Ca Trực 0 Giờ Ở Căn Nhà 300 Kim Mã - Chương 14: Người Đàn Bà Trong Gương
Gió mùa đông bắc tràn về Ba Đình lúc sập tối mang theo những hạt mưa phùn lạnh buốt. Mặt đường Kim Mã ướt rượt, phản chiếu ánh đèn cao áp vàng vọt cùng…
Nội dung chương
Gió mùa đông bắc tràn về Ba Đình lúc sập tối mang theo những hạt mưa phùn lạnh buốt. Mặt đường Kim Mã ướt rượt, phản chiếu ánh đèn cao áp vàng vọt cùng dòng xe cộ hối hả của giờ tan tầm. Dòng người trùm áo mưa kín mít, vội vã lướt qua rặng xà cừ già rụng lá xác xơ, không một ai ngoái đầu nhìn vào khoảng tối im lìm nằm sau hàng rào sắt rỉ sét của số nhà 300. Căn biệt thự Pháp cổ án ngữ giữa phố phường nhộn nhịp hệt như một hòn đảo hoang phế bị thời gian bỏ quên, bốn bề bao bọc bởi cây dại mọc lút đầu gối và mùi tường ẩm nồng nặc.
Khoa dựng chiếc xe máy cà tàng bên cạnh bốt bảo vệ tạm bợ dựng bằng tôn lượn sóng. Anh tháo đôi găng tay len ướt sũng, cởi lớp áo mưa quấn gọn rồi móc lên chiếc đinh mười phân đóng sẵn ở mép cửa bốt. Hơi lạnh ngấm qua lần áo khoác dã chiến khiến bắp tay anh khẽ giật lùi, nhưng tâm trí người lính bốn mươi lăm tuổi đang dồn hết vào mẩu tin tức mà ông lão Trần Khắc Cần vừa tiết lộ ở khu tập thể Giảng Võ.
Chân cầu thang xoắn ốc. Mảng ốp gỗ sồi có ba vết đinh sắt đóng hình tam giác ngược.
Những lời dặn dò run rẩy của người tạp vụ già vẫn còn văng vẳng bên tai Khoa. Lão Toàn cùng tổ bảo vệ ca ngày đã rút về từ năm giờ chiều, để lại biên bản giao ca với chữ ký nguệch ngoạc cùng một dòng ghi chú cụt lủn: "Mọi sự bình thường, nhớ khóa chặt then sắt cửa hầm". Bọn họ sợ căn nhà này đến mức không dám nán lại quá năm phút sau khi hoàng hôn tắt hẳn. Cả khu đất rộng hơn nghìn mét vuông giờ chỉ còn lại một mình anh cùng tiếng gió rít qua những chấn song sắt han rỉ.
Khoa kéo ngăn kéo bàn làm việc, lấy ra chiếc đèn pin quân sự bằng kim loại nặng trịch và con dao găm dã chiến bọc trong bao da bò sẫm màu. Anh kiểm tra lưỡi thép. Vết mài sắc ngọt trên sống dao ánh lên màu lam lạnh ngắt dưới ánh đèn tuýp nhấp nháy của bốt trực. Anh tra dao vào bên hông thắt lưng dù, đeo thêm chiếc dùi cui điện, rồi cầm theo một chiếc kìm bấm cỡ vừa.
Bước chân Khoa nện đều trên nền gạch vỡ dẫn từ bốt gác vào sảnh chính của tòa nhà.
Cánh cửa gỗ lim hai cánh dày nặng đã mục rỗng phần chân khép hờ, để lộ một khe hở vừa đủ cho một người lách qua. Khi mũi giày anh vừa chạm vào mặt sàn gạch hoa cổ lỗ của tiền sảnh, luồng gió ấm áp ẩm ướt kỳ dị bên trong lập tức phả vào mặt. Nhiệt độ bên ngoài phố Kim Mã chỉ chừng mười bốn độ C, nhưng trong lòng khối kiến trúc này, không khí đặc quánh và hầm hập như một lò than nguội vừa được tưới nước. Mùi vôi chết quyện với mùi ẩm mốc nhiều năm tạo thành một thứ hỗn hợp xộc thẳng vào mũi, gây cảm giác lợm giọng khó tả.
