Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 21: Nấc Thang Xoắn Ốc
Nước bùn đỏ dưới chân sảnh trệt tiếp tục dâng lên cuồn cuộn, cuốn theo những mảnh gỗ mục và rác rưởi trôi dạt vào chân cột đá hoa cương. Lực đẩy của dòng…
Nội dung chương
Nước bùn đỏ dưới chân sảnh trệt tiếp tục dâng lên cuồn cuộn, cuốn theo những mảnh gỗ mục và rác rưởi trôi dạt vào chân cột đá hoa cương. Lực đẩy của dòng nước xiết từ miệng cống ngầm dưới tầng hầm tạo ra những đợt sóng đục ngầu, vỗ chan chát vào bốn bức tường bao quanh. Tiếng gõ nhịp Morse vẫn dội lên từ sâu thẳm lòng đất, từng hồi cắc keng khô khốc đập thẳng vào lồng ngực Khoa như nhịp búa gõ vào đe thép.
Khoa không quay đầu nhìn lại. Bàn tay anh nắm chặt chiếc xà beng đẫm bùn đỏ rỉ sét, chân đạp mạnh lên bậc thang gang đầu tiên của chiếc cầu thang xoắn ốc.
Kim loại dưới đế ủng cao su phát ra một tiếng rên rỉ buốt óc. Cả khối cầu thang gang đồ sộ, được ghép nối bằng hàng trăm đinh tán từ thời Pháp thuộc, rung bần bật theo từng chuyển động của căn nhà. Những dải khói xám bạc của đám tàn hồn lướt thướt bay vụt qua vai anh, mang theo luồng gió buốt nhói xộc thẳng vào da thịt. Bọn họ chen chúc nhau leo lên khoảng không gian u tối phía trên, rít lên những âm thanh the the chói tai.
Khoa hít sâu một hơi, mùi lưu huỳnh khét lẹt quyện với hơi nước mốc nồng nặc xộc vào hai cánh mũi. Anh bấm công tắc đèn pin trên ngực áo. Ánh sáng vàng vọt quét ngang thân trụ sắt tròn ở trung tâm cầu thang, làm lộ ra lớp sơn đen đã nứt nẻ thành từng mảng lớn như vảy trăn.
Một.
Khoa đếm thầm trong miệng, bước tiếp lên bậc thứ hai.
Trong quân ngũ, khi phải dò mìn hay tuần tra qua những bãi sình lầy giữa đêm tối đặc quánh, việc đếm từng bước chân là phương pháp duy nhất để giữ cho đầu óc tỉnh táo, ngăn chặn sự hoảng loạn của hệ thần kinh trước những hiểm họa vô hình. Ở đây cũng vậy. Biệt thự 300 Kim Mã không phải là một công trình kiến trúc thông thường; cấu trúc xoắn ốc của chiếc cầu thang gang này được thiết kế để đánh lừa thị giác và cảm giác phương hướng của bất kỳ ai bước chân lên.
Hai. Ba. Bốn.
Độ cong của cầu thang rất gắt. Mỗi bậc thang có hình dẻ quạt, phần gắn vào trục sắt hẹp chỉ bằng nửa bàn chân, trong khi phần rìa ngoài sát lan can lại mở rộng ra. Các hoa văn sắt uốn rỗng hình cành nguyệt quế trên mỗi bậc gang sắc cạnh và phủ đầy lớp gỉ sét đỏ quạch.
Bùn đất dưới chân trơn như mỡ. Cứ mỗi lần nhấc ủng lên, một tiếng "chẹp" dính nhớp lại vang lên trong không gian chật hẹp.
Khoa bước đến bậc thứ bảy thì nhiệt độ xung quanh tụt xuống đột ngột. Luồng khí nóng hầm hập bốc lên từ dòng nước đỏ dưới sảnh trệt bị chặn đứng hoàn toàn bởi một tầng không khí lạnh buốt, cô đặc và tĩnh lặng một cách kỳ dị.
Từ trong khoảng tối của những bậc thang phía trên, một chuỗi âm thanh xào xạc bắt đầu trôi xuống.
