy. Nó rẽ qua từng khe nứt của lớp vữa trát, bò ngoằn ngoèo như một đàn rắn nước đen đặc, tiến thẳng về phía chốt gác bảo vệ nằm nép bên góc tường rào.

Khoa hít một hơi sâu, nén chặt luồng khí lạnh ngắt vào đáy phổi rồi quay phắt người lại. Anh di chuyển nhanh nhẹn nhưng dứt khoát men theo bờ tường rào phủ đầy rêu phong.

Quy tắc đi tuần đêm mà người tiền nhiệm từng nhấn mạnh vang vọng trong đầu anh: luôn đi sát chân tường, rọi đèn xuống góc chân tường ở cự ly ngắn từ một đến hai mét, tuyệt đối tránh rọi thẳng chùm sáng vào khoảng không vô định giữa phòng hoặc các tấm gương lớn bám bụi. Ở cự ly gần sát mặt đất, ánh sáng phản xạ từ lớp vôi vữa ẩm sẽ tạo thành một viền bảo vệ thị giác, giúp người gác không bị lóa mắt trước những biến đổi đột ngột của bóng tối.

Khoa đưa luồng sáng quét sát chân móng buồng gác. Ánh sáng vàng đục rọi rõ một vệt kéo lê nhơ nhớp vừa mới hình thành.

Cửa buồng bảo vệ vẫn khép hờ, mép tôn gỉ cọ vào khung sắt đánh "kẽo kẹt" theo từng cơn gió giật. Nhưng trên bậu cửa xi măng đã in một vệt bùn nhớt to bản. Dấu vết này kéo thẳng từ khoảng sân sũng nước, trườn qua ngưỡng cửa, cắt ngang tấm thảm cói trải chân ướt đẫm rồi biến mất vào bên trong căn phòng chật chội chưa đầy sáu mét vuông.

Khoa nâng cao dùi cui điện, ngón tay cái áp sát công tắc phóng tia lửa. Anh đạp nhẹ gót giày đẩy cánh cửa tôn mở rộng ra, luồng sáng đèn pin lập tức quét một vòng từ trần nhà xuống các góc phản xạ.

Căn buồng không có ai. Chiếc bàn gỗ thông phát hành từ thập niên chín mươi vẫn nằm im lìm góc phòng, trên mặt bàn còn nguyên cuốn sổ giao ban bìa da xanh mở dở cùng chiếc phích Rạng Đông tróc sơn đỏ.

Tuy nhiên, sàn xi măng màu xám của phòng trực đã bị ô uế hoàn toàn.

Một chuỗi dấu vết nhớp nhúa kéo lê thành đường dài từ bậc cửa, luồn qua khoảng trống dưới chân bàn làm việc, vòng qua chiếc ghế xoay bọc giả da bị rách góc, rồi thẳng hướng lối cửa ngách thông sang tiền sảnh tòa nhà chính.

Mùi bùn ao nồng nặc tử khí xộc thẳng vào khoang mũi Khoa, khiến cuống họng anh đắng ngắt. Đó là mùi bùn đáy của những đầm lầy chết, thứ đất không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời suốt hàng thế kỷ, chỉ chứa đựng xác rễ cây phân hủy và xương động vật thối rữa. Người bình thường hít phải thứ mùi này quá ba phút sẽ lập tức nôn tháo vì phản xạ sinh lý của cơ thể.

Khoa rút chiếc khăn mùi xoa bộ đội trong túi áo ngực ra quấn quanh sống mũi, buộc chặt nút sau gáy. Hai mắt anh nheo lại, quan sát kỹ hình thù của những vết bùn in trên nền xi măng.

Dấu vết này không phải là vệt bùn vô định do nước tràn.

Đó là những vết lõm hình bầu dục dài chừng một gang tay, bờ mép dày đặc bùn đen dẻo quánh, phần trung tâm bị nén sâu xuống sàn nhà như thể vừa có một khối kim loại nặng hàng tạ nện lên. Lạ lùng thay, toàn bộ chuỗi dấu vết không hề có vết ngón chân.

Không có ngón cái, không có năm ngón xòe ra như dấu chân người sống thường thấy khi ngập bùn. Dấu vết trơn nhẵn một cách quái đản, đầu trên tù tròn như gốc cây gỗ mục bị vạt phẳng bằng rìu cùn, phần gót thon nhọn và sâu hoắm. Nhựa bùn bám trên mặt sàn sôi lên lấm tấm những bọt khí nhỏ li ti, bốc ra làn hơi mỏng manh buốt giá.