Khoa bấm công tắc đèn pin. Luồng sáng trắng xé toạc màn đêm dày đặc của đại sảnh, quét qua những mảng tường loang lổ vết nước rỉ và các trụ cột đắp hoa văn thời thuộc địa đã sứt mẻ trơ cả gạch chỉ đỏ quạch. Không gian tĩnh lặng đến mức anh nghe rõ cả tiếng hạt mưa rơi lẹt xẹt trên những tấm bạt nilông che chắn tạm bợ trên trần nhà.
Chiếc cầu thang xoắn ốc bằng sắt đúc uốn lượn vươn lên khoảng tối tầng hai nằm sừng sững ở góc sâu nhất của sảnh chính. Những thanh lan can sắt rèn hoa văn tinh xảo uốn lượn như những đốt xương sống của một con mãng xà khổng lồ đang co quắp. Trên chiếu nghỉ lưng chừng, tấm gương thủy ngân lớn vẫn nằm đó trong bóng tối lờ mờ, mặt kính mờ đục rỉ ố vàng như chứa đựng vô số ánh mắt vô hình đang chực chờ dõi theo từng cử động của kẻ xâm nhập.
Khoa bước chầm chậm về phía chân cầu thang. Anh không nhìn thẳng lên tấm gương. Quân đội đã rèn luyện cho anh sự tập trung cao độ vào mục tiêu trước mắt và khả năng phớt lờ những yếu tố gây nhiễu loạn tinh thần. Mũi ủng quân dụng của anh giẫm lên lớp bụi vôi rụng lạo xạo trên sàn gạch.
Đến sát góc chân cầu thang xoắn ốc, Khoa hạ thấp luồng sáng đèn pin xuống sát mặt đất.
Chân tường ở khu vực này được ốp bằng những tấm gỗ sồi bản rộng, chạy dài men theo khối móng xây bằng đá hộc kiên cố. Trải qua hơn ba mươi năm ẩm thấp và mối mọt, lớp sơn bóng màu cánh gián nguyên bản đã bong tróc hoàn toàn, chỉ còn lại những thớ gỗ mục rỗng mủn ra như xơ mướp.
Khoa quỳ một chân xuống nền gạch lạnh ngắt, kê luồng đèn pin chiếu nghiêng vào gờ chân tường. Anh cẩn thận rà từng phân khúc gỗ. Lớp mạng nhện bám dính lấy mặt ván, giăng đầy những xác bọ khô xác.
Ở đoạn ván nằm lùi sâu vào góc khuất giữa chân trụ sắt và bức tường chịu lực phía sau, ba chiếc đinh mười phân gỉ sét đóng chéo nhau hiện rõ dưới ánh đèn. Đầu đinh bẹt to, cắm sâu vào thân gỗ theo đúng hình tam giác ngược mà ông Cần đã miêu tả. Xung quanh ba vết đinh, bề mặt gỗ có dấu hiệu bị nứt nẻ thành những đường rãnh hình mạng nhện do lực đóng búa cực mạnh trong quá khứ.
Khoa đặt chiếc đèn pin nằm ngang trên sàn gạch, điều chỉnh góc chiếu hắt thẳng vào ba vết đinh.
Anh rút con dao găm bên hông ra. Lưỡi thép sáng loáng lách vào khe hở nhỏ giữa mép ván gỗ sồi và gờ gạch móng. Khoa ghì chặt chuôi dao, dùng lực cổ tay bẩy mạnh một cái.
Tiếng gỗ mục nứt toác "rắc" một tiếng khô khốc vang vọng giữa sảnh nhà hoang vắng. Âm thanh ấy giòn tan, dội ngược vào các bức tường vôi rồi tắt lịm trong bóng tối phía trên cầu thang.
Khoa lập tức dừng tay, giữ nguyên tư thế ngồi xổm. Anh nín thở, lắng tai nghe ngóng.
