Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 22: Căn Phòng Bí Mật Tầng Áp Mái

Mũi xà beng bằng thép tôi ăn sâu vào khe giữa hai mắt xích gỉ sét, phát ra tiếng kim loại cọ sát ken két đến rợn gáy. Khoa dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể…

Nội dung chương

Mũi xà beng bằng thép tôi ăn sâu vào khe giữa hai mắt xích gỉ sét, phát ra tiếng kim loại cọ sát ken két đến rợn gáy.

Khoa dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể vào cánh tay phải, lấy mép then cài bằng sắt làm điểm tựa rồi thúc mạnh cả bả vai xuống. Một tiếng "tách" giòn đanh xé toạc bầu không khí tĩnh mịch. Mắt xích bằng gang bị lớp bùn đỏ ăn mòn từ trước không chịu nổi lực bẩy cơ học, lập tức nứt đôi rồi văng tung tóe ra nền đá mài. Từng đoạn xích nặng trịch trượt khỏi tay nắm cửa sổ, rơi long tong xuống các bậc thang bên dưới, dội vào lồng ngực Khoa những âm vang khô khốc.

Cánh cửa gỗ sồi dày cộp kêu rên một tiếng trĩu nặng khi then cài tuột khỏi ngàm giữ.

Một khe hở rộng bằng ba ngón tay hé ra trước mặt người bảo vệ. Từ khe hở ấy, một luồng không khí tù đọng hàng chục năm xộc thẳng vào mũi Khoa. Thứ mùi này không hoàn toàn giống mùi ẩm mốc của tầng hầm ngập nước, mà là sự pha trộn kinh tởm giữa mùi giấy da mục nát, mùi dầu bóng vecni biến chất, tàn tro của thảo mộc khô và mùi hôi thối của xác động vật chết ngộp. Hơi lạnh phả ra từ bên trong buốt đến mức làm ngọn đèn pin trên ngực áo anh chớp giật liên hồi, ánh sáng vàng vọt co giật trên bề mặt gỗ xám xịt.

Khoa đưa mũi ủng cao su chặn ở mép dưới cánh cửa, tay trái nắm chặt thân xà beng dựng đứng ngang tầm ngực, tay phải từ từ đẩy mạnh cánh gỗ vào trong. Bản lề bằng đồng đã rỉ xanh cọ vào nhau, rít lên từng hồi dài tựa như tiếng thét bị bóp nghẹt.

Khoa bước qua ngưỡng cửa, hạ thấp trọng tâm, đưa mắt rà soát toàn bộ không gian phía trước.

Tầng áp mái của căn biệt thự số 300 Kim Mã rộng hơn rất nhiều so với những gì anh từng hình dung từ bên ngoài sân. Mái nhà hình chóp dốc đứng lợp bằng ngói đá đen Ardoise được chống đỡ bởi hệ thống xà gồ bằng gỗ lim to bản, đan cài vào nhau theo lối kiến trúc vì kèo kiểu Pháp cuối thế kỷ mười chín. Những ô cửa sổ chớp áp mái hướng ra mặt đường Kim Mã và ngõ Vạn Bảo đều đã bị người ta dùng ván gỗ tạp đóng đinh bít kín từ bên trong, không để lọt dù chỉ một sợi ánh sáng của đèn đường Hà Nội lọt vào.

Bụi bặm ở đây dày đến mức gần như hóa thạch. Lớp tro bụi màu xám tro phủ đều trên mặt sàn lát gỗ thông bản rộng, dày chừng nửa đốt ngón tay. Mỗi bước chân của Khoa hạ xuống đều để lại một hố lõm sâu hoắm, kéo theo tiếng lạo xạo của những mảnh vụn vôi trần và xác côn trùng khô vỡ vụn dưới đế ủng cao su.

Ánh đèn pin quét qua những góc tối tăm nhất của căn gác. Dọc theo hai bên vách tường nghiêng, hàng chục chiếc rương gỗ bọc da bò, hòm đạn kim loại của quân đội viễn chinh Pháp và những kiện hàng buộc dây thừng mục xếp chồng chất lên nhau. Những dải vải màu vàng úa và đỏ bầm, dài chừng hai sải tay, được viết kín những ký tự ngoằn ngoèo bằng mực chu sa pha máu, rủ xuống lủng lẳng từ các thanh xà gồ ngang đỉnh đầu. Những dải bùa chú này đã mục rách tả tơi, bay phất phơ mỗi khi có luồng gió lọt qua kẽ ngói, cọ vào vai áo bảo hộ của Khoa tạo nên những âm thanh sột soạt khô khốc.