Mỗi nhịp bước cách nhau chừng bảy mươi phân, thẳng tắp và đều đặn theo một cữ chân nhà lính.

Khoa bước chầm chậm theo chuỗi dấu vết, ánh đèn pin luôn rà sát mặt đất không quá nửa mét. Đến bên cạnh chiếc bàn làm việc, ánh đèn bỗng soi trúng một chi tiết khiến cơ bắp toàn thân anh co rút lại.

Dấu bùn không in độc lập trên sàn xi măng.

Chúng in đè lên.

Chính xác hơn, thứ vô hình mang theo bùn đất đầm lầy ấy đã bước đè lên toàn bộ các vết đế giày rằn ri tuần tra của Khoa.

Khoảng mười phút trước, khi phát hiện tiếng nện cửa cổng sắt, Khoa đã từ phòng bảo vệ bước vội ra sân. Đế giày bảo hộ của anh dính chút nước mưa đã để lại những vết ẩm mờ nhạt trên nền nhà. Giờ đây, từng vệt bùn đen sẫm không ngón kia đang dẫm chồng khít lên từng đường rãnh cao su của vết giày Khoa.

Mép ngoài của dấu bùn bao trọn lấy dấu chân anh, không thừa một phân, không lệch một ly. Cứ như thể có một thực thể quái dị bước theo sát nút ngay sau lưng anh, kiên nhẫn đặt chân vào đúng vị trí bàn chân anh vừa nhấc lên, mượn cữ chân của anh để định hình phương vị bước đi trong căn biệt thự bỏ hoang.

Khoa nuốt khan một ngụm nước bọt. Sống lưng anh lạnh toát, từng sợi lông tơ dựng đứng dọc theo tủy sống.

Người lính già không lùi bước. Kỷ luật thép được trui rèn qua những năm tháng biên thùy giữ cho nhịp tim anh không đập loạn. Anh hít thở sâu theo nhịp bốn giây hít vào, bốn giây nín thở, bốn giây thở ra để ổn định nhãn cầu. Trong chiến đấu, kẻ nào hoảng loạn trước sự bất thường của đối phương, kẻ đó sẽ tự biến mình thành mồi ngon trước khi kịp nổ súng.

Khoa bước qua cánh cửa ngách, tiến vào tiền sảnh nối giữa phòng bảo vệ và tòa nhà chính.

Hành lang tối đen như mực. Tiếng sấm bên ngoài dội vào qua những ô cửa thông gió bằng sắt uốn hoa văn thời Pháp tạo nên những âm vang rền rĩ, trầm đục như tiếng trống trận từ xa xưa. Gió lùa qua các khe cửa gỗ mục phát ra những tiếng huýt dài ghê rợn, cuốn theo những mảnh vôi bong tróc lạo xạo dưới đế giày.

Luồng sáng đèn pin của Khoa tiếp tục bám chặt vào vệt bùn trên nền gạch hoa cổ. Những viên gạch bông hình học màu vàng nhạt xen kẽ xanh ô-liu thời thuộc địa trơn nhẫy lớp chất lỏng đen ngòm.

Dấu vết không hề giảm bớt độ ướt. Càng đi sâu vào trong nhà, bùn đọng lại trên mặt sàn càng dày đặc hơn, đen nhánh như hắc ín vừa mới nấu chín. Những giọt nước bẩn rỉ ra từ mép dấu chân tạo thành những đường vân ngoằn ngoèo, tỏa ra khắp mặt sàn như mạng nhện.

Chuỗi dấu chân không ngón dẫn thẳng qua tiền sảnh, băng qua phòng khánh tiết rộng thênh thang đang để trống trải những hàng cột tròn nâng đỡ trần nhà cao vút. Căn phòng này từng là nơi tổ chức những buổi tiếp tân ngoại giao xa hoa của thập niên trước, nhưng giờ đây các vách tường chỉ còn trơ lớp vôi vữa nham nhở do công trường cải tạo bóc dở. Mùi sơn nước rẻ tiền của đội thợ thi công ban ngày hoàn toàn bị áp đảo bởi mùi bùn chết chóc.

Khoa không nhìn vào khoảng tối giữa phòng khánh tiết. Anh ghi nhớ quy tắc số ba: không tìm kiếm nguồn cơn của âm thanh, không gõ cửa nếu có tiếng đàn, giữ tầm mắt dưới mặt sàn. Chiếc đèn pin trong tay anh chỉ quét một dải sáng hẹp cách mũi chân hai mét, cẩn trọng soi từng bước đi.