Đó là những tiếng thì thầm bằng tiếng Pháp.
Những giọng nói chồng chéo lên nhau, có giọng phụ nữ khàn đặc vì khóc than, có giọng đàn ông đanh thép ra lệnh, lại có cả những tiếng thở dài ngao ngán của người già. Âm thanh không phát ra từ một điểm cố định mà vọng ra từ các khe hở giữa những thanh chấn song sắt uốn lượn, trượt dọc theo thành lan can rỉ sét:
"- Qu'est-ce que tu cherches ici? (Mày tìm kiếm điều gì ở đây?)"
"- Ne monte pas... La porte est scellée... (Đừng lên... Cửa đã bị niêm phong...)"
"- Il n'y a plus d'espoir... (Không còn hy vọng nào nữa...)"
Khoa nghiến chặt quai hàm, cơ hàm bạnh ra dưới lớp da sạm nắng. Anh dồn lực vào hai bắp chân, mắt nhìn thẳng vào mặt bậc gang trước mũi giày, tuyệt đối không ngước nhìn lên những khoảng tối mờ mịt phía trên.
Tám. Chín. Mười.
Anh lẩm nhẩm bằng tiếng Việt, giọng trầm và dứt khoát. Tiếng đếm của anh tạo thành một điểm tựa cơ học, đè bẹp những chuỗi âm tiết ngoại quốc đang tìm cách xâm nhập vào tâm trí. Người lính canh kho đạn năm xưa từng đứng gác hàng ngàn đêm giữa rừng sâu Tây Bắc; anh hiểu rằng một khi để nỗi sợ hãi hoặc trí tò mò dẫn dắt ánh nhìn rời khỏi bước chân thực tại, cái giá phải trả sẽ là một cú trượt chân rơi thẳng xuống đáy vực sâu.
Cầu thang xoắn tiếp tục rung lắc dữ dội hơn. Dưới chân anh, tiếng nước lũ đập vào tường sảnh trệt đã bắt đầu biến đổi âm sắc, nghe xa xăm và nghẹt thở như tiếng nước chảy trong một chiếc thùng kín bị dìm sâu dưới đáy sông. Dòng nước ngập chắc chắn đã dâng lên gần hết chiều cao của tầng một. Căn biệt thự đang chìm dần vào một biển nước bùn đỏ do chính nó triệu hồi từ các mạch cống cổ xưa.
Lên đến bậc thứ mười lăm, Khoa chạm đến chiếu nghỉ nhỏ ngăn cách giữa tầng trệt và tầng hai.
Ở đây, bức tường gạch của căn nhà uốn cong theo đường lượn của cầu thang, để lộ ra những mảng vôi vữa loang lổ. Ánh đèn pin quét qua một bức tranh tường vẽ dở đã mốc xanh mốc đỏ. Bức tranh mô tả một khu vườn phong cách châu Âu với những pho tượng thần không đầu, đứng sừng sững giữa lớp sương mù xám xịt.
Bùn đen bám trên chiếu nghỉ thành một vũng lớn. Dấu chân không ngón vẫn tiếp tục in sâu vào nền đá mài, dẫn thẳng lên nhịp thang tiếp theo hướng về tầng ba và tầng áp mái.
Khoa dừng lại hai giây, nhấc tay kiểm tra thanh xà beng. Kim loại lạnh ngắt truyền qua lớp găng tay sợi gai, nhắc nhở anh về trọng lượng của vật thể thực tế duy nhất còn có thể bảo vệ mạng sống của mình. Dây đeo đèn pin trên ngực áo khẽ siết lại theo nhịp thở nặng nhọc của anh.
Mười sáu. Mười bảy. Mười tám.
Khoa tiếp tục bước.