Khoa cẩn trọng đưa thanh xà beng gạt phăng những dải bùa mục nát chắn trước mặt. Những mảnh giấy bản vụn nát rơi lả tả xuống sàn như đàn bướm đêm chết khô. Anh hít một hơi thở nông để tránh hít phải thứ tro bụi độc hại, từng bước tiến sâu vào căn phòng trung tâm nằm ngay dưới chóp nhọn cao nhất của ngôi nhà.

Tại trung tâm căn phòng, đồ đạc đã bị xáo trộn để tạo thành một ba cục kỳ dị.

Một chiếc bàn làm việc bề thế bằng gỗ gụ màu nâu cánh gián, vốn là kiểu bàn dành cho các quan chức ngoại giao cấp cao với chân tiện hình móng sư tử, đã bị kéo dịch ra giữa phòng. Mặt bàn không còn chiếc đèn bàn hay ống cắm bút lông nào, mà bị biến thành một bàn tế lễ cổ quái.

Khoa bước đến gần mép bàn, lia ánh đèn rọi thẳng lên bề mặt gỗ trầy xước.

Bốn góc bàn được đục sâu thành bốn lỗ tròn nhỏ, bên trong cắm chặt những mẩu nến sáp ong màu đen đã cháy cạn kiệt, chỉ trơ lại phần bấc cháy dở quăn queo ngập trong lớp mỡ bò đông cứng. Giữa bàn, một lư hương bằng đồng thau ba chân đã bị lật nghiêng, tàn tro xám đen đổ tràn ra ngoài, vương vãi khắp các xấp tài liệu ố vàng bọc bìa da thuộc.

Khoa hạ xà beng xuống tay trái, dùng bàn tay bọc găng sợi thô thận trọng gạt lớp tàn tro trên mặt bàn. Những dòng chữ in hoa bằng tiếng Pháp sắc nét hiện ra dưới lớp bụi: "DÉLÉGATION GÉNÉRALE DU GOUVERNEMENT FRANÇAIS - RAPPORT CONFIDENTIEL 1954" - Phái đoàn Tổng đại diện Chính phủ Pháp - Báo cáo mật năm 1954.

Bên dưới tập báo cáo mật là những trang hồ sơ địa chính khổ lớn gấp làm tư, mép giấy đã giòn vụn vì ẩm ướt và thời gian. Khoa lật từng trang giấy một cách chậm rãi, mắt đọc lướt qua những thuật ngữ quân sự và trắc địa. Đây là những biên bản ghi chép chi tiết về các cuộc khảo sát địa chất ngầm tại khu vực Ba Đình và vùng phụ cận hồ Tây từ những năm 1940 đến cuối năm 1954.

Từng trang tài liệu đều có chữ ký nháy bằng mực xanh của viên Đại diện phái đoàn ngoại giao Pháp thời kỳ đó. Những dòng nhật ký ghi lại các hiện tượng sụt lún bất thường của nền móng công trình, các vụ công nhân người Việt bị tai nạn tử vong không rõ nguyên nhân khi đào móng hầm,

và đặc biệt là bản danh sách mười bảy nhân viên bảo vệ cùng tùy viên ngoại giao đã mất tích bí ẩn trong khuôn viên căn nhà số 300 này suốt giai đoạn chuyển giao quyền lực giữa hai chế độ.

Ở trang cuối cùng của tập hồ sơ, một dòng chữ viết tay run rẩy bằng mực tím đã phai mờ đập vào mắt Khoa:

"Ce n'est pas une maison. C'est un tombeau sur l'abîme."

Dù vốn tiếng Pháp bập bõm học từ thời còn trong quân ngũ không đủ để dịch trọn vẹn từng câu chữ phức tạp, Khoa vẫn nhận ra hai từ cốt lõi được gạch chân hai lần: "tombeau" - ngôi mộ, và "l'abîme" - vực thẳm. Căn nhà này chưa từng được xây dựng để làm nơi tiếp khách hay làm việc bình thường.