Tại trung tâm của sảnh chính, chuỗi dấu bùn đột ngột bẻ góc chín mươi độ.

Nó không đi về phía hành lang dẫn xuống tầng hầm, cũng không tiến về cửa sau nhìn ra vườn chuối hoang. Nó rẽ thẳng về phía góc Tây Bắc của căn biệt thự, nơi tọa lạc một cầu thang xoắn ốc bằng gang đúc cổ kính.

Khoa dừng bước cách chân cầu thang ba mét. Anh hạ thấp đèn pin, rọi vào bậc thang đầu tiên.

Cầu thang xoắn ốc này là một tuyệt tác cơ khí từ đầu thế kỷ hai mươi. Toàn bộ kết cấu từ trục trung tâm, tay vịn cho đến từng bậc thang đều được đúc bằng gang nguyên khối, trạm trổ hoa văn hình dây leo uốn lượn tinh xảo. Lớp sơn đen bóng phủ trên gang đã bong tróc nhiều chỗ, để lộ lớp kim loại màu xám xịt bị thời gian và khí hậu nồm ẩm của Hà Nội gặm nhấm thành những mảng rỉ sét sần sùi. Chiếc cầu thang uốn lượn theo hình trôn ốc vút lên cao, xuyên qua khoảng thông tầng dẫn thẳng lên tầng hai và tầng áp mái tối om.

Ngay trên bậc thang đầu tiên bằng gang đúc, một vệt bùn đen nhánh đang nằm chình ình.

Dấu bùn không ngón lún sâu trên lớp bụi gang, nhớp nhúa và ướt sũng. Nước bùn từ mép bậc thang nhỏ tong tỏng xuống sàn gạch bên dưới.

Tách... tách...

Từng giọt nước đục ngầu rơi xuống nền gạch hoa, âm thanh va đập vang lên sắc gọn giữa khoảng không gian tĩnh mịch của căn nhà hoang, lọt thỏm giữa những tiếng sấm ầm ì ngoài trời.

Khoa lia luồng sáng đèn pin chếch lên cao theo độ xoắn của khung lan can gang.

Từng bậc thang một, từ bậc thứ nhất, thứ hai, thứ ba... cho đến tận góc khuất của vòng xoay tầng hai, đều in hằn những vết bùn đen đặc quánh. Vết chân bước lên rất đều đặn, không có dấu hiệu trượt ngã, không có dấu hiệu vội vã. Kẻ mang đôi chân bùn ấy đã điềm nhiên leo lên cầu thang như một chủ nhân thực thụ của ngôi nhà đang trở về phòng ngủ sau một chuyến đi dài ngày dưới đáy bùn lầy.

Kỳ lạ nhất là, trên các bậc thang gang đúc mỏng manh ấy, không hề có bất kỳ dấu vết nào của đế giày Khoa.

Từ bậc thang đầu tiên này, dấu chân bùn đã hoàn toàn tách khỏi dấu giày của anh. Nó bắt đầu tự dẫn đường.

Khoa nắm chặt cây dùi cui điện, ngón tay đặt hờ lên lẫy kích hoạt. Anh bước thêm một bước, mũi ủng cao su chạm nhẹ vào chân cột trụ bằng gang. Khí lạnh từ khối kim loại khổng lồ tỏa ra buốt rát qua lớp da găng tay.

Trong không gian yên ắng lạ thường của sảnh lớn, một âm thanh mới bắt đầu chen vào giữa tiếng mưa rơi.

Đó là tiếng kim loại cọ xát.

Tiếng "ken két... ken két..." rất nhẹ, phát ra từ những tầng cao phía trên đỉnh cầu thang xoắn. Âm thanh nghe giống như sức nặng của một cơ thể nặng nề đang di chuyển chậm rãi trên những bậc gang gỉ sét, khiến toàn bộ kết cấu cầu thang khẽ rung lên theo từng nhịp bước. Sự rung động truyền dọc theo trục sắt trung tâm, chạy thẳng xuống ngón tay Khoa đang tì nhẹ vào cột trụ.

Khoa ngẩng đầu lên một chút, giữ cho tầm nhìn chỉ bao quát đến khoảng giữa vòng xoắn của tầng hai, không nhìn thẳng lên khoảng tối mịt mù của tầng áp mái.

Một mùi lưu huỳnh khét lẹt bỗng từ trên cao tạt xuống, đè bẹp cả mùi bùn tanh tưởi ban nãy. Không khí trong sảnh bỗng chốc trở nên ngột ngạt, nóng ran một cách bất thường, như thể có một lò nung vô hình vừa mở nắp thông gió ở tầng trên cùng.