Nhịp thang thứ hai dốc hơn hẳn nhịp thứ nhất. Các bậc gang mỏng manh hơn, tiếng kêu "ken két... ken két..." phát ra từ các mối hàn gỉ sét mỗi lúc một chói tai. Khoa có thể cảm nhận rõ ràng độ võng của từng bậc thép dưới sức nặng hơn bảy mươi cân của cơ thể mình. Nếu các mối nối thời thuộc địa kia chịu không nổi áp lực và gãy gục, anh sẽ rơi tự do qua khoảng không gian rỗng ở trung tâm trục xoắn, cắm thẳng đầu xuống dòng nước độc đang sôi sục dưới chân sảnh.
Những bóng ma không còn trôi dạt hỗn loạn nữa. Khi Khoa leo qua bậc thứ hai mươi nhăm, bọn họ bắt đầu kết tụ lại thành những hình thù rõ rệt hơn dọc theo mép tường.
Bên tay trái anh, áp sát vào vách vôi ẩm mốc, là một người đàn bà mặc chiếc váy dạ hội nhung màu tím than đã sờn rách, để lộ bờ vai trắng bệch như sáp nến. Bà ta đứng nghiêng người, mái tóc búi cao kiểu quý tộc Pháp cuối thế kỷ mười chín buông thõng từng lọn bết bát nước bùn. Đôi mắt người đàn bà không có tròng đen, chỉ là hai hốc tròn màu trắng đục, dán chặt vào mặt Khoa khi anh bước qua.
Khoa không tránh né ánh nhìn đó, nhưng anh cũng không dừng lại. Ánh mắt anh lạnh băng, chiếu thẳng qua khoảng trống giữa bả vai người đàn bà và thanh lan can. Anh siết chặt mũi ủng, dẫm thật mạnh lên bậc gang tiếp theo để tạo ra một âm thanh kim loại dứt khoát.
Hai mươi sáu. Hai mươi bảy.
Một bàn tay khẳng khiu, dài ngoằng với những ngón tay khô đét như cành củi mục vươn ra từ khoảng tối phía sau lan can, định chạm vào cổ tay áo bảo vệ của Khoa.
Cút!
Khoa gằn giọng, vung mạnh đầu nhọn của thanh xà beng cắt ngang không khí.
Thanh thép xé rách lớp sương mờ xám bạc, tạo ra một tiếng rít như sắt nung nhúng vào nước lạnh. Bàn tay ma quái rụt phắt lại, tan rã thành một làn khói mỏng rồi biến mất vào bóng tối. Đám tàn hồn dường như nhận ra sự ngoan cường và sát khí toát ra từ người đàn ông từng trải qua kỷ luật quân trường, bọn họ lùi dần ra xa, chỉ dám tụ tập ở rìa ngoài của quầng sáng đèn pin, tiếp tục cất lên những tràng thì thầm ai oán:
- Il a le fer... (Hắn có sắt...)
"- Il monte vers le grenier... (Hắn đang lên tầng áp mái...)"
"- La folie l'attend là-haut... (Sự điên loạn đang đợi hắn ở trên đó...)"
Khoa phớt lờ tất cả. Mồ hôi bắt đầu túa ra trán, chảy thành dòng cay xè vào khóe mắt, nhưng anh không dám đưa tay lên lau. Toàn bộ sự tập trung của anh dồn vào việc giữ thăng bằng trên các nấc thang gang ngày càng ọp ẹp.
Đến bậc thứ bốn mươi, không khí trở nên loãng một cách bất thường. Lồng ngực Khoa thắt lại, mỗi nhịp hít vào đều mang lại cảm giác buốt rát như nuốt phải dăm thủy tinh vụn. Hà Nội vào đêm mưa bão thường có độ ẩm rất cao, nhưng ở độ cao này bên trong căn biệt thự, không khí lại khô khốc và lạnh lẽo đến mức khiến môi anh nứt nẻ.
Trước mặt Khoa, chiếu nghỉ của tầng ba đã hiện ra dưới ánh đèn pin.
Đó là một hành lang hẹp dẫn vào các phòng chức năng cũ của cơ quan đại diện ngoại giao, nhưng toàn bộ các lối đi đều đã bị bịt kín bởi những tấm ván gỗ thông đóng chéo bằng đinh mười phân hoen gỉ. Chỉ có duy nhất một lối đi tiếp tục mở ra: chiếc cầu thang gang xoắn ốc vẫn vươn tiếp lên trên, thu hẹp lại thành một đường ống kim loại dựng đứng dẫn thẳng lên nóc nhà.