Khoa ngẩng đầu lên, ánh đèn pin từ ngực áo anh hắt lên bức vách gỗ phía sau chiếc bàn tế lễ.

Một tấm bản đồ địa chính Hà Nội cổ khổ cực đại, dài hơn ba mét, được đóng đinh cố định áp chặt vào vách tường đối diện. Bản đồ vẽ chi tiết hệ thống thủy văn sông ngòi chằng chịt của Hà Nội thời thuộc địa: dòng sông Hồng uốn lượn ở phía đông, dải sông Tô Lịch bọc quanh phía tây, và khu đầm lầy trũng thấp của thập tam trại vùng Ba Đình. Ngay tại vị trí của khu biệt thự Kim Mã, một vòng tròn đồng tâm vẽ bằng thứ mực màu đỏ thẫm đã khô cứng như máu đông, bên trong ghi một ký hiệu trắc địa hình tam giác ngược đâm thẳng xuống tâm đất.

Ánh đèn pin của Khoa trượt từ tấm bản đồ xuống chân vách gỗ.

Ngay trước tấm bản đồ, trên mặt sàn gỗ thông phủ đầy bụi, một hình bóng đen đúa đang hiện diện.

Khoa khựng lại. Lưng anh căng cứng, bàn tay nắm chặt thân xà beng thủ thế, ngón trỏ siết mạnh vào gờ thép lạnh ngắt. Anh nín thở, định thần nhìn thật kỹ vào quầng sáng tròn của chiếc đèn pin.

Đó không phải là một người sống.

Đó là một bộ hài cốt khô khốc, toàn vẹn đến kinh ngạc, vẫn đang được bọc trong những tàn tích rách nát của một bộ âu phục dạ tiệc sang trọng thập niên năm mươi. Chiếc áo đuôi tôm bằng dạ đen cao cấp đã bị nhậy cắn nham nhở, để lộ ra những dải xương sườn màu vàng ố như ngà voi cũ. Chiếc nơ bướm bằng lụa vẫn còn thắt ngay ngắn nơi đốt sống cổ, và trên ngực áo mục nát vẫn còn ghim một tấm kỷ niệm chương ngoại giao bằng bạc bị xỉn đen vì khói và thời gian.

Tư thế của bộ hài cốt khiến Khoa thấy một luồng ớn lạnh chạy dọc từ thắt lưng lên đỉnh đầu.

Bộ hài cốt không hề nằm ngửa hay co quắp trong tư thế của một người chết vì đau đớn hay trúng độc. Nó đang ở trong tư thế quỳ lạy tuyệt đối.

Hai cẳng chân trơ xương gập sát vào đùi, hai đầu gối xương xẩu cắm chặt xuống mặt sàn gỗ thông nứt nẻ. Toàn bộ phần thân trên rạp hẳn về phía trước, hai cánh tay khô đét với những đốt ngón tay dài khẳng khiu vươn dài ra phía trước, áp chặt mười đầu ngón tay xuống nền đất theo một góc đối xứng hoàn hảo. Hộp sọ của bộ hài cốt cắm cúi gục xuống, đỉnh sọ hướng thẳng lên tâm điểm tam giác ngược của tấm bản đồ địa chính Hà Nội treo trên tường.

Đây chính là viên Đại sứ Pháp, người nắm quyền sinh sát tối cao của phái đoàn ngoại giao trước giờ rút quân năm 1954, kẻ đã biến mất hoàn toàn khỏi mọi hồ sơ lưu trữ chính thức suốt bảy mươi năm qua. Ông ta không hề trốn chạy về nước, cũng không chết trên đường di tản. Ông ta đã ở lại đây, tự giam mình trong căn phòng áp mái bị bít kín này, chết trong tư thế một kẻ hành tội đang quỳ rạp cầu xin sự dung thứ của một thực thể vô hình.

Khoa bước thêm hai bước ngắn, giữ khoảng cách chừng một mét với bộ hài cốt. Đế ủng của anh dẫm lên một mảng bụi dày, phát ra tiếng kêu sột soạt.

Ánh đèn pin rọi thẳng xuống sàn nhà dưới chân anh. Một chi tiết đập vào mắt khiến tim Khoa đập dồn dập trong lồng ngực.

Trên lớp tro bụi xám xịt dày cộp của sàn phòng áp mái, có một chuỗi dấu vết hoàn toàn mới.