Khoa nhấc chân bước lên bậc thang gang đầu tiên.

Bậc thang rung lên nhẹ một tiếng "coong" đanh gọn. Bùn dưới đế ủng dẻo quánh, trơn trượt như mỡ động vật. Khoa phải dùng toàn bộ lực cổ chân để giữ thăng bằng, tay trái bám chặt vào thanh lan can gồ ghề rỉ sét.

Anh đưa đèn pin soi thẳng vào bậc thang thứ hai.

Ngay tại chỗ vết bùn không ngón in dấu, lớp sơn đen của gang đúc đang sủi bọt trắng xóa. Bùn đất mang theo tính kiềm hoặc a-xít cực mạnh, ăn mòn lớp bề mặt kim loại với tốc độ có thể nhìn thấy bằng mắt thường, bốc lên những sợi khói xám mảnh như sợi chỉ.

Đây không phải là bùn đất thông thường của vùng đất Ba Đình. Hà Nội không có loại bùn nào có thể ăn mòn kim loại gang đúc nhanh đến thế, trừ phi nó được mang lên từ những hố chôn vôi sống hoặc những tầng địa chất sâu hoắm bị niêm phong hàng trăm năm dưới đáy hệ thống thoát nước ngầm thời thuộc địa.

Khoa bước tiếp lên bậc thứ hai, rồi bậc thứ ba.

Mỗi bước chân của anh đều đặt cẩn thận né sang bên cạnh dấu bùn đen ngòm. Bản năng của người lính cảnh báo anh tuyệt đối không được để cơ thể tiếp xúc trực tiếp với thứ dịch lỏng đang sôi lấm tấm kia.

Khi Khoa bước đến khúc cua đầu tiên của cầu thang xoắn ốc, nơi ánh sáng đèn pin bắt đầu bị che khuất bởi độ cong của bức tường chịu lực, tiếng rung động trên cao đột ngột ngừng bặt.

Căn nhà lại rơi vào sự im lặng chết chóc.

Ngay cả tiếng gió rít ngoài cửa sổ thông gió dường như cũng bị triệt tiêu sau một bức màn vô hình. Chỉ còn lại tiếng tim Khoa đập từng nhịp trầm tĩnh, đều đặn trong lồng ngực. Anh đứng yên ở bậc thang thứ bảy, giữ nguyên tư thế thủ thế, đèn pin rọi thẳng vào khoảng tối của chiếu nghỉ tầng hai.

Trên chiếu nghỉ, vệt bùn đen kéo dài thành một vệt trượt dài ngoằng, hướng thẳng về phía cánh cửa gỗ dẫn vào hành lang phòng khánh tiết phía trên. Cánh cửa gỗ lim hai cánh đóng chặt, nhưng bên dưới khe cửa, bùn đen đang rỉ ra thành từng dòng nhỏ.

Khoa chuẩn bị nhấc chân bước tiếp lên bậc thứ tám để tiếp cận chiếu nghỉ.

Đúng vào thời điểm mũi ủng của Khoa vừa rời khỏi mặt gang, một âm thanh xé toạc bầu không khí tĩnh mịch nổ ra.

Không phải tiếng sấm trên trời.

ĐÙNG!

Một tiếng nổ trầm đục, nghẹn ngào nhưng mang một sức công phá khủng khiếp vang lên từ sâu thẳm dưới lòng đất, ngay phía bên dưới chân cầu thang xoắn ốc.

Toàn bộ khối biệt thự 300 Kim Mã rùng mình dữ dội. Nền móng bằng đá hộc rung chuyển như vừa hứng chịu một trận dư chấn địa chấn cục bộ. Cầu thang gang đúc lắc lư qua lại, các mối hàn cổ thụ phát ra tiếng kêu răng rắc ghê người. Bụi vôi, mảnh gạch vụn từ trên trần nhà rơi rào rào xuống vai áo và mũ bảo hộ của Khoa.

Một luồng áp suất cực lớn mang theo hơi ẩm mốc và mùi gỉ sắt nồng nặc từ miệng hầm tối om phía sau bức tường tầng trệt thổi bốc ngược lên, hất tung vạt áo mưa của Khoa.

Dưới tầng hầm, nơi cánh cửa sắt nặng nề vừa được khóa chặt lúc hai mươi ba giờ đêm, những thanh then chốt bằng thép đang oằn mình rên rỉ dưới một lực đẩy ngàn cân từ cõi sâu thẳm.

Chương khác

Xem thêm