Đó là lối lên tầng áp mái.
Căn phòng tầng áp mái này đã bị niêm phong ba mươi năm qua, kể từ ngày viên Đại sứ cuối cùng rời khỏi tòa nhà vào một đêm mùa đông năm 1994. Trong suốt những ca trực bình thường, cánh cửa dẫn lên khu vực này luôn bị khóa bởi một ổ khóa xích bằng đồng thau nặng trịch mà ngay cả ban quản lý tòa nhà cũng không có chìa.
Khoa bước chân lên chiếu nghỉ tầng ba, tiếng kim loại gõ Morse dưới lòng đất đột ngột tắt lịm.
Sự im lặng ập xuống nhanh đến mức khiến tai anh bị ù đi. Chỉ còn tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực và tiếng thở dốc nặng nề của chính anh vang vọng trong góc tường.
Ngay lúc đó, ngọn đèn pin gắn trên ngực áo Khoa chớp nháy liên hồi.
Tạch... tạch... rè...
Ánh sáng vàng chuyển sang màu đỏ ối của máu, sau đó vụt tắt rồi lại bùng lên yếu ớt. Luồng sáng run rẩy hắt thẳng vào bức tường trát vôi ẩm mốc ngay trước mặt anh.
Trên vách tường xám xịt bong tróc từng mảng lớn, bóng của Khoa in rõ mồn một.
Đó là một bóng đen cao lớn, đội mũ bảo hộ, tay cầm thanh xà beng chếch một góc bốn mươi lăm độ. Nhưng ngay bên cạnh bóng đen đó, một bóng đen thứ hai bắt đầu tách dần ra từ mép tường.
Khoa khựng lại. Lưng anh cứng đờ.
Quy tắc sống còn thứ hai mà người đồng nghiệp ca trước đã dặn dò lập tức vang lên trong đầu anh: *Khi đi tuần bằng đèn pin nếu thấy bóng mình trên tường biến thành hai bóng thì phải đứng yên nhắm mắt đếm đến 10.*
Không được do dự. Trong những tình huống siêu nhiên vượt ngoài tầm hiểu biết của con người, kỷ luật là sợi dây duy nhất neo giữ mạng sống.
Khoa nhắm nghiền hai mắt lại.
Anh đứng thẳng người trên chiếu nghỉ chật hẹp, hai bàn chân bám chặt xuống mặt đá mài, hai tay nắm chặt thanh xà beng đặt ngang trước bụng. Bóng tối bao trùm lấy tầm nhìn của anh.
Một.
Anh đếm rành rọt trong đầu. Không khí xung quanh dường như ngừng trôi. Một luồng hơi lạnh buốt như băng đá phả thẳng vào gáy anh, làm dựng đứng toàn bộ chân lông gà trên cổ.
Hai. Ba. Bốn.
Tiếng vải sột soạt vang lên rất gần, ngay bên tai phải của Khoa. Ai đó đang đứng sát cạnh anh, gần đến mức anh có thể ngửi thấy mùi nước hoa lavender cổ điển đã biến chất, hòa lẫn với mùi vải liệm mục rữa trong hòm gỗ ẩm.
Năm. Sáu. Bảy.
Một hơi thở nhè nhẹ thổi vào vành tai anh. Tiếng thì thầm vang lên, lần này không phải bằng tiếng Pháp, mà bằng một thứ tiếng Việt lơ lớ, ngọng nghịu của một người ngoại quốc đã chết từ lâu:
- Mở mắt ra... nhìn tôi này...
Các cơ bắp trên mặt Khoa co giật nhẹ, nhưng hai mí mắt anh vẫn dán chặt vào nhau như bị hàn thiếc. Anh siết chặt hai bàn tay quanh thân xà beng đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay qua lớp găng sợi thô ráp.
Tám. Chín. Mười.
Khoa thở hắt ra một hơi dài, từ từ mở mắt.