Sau lưng anh, khoảng không gian rộng lớn của tiền sảnh vẫn hoàn toàn im ắng. Chỉ có tiếng gió giật từng cơn đập vào cánh cửa gỗ lim bên ngoài và tiếng còi xe máy từ đường Kim Mã vọng vào yếu ớt. Nhưng linh cảm của một người lính mách bảo anh rằng cấu trúc căn nhà này đang phản ứng lại hành động xâm nhập. Anh liếc mắt nhìn nhanh về phía chiếc bóng của chính mình in dài trên bức tường gạch phía sau. Chiếc bóng đen thẫm nằm bất động, đơn độc, không xuất hiện cái bóng thứ hai nào tách ra như đêm hôm trước.
Khoa thở hắt ra một hơi, tiếp tục dùng mũi dao cạy sâu hơn vào khe nứt.
Mảng gỗ sồi dày chừng hai đốt ngón tay đã ngấm ẩm lâu ngày nên mềm nhũn ở phần ruột. Anh dùng kìm bấm kẹp chặt đầu chiếc đinh sắt gỉ đầu tiên, vặn ngược chiều kim đồng hồ rồi giật mạnh. Cây đinh rỉ đỏ quạch bật tung ra, kéo theo một nắm mùn cưa mục nát rơi lả tả xuống mu bàn chân Khoa. Mùi mốc meo nồng nặc tích tụ hàng chục năm trong vách kín lập tức bốc ra, hăng hắc và chua lòm, khiến cuống họng anh bỏng rát.
Anh dùng sống dao gõ đều quanh mép ván để làm lỏng các chốt gỗ còn lại. Chiếc đinh thứ hai và thứ ba lần lượt bị nhổ bật. Bằng một cú giật dứt khoát của bàn tay đeo găng vải bạt, Khoa bóc trọn mảng ốp gỗ sồi dài chừng nửa mét ra khỏi chân tường.
Bên dưới lớp ván gỗ lộ ra một khoảng hốc tối om, khoét sâu vào lòng khối móng gạch cổ.
Khoa cầm đèn pin soi thẳng vào bên trong. Khoảng hốc này sâu khoảng ba mươi centimet, các cạnh xây bằng gạch thẻ nung già thời Pháp, vữa kết dính bằng mật mía và cát mịn đã khô cứng như đá. Đáy hốc phủ một lớp tro xám mỏng cùng xác những con mối đất đã chết khô từ lâu.
Giữa đống tro tàn hoang phế ấy, một bọc vật thể hình chữ nhật được quấn kỹ bằng nhiều lớp vải bạt dầu quân sự màu xanh ô-liu nằm lọt thỏm trong góc kẹt.
Lớp bạt dầu bên ngoài đã phủ đầy bụi xám và mạng nhện, nhưng chất liệu vải dù pha cao su chuyên dụng thời chiến vẫn giữ cho vật bên trong không bị nước ẩm từ móng nhà ngấm vào. Khoa vươn những ngón tay thô ráp vào sâu trong hốc đá, tóm lấy mép bọc vải rồi cẩn thận lôi ra ngoài.
Vật thể nhẹ bẫng, chỉ nặng chừng vài lạng.
Khoa đặt bọc vải bạt dầu lên đầu gối, phủi sạch lớp bụi đen bám bên ngoài. Anh dùng đầu mũi dao găm rạch nhẹ đường chỉ dù đã mục nát khâu kín mép bọc. Từng lớp vải bạt dày cộp được bóc tách ra một cách cẩn thận.
Bên trong lớp bạt dầu là một tấm bìa cứng màu nâu nhạt, bảo vệ cho một bức ảnh đen trắng khổ lớn, kích thước khoảng hai mươi nhân ba mươi centimet. Bức ảnh được tráng rọi trên loại giấy ảnh dày dặn của thập niên tám mươi, các mép giấy đã ngả sang màu vàng ố theo thời gian nhưng bề mặt ảnh vẫn còn giữ được độ bóng mờ nguyên vẹn.
Khoa đưa đèn pin lại gần, rọi luồng sáng hội tụ vào mặt trước của tấm ảnh.