Đó là một vệt bùn ướt sũng.

Những dấu chân trần gầy guộc, ướt đẫm bùn đỏ và nước cống ngầm tanh nồng, in rõ mồn một trên mặt gỗ. Vệt bùn này không hề có dấu hiệu ngắt quãng. Nó bắt đầu từ ngưỡng cửa gỗ sồi mà Khoa vừa cạy khóa xông vào, kéo thẳng tắp một đường qua giữa đống bùa chú rơi vãi, luồn qua mép bàn tế lễ, và dẫn thẳng đến... điểm quỳ của bộ hài cốt.

Khoa lùi lại nửa bước, mắt dán chặt vào hai đầu gối khô khốc của viên Đại sứ.

Dưới hai khớp xương bánh chè của bộ hài cốt, lớp bùn đỏ vẫn còn ướt bóng. Những giọt nước bẩn màu đỏ gạch đang rỉ ra từ các kẽ xương bàn chân, thấm đẫm vào thớ gỗ thông đã mục ải, sủi lên những bọt khí li ti mang mùi tanh tưởi của đáy vực tầng hầm.

Chuỗi dấu chân bùn ướt mà Khoa đã theo dấu từ cổng chính khu biệt thự số 300 Kim Mã, đi qua phòng bảo vệ trong ca trực 0 giờ, leo lên từng bậc của chiếc cầu thang gang xoắn ốc... rốt cuộc không dẫn tới bất kỳ kẻ đột nhập sống nào.

Chính bộ hài cốt này, hoặc thứ tàn niệm gắn liền với thân xác khô cằn này, vừa mới rời khỏi vị trí quỳ lạy của nó trong đêm bão cắt điện, lội qua dòng nước ngập chết chóc dưới tầng trệt, rồi quay trở lại đây ngay trước khi Khoa phá tung then cửa.

Một cơn gió mạnh từ bên ngoài giật tung một mảng ngói Ardoise trên đỉnh chóp mái. Tiếng rít của gió luồn qua khe hở tạo thành một âm thanh hú dài ghê rợn. Không khí trong căn phòng áp mái tụt xuống nhanh chóng, lạnh buốt thấu xương. Hơi thở của Khoa phả ra thành những luồng khói trắng đục trước mặt.

Ánh đèn pin trên ngực áo anh chớp nháy ba lần liên tiếp rồi đứng yên, rọi thẳng vào khuôn mặt của bộ hài cốt.

Hộp sọ của viên Đại sứ đang từ từ, chậm rãi nhấc lên khỏi mặt sàn gỗ.

Khớp cổ bằng xương khô cọ vào nhau phát ra những tiếng "rắc... rắc..." khô khốc như cành củi gãy giữa đêm đông. Hai hốc mắt sâu hoắm, đen ngòm như hai cái giếng cạn không đáy, chầm chậm ngẩng lên đối diện trực diện với ánh đèn của Khoa.

Từ trong hai hốc mắt trống rỗng ấy, một dòng chất lỏng đặc quánh bắt đầu rỉ ra.

Không phải là máu khô hay nước mắt. Đó là hai dòng nước bùn đỏ tươi mới, sủi bọt nhờn nhợt, chảy tràn qua gò má xương xẩu, nhỏ tong tỏng xuống chiếc nơ bướm bằng lụa và ngực áo dạ mục nát. Từng giọt bùn rơi xuống sàn gỗ phát ra những tiếng "tách, tách" đều đặn như nhịp gõ của một chiếc đồng hồ báo tử.

Mùi xác chết phân hủy nồng nặc bốc lên ngùn ngụt từ hốc mắt và khoang miệng há hốc của chiếc đầu lâu. Toàn bộ những dải bùa chú màu vàng úa treo trên xà gồ đột ngột dựng đứng lên giữa không trung, dù không hề có ngọn gió nào thổi tới. Tiếng thì thầm bằng tiếng Pháp cổ xưa, hòa lẫn với những tiếng gõ kim loại dồn dập từ sâu trong lòng đất, đồng loạt nổ bùng lên trong không gian chật hẹp của căn gác.

Một luồng oán niệm khổng lồ, bị giam hãm suốt hơn nửa thế kỷ dưới lớp tro bụi và bùa yểm của căn phòng bí mật, đã hoàn toàn thức tỉnh.

Chương khác

Xem thêm