Theo quy tắc của ca trực cũ, sau mười giây nhắm mắt, cái bóng thứ hai sẽ phải biến mất, trả lại không gian bình thường cho người đi tuần.
Nhưng quy tắc đêm nay đã bị phá vỡ.
Ánh đèn pin trên ngực áo anh vẫn chớp giật từng hồi, rọi thẳng vào vách tường đối diện.
Chiếc bóng thứ hai không hề biến mất.
Nó đã tách hẳn ra khỏi bóng của Khoa, đứng độc lập trên nền vôi nứt nẻ. Đó là một bóng đen gầy guộc, mặc bộ âu phục kiểu cổ với phần cầu vai vuông vức và chiếc cà vạt buông thõng. Cái bóng không có khuôn mặt, chỉ là một khối đen đậm đặc hút cạn ánh sáng xung quanh.
Và trước đôi mắt đang mở to của Khoa, cái bóng đen trên tường từ từ cử động.
Nó không quay lại nhìn anh. Khối đen ấy chầm chậm nâng cánh tay khẳng khiu lên, ngón tay trỏ dài một cách bất thường vươn thẳng về phía trần nhà, chỉ vào khoảng không tối om ở đỉnh chiếc cầu thang xoắn ốc phía trên đầu Khoa.
Khoa ngước mắt nhìn theo hướng chỉ của cái bóng.
Cách đỉnh đầu anh chừng sáu bậc thang gang nữa, cánh cửa gỗ sồi dẫn vào tầng áp mái đang hiện ra lờ mờ dưới quầng sáng chập chờn.
Cánh cửa dày cộp, màu nâu sẫm của gỗ cổ thụ ngâm dầu, viền quanh bởi những thanh nẹp sắt to bản đóng đinh tán vuông. Nhưng điều kinh khủng nhất là thứ đang nằm ở trung tâm cánh cửa: một ổ khóa dây xích bằng gang đen sì, quấn chằng chịt ba vòng quanh tay nắm cửa và then cài bằng thép.
Trên bề mặt ổ khóa gỉ sét, những vết bùn đen ướt sũng đang sủi bọt trắng xóa, ăn mòn từng mắt xích với những tiếng xèo xèo ghê rợn. Một vệt bùn đen kéo dài từ khe dưới của cánh cửa gỗ chảy tong tỏng xuống các bậc thang bên dưới, bốc lên mùi xác chết nồng nặc đến mức khiến Khoa phải nín thở.
Cái bóng trên tường khẽ rung lên một nhịp rồi đổ sụp xuống, tan biến vào lớp bóng tối dày đặc của chân cầu thang.
Khoa nhìn chằm chằm vào ổ khóa đang rỉ máu bùn trước mặt. Anh hiểu rằng cánh cửa này không thể tự mở bằng chìa, và cũng không có bất kỳ quy tắc an toàn nào có thể bảo vệ anh được nữa. Con đường rút lui dưới chân đã hoàn toàn bị nhấn chìm trong biển nước độc của tầng trệt; lựa chọn duy nhất để tìm ra sự thật về căn nhà này và giữ lấy mạng sống là phải mở tung cánh cửa gỗ sồi kia.
Khoa nhấc chân bước nốt sáu bậc thang gang cuối cùng.
Mỗi bước đi nặng như chì. Khi mũi ủng của anh chạm đến chiếu nghỉ nhỏ xíu ngay trước bậc cửa tầng áp mái, hơi lạnh từ khe cửa phả ra khiến lớp áo mưa bảo hộ của anh đóng thành một lớp sương giá mỏng.
Khoa hít một hơi thật sâu, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể vào hai bàn chân để tạo thế đứng vững chắc trên mặt sàn hẹp. Anh đưa hai tay nắm chặt lấy thân thanh xà beng bằng thép tôi, đưa mũi nhọn của nó cắm phập vào giữa hai mắt xích gỉ sét đang bị ăn mòn trên then cài cửa gỗ.
Kim loại chạm vào nhau tóe ra những tia lửa màu cam le lói giữa màn đêm buốt giá.