Đó là một bức ảnh chụp lưu niệm tập thể của phái đoàn ngoại giao. Ở góc dưới bên phải bức ảnh, một dòng chữ in bằng máy đánh chữ mực tím đã phai mờ ghi rõ: *Hà Nội, 15 tháng 10 năm 1989 - Phái đoàn Ngoại giao và Viên chức Biệt thự 300 Kim Mã.*
Trong ảnh có đúng ba mươi mốt con người, đứng xếp thành ba hàng ngay ngắn. Hàng đầu tiên ngồi trên những chiếc ghế gỗ bọc nệm sang trọng, gồm những viên chức cấp cao mặc âu phục chỉnh tề, thắt cà vạt lụa bản to theo mốt cuối thời kỳ bao cấp. Hàng thứ hai và hàng thứ ba là các nhân viên văn phòng, thư ký và nhân viên tạp vụ đứng ngay ngắn phía sau. Những khuôn mặt trong ảnh đều nghiêm nghị, ánh mắt nhìn thẳng về phía ống kính máy ảnh với nụ cười cứng đờ, gượng gạo.
Khoa nhận ra khuôn mặt của ông Cần thời trẻ đứng ở góc ngoài cùng bên phải của hàng thứ ba. Khi ấy, người tạp vụ già vẫn còn là một thanh niên tóc đen nhánh, mặc bộ quần áo bảo hộ lao động màu xanh công nhân phẳng phiu, hai tay buông thõng dọc thân người với vẻ mặt rụt rè.
Ánh mắt Khoa lập tức chuyển về vị trí trung tâm của hàng ghế đầu tiên.
Đó là chỗ ngồi của người đàn ông giữ vị trí cao nhất trong phái đoàn - ngài Đại sứ.
Toàn bộ phần khuôn mặt của viên Đại sứ trong bức ảnh đã bị cào rách nát tơi tả.
Những vết cào sâu hoắm, sắc nhọn xé toạc lớp nhũ bạc trên bề mặt giấy ảnh, để lại những vệt rách trắng xóa, xơ xác và nham nhở. Kẻ thực hiện hành động này dường như đã trút toàn bộ cơn thịnh nộ hoặc sự căm hận tột cùng lên bức ảnh,
dùng một vật bằng sắt cào xới liên tục vào đúng vị trí ngũ quan của người đàn ông, đến mức phần giấy ảnh ở vị trí đó bị thủng một lỗ nhỏ lộ rõ cả lớp bìa lót phía sau. Duy chỉ còn lại vóc dáng cao lớn, bộ âu phục màu xám tro cài huy hiệu ngoại giao trên ve áo và đôi bàn tay đặt trên đầu gối là còn nguyên vẹn.
Một luồng khí lạnh buốt vô cớ chạy dọc sống lưng Khoa.
Khoa nheo mắt, di chuyển luồng sáng đèn pin soi kỹ vào phần hậu cảnh phía sau ba mươi mốt con người trong ảnh.
Bức ảnh được chụp ngay tại sảnh chính của căn biệt thự này, đúng tại vị trí mà anh đang ngồi xổm. Hậu cảnh phía sau nhóm người chính là chiếc cầu thang xoắn ốc bằng sắt đúc uốn lượn quen thuộc. Nhưng khác với hiện tại, hệ thống đèn chùm pha lê trên trần nhà lúc bấy giờ vẫn còn sáng rực rỡ, những bức rèm nhung đỏ thẫm buông dài phủ kín các ô cửa sổ kính.
Điểm khiến cơ bắp toàn thân Khoa lập tức căng cứng nằm ở chiếu nghỉ tầng trên của chiếc cầu thang trong ảnh.
Phía sau lưng nhóm người đang mỉm cười cứng đờ, tại vị trí chiếu nghỉ dẫn lên tầng áp mái, cánh cửa gỗ lớn bằng gỗ lim dày cộp hiện rõ mồn một. Trên cánh cửa ấy, bốn thanh gỗ bản rộng được đóng đinh chéo nhau theo hình hai chữ X khổng lồ bít kín toàn bộ lối đi. Những cây đinh sắt to bản cắm sâu vào khung cửa gỗ, bên trên còn dán chéo hai dải băng niêm phong bằng vải trắng in dòng chữ mực đỏ đã nhòe nhoẹt.
Cánh cửa dẫn lên tầng áp mái đã bị phong ấn và bít kín bằng đinh sắt từ trước thời điểm bức ảnh này được chụp.
Viên Đại sứ và những người trong phái đoàn chụp bức ảnh kỷ niệm này vào năm 1989, khi mà lối lên tầng trên cùng của căn nhà đã là một khu vực cấm kỵ bị niêm phong tuyệt đối.
Khoa lật mặt sau của tấm ảnh lên.
Trên nền giấy ảnh màu vàng ố của mặt sau, có một dòng chữ viết tay bằng bút máy nét thanh nét đậm, nét mực đen đã ngả sang màu tím than. Chữ viết bằng tiếng Pháp, nét chữ run rẩy, nguệch ngoạc và gấp gáp hệt như được viết trong tình trạng hoảng loạn tột cùng:
*"Cửa trên không khóa được thứ bên trong. Chúng nó không bao giờ rời đi. Lỗi lầm thuộc về ta. Ngày cuối cùng của tháng mười hai, cánh cửa sẽ mở từ bên trong."*
Khoa đọc từng từ tiếng Pháp được học trong những năm tháng quân ngũ phục vụ tại các đơn vị đặc biệt. Những ngón tay anh siết chặt lấy mép tấm ảnh. Lời cảnh báo của người viết trùng khớp hoàn toàn với những gì ông Cần đã run rẩy kể lại tại khu tập thể Giảng Võ. Đêm tiệc ly biệt năm ấy không phải là một bữa tiệc chia tay bình thường. Đó là thời điểm phong ấn bị phá vỡ.
Đúng lúc ngón tay cái của Khoa tì mạnh lên dòng chữ viết tay ở mặt sau tấm ảnh, một tiếng "tách" giòn tan vang lên từ khối sắt đúc của chiếc cầu thang xoắn ốc ngay trên đỉnh đầu anh.
Tiếng động rất khẽ, nhưng vang vọng rõ mồn một trong sảnh nhà tĩnh mịch.
Nhiệt độ xung quanh chân cầu thang tụt dốc không phanh. Hơi ẩm hầm hập ban nãy biến mất hoàn toàn, nhường chỗ cho một luồng khí lạnh thấu xương từ kẽ hốc gạch móng vừa bị cạy mở thổi thốc vào mặt Khoa. Luồng khí lạnh mang theo mùi vôi sống nồng nặc và mùi sắt rỉ ẩm ướt, khiến ngọn đèn pin trên tay anh chập chờn, ánh sáng trắng ngả sang màu vàng đục rồi chớp nháy liên tục ba nhịp.
Khoa bật người đứng dậy theo phản xạ chiến đấu, lưng áp chặt vào bức tường gạch dày cộp phía sau, tay phải rút phắt con dao găm thủ ngang tầm ngực.
Ánh đèn pin quét ngược lên cầu thang xoắn ốc.
Trên chiếu nghỉ lưng chừng, tấm gương thủy ngân lớn rỉ ố nằm im lìm trong góc tối. Nhưng trong lòng mặt kính mờ đục ấy, không còn là hình ảnh phản chiếu của đại sảnh hoang tàn rụng vôi vữa.
Bên trong mặt gương, những vệt sáng đèn chùm pha lê vàng rực của thập niên tám mươi đang chập chờn hiện lên sau lớp sương mù thủy ngân dày đặc. Tiếng kim loại cọ xát ken két vang lên từ những bậc thang sắt phía trên cao, kèm theo đó là tiếng bước chân nặng nề, dính nhớp của một thứ gì đó đang chầm chậm giẫm lên từng bậc thang xoắn ốc đi xuống.
Tấm ảnh trong tay Khoa lạnh buốt như một tảng băng, lớp giấy ảnh rung lên bần bật theo từng nhịp đập nơi lồng ngực người lính.