Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 1: Căn Nhà Hoang Đối Diện Hồ Gươm
Gió từ mặt hồ Hoàn Kiếm thổi thốc qua rặng liễu, quét dọc mặt đường Hàng Trống tạo thành từng luồng buốt buốt xộc thẳng vào cổ áo. Đầu mùa đông năm 2006,…
Nội dung chương
Gió từ mặt hồ Hoàn Kiếm thổi thốc qua rặng liễu, quét dọc mặt đường Hàng Trống tạo thành từng luồng buốt buốt xộc thẳng vào cổ áo. Đầu mùa đông năm 2006, Hà Nội bắt đầu những đợt rét ngọt đầu tiên, cái lạnh chưa đủ cắt da cắt thịt nhưng lại mang theo hơi nước ẩm xì từ đáy hồ phả lên, khiến gạch vỉa hè lúc nào cũng nhờn nhẫy bùn đất.
Tôi đứng chôn chân bên ngoài hàng rào tôn màu xanh lam vừa được quây kín vào sáng hôm trước. Tấm biển báo công trường bằng sắt sơn đỏ cắm nghiêng ngả cạnh gốc cây sấu già, rọi dưới ánh đèn cao áp vàng vọt chỉ vỏn vẹn mấy chữ viết vội: "Công trình giải tỏa phá dỡ - Cấm phận sự vào". Phía sau lớp tôn ấy là ngôi nhà số 138. Giới thầu đất phố cổ đồn rằng mảnh đất này tính bằng tiền tạ vàng thoi, nhưng suốt gần chục năm ròng rã, cánh cổng gỗ lim hai cánh dày cộp quay ra mặt phố chưa từng hé mở lấy một lần.
Một trăm hai mươi nghìn đồng cho một ca trực mười hai tiếng, từ bảy giờ tối đến bảy giờ sáng hôm sau. Năm 2006, đó là số tiền quá lớn đối với một thằng thanh niên vừa trượt đại học từ quê Hải Dương dạt lên thủ đô kiếm sống. Với một trăm hai mươi nghìn, tôi có thể trả tiền thuê căn phòng trọ ẩm thấp ngoài bãi Phúc Xá trọn vẹn cả tuần lễ, kèm theo vài bữa cơm bụi có thịt băm sốt cà chua. Nhưng khi nhìn khuôn mặt thâm sì cùng ánh mắt đảo quanh liên tục của ông Thắng, cai thầu dọn dẹp mặt bằng của công ty xây dựng số 4, tôi hiểu cái giá ấy không tự nhiên mà có.
Ông Thắng rít một hơi thuốc lào sòng sọc, phả làn khói xám đục vào màn đêm rồi dập tàn đóm xuống thành điếu cày bằng tre bóng nhẫy. Ông ta chừng hơn năm mươi tuổi, cánh tay gầy guộc chằng chịt những vết sẹo do mảnh vữa hay sắt gỉ cào rách trong mấy chục năm phá dỡ nhà cũ.
"Mày tên Nam đúng không?" Ông Thắng hỏi, giọng khàn đặc vì khói thuốc.
"Vâng, cháu tên Nam." Tôi kéo lại chiếc áo khoác gió cũ mèm, tay xách túi nilon đựng chiếc bình giữ nhiệt và hai ổ bánh mì kẹp chả mua vội ở đầu ngã tư Lê Thái Tổ.
"Được rồi. Tao nói trước cho mày nghe vài điều, chịu được thì nhận việc, không chịu được thì quay xe về bãi trọ ngay bây giờ, tao gọi đứa khác. Tuyệt đối không có chuyện bỏ dở giữa ca rồi đòi thanh toán nửa tiền."
Ông Thắng chỉ tay về phía chiếc bốt trực tạm bợ lợp bằng bốn tấm tôn vụn dựng sát mép trong của hàng rào. Bên trong kê độc một chiếc chõng tre ọp ẹp, chiếc bàn học sinh cũ nát và một bóng đèn tròn hai mươi lăm oát treo lòng thòng bằng sợi dây điện bọc vải xám. Ánh sáng của bóng đèn đỏ quạch, chập chờn theo từng cơn gió luồn qua khe tôn hở.
"Việc của mày chỉ là ngồi ở cái chõng kia, trông chừng vật tư máy móc ngoài bãi tập kết." Ông Thắng hạ giọng, ngón tay trỏ vàng ố vì khói thuốc chĩa thẳng vào khối kiến trúc đen ngòm sừng sững phía sau lưng bốt bảo vệ. "Thằng nào trèo rào vào trộm sắt vụn hay đồ gỗ cũ thì mày cầm gậy gõ mạnh vào thành tôn đuổi đi. Tuyệt đối không được bước chân qua bậc thềm tam cấp của căn nhà chính. Nghe rõ chưa?"
Tôi ngước mắt nhìn theo hướng tay ông ta chỉ.
Căn nhà số 138 hiện ra như một cái hốc tối khổng lồ nằm lọt thỏm giữa hai dãy nhà phố buôn bán sầm uất. Toàn bộ phần tường ngoài quét vôi vàng đặc trưng của kiến trúc Pháp thuộc đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ ra những hàng gạch chỉ đỏ sẫm mủn nát như thịt rữa. Các khung cửa sổ chớp gỗ trên tầng hai đều gãy nan, tối om om, sâu hoắm. Nhưng điều làm tôi rợn tóc gáy hơn cả là cái bóng đen khổng lồ đè nặng trên mái ngói âm dương của nó.
Một cây đa cổ thụ mọc trùm lên đỉnh nóc nhà. Thân cây to lớn khác thường, rễ phụ buông rủ từ ban công gác hai xuống tận nền đất ẩm thấp, quấn chặt lấy các cột trụ xi măng nứt nẻ. Trong bóng tối lờ nhờ của đèn đường bờ hồ hắt vào, những chùm rễ đa dài ngoằng rủ xuống trông tựa hồ từng lọn tóc đen dài của một người đàn bà khổng lồ đang ngồi vắt vẻo trên nóc ngói, buông tóc quét rạp xuống sàn hiên.
"Căn nhà này... trước đây xảy ra chuyện gì hả chú?" Tôi buột miệng hỏi, cổ họng hơi nghẹn lại.
Ông Thắng giật nảy mình, quắc mắt nhìn tôi. Bàn tay cầm điếu cày của ông ta siết chặt lại đến mức nổi rõ những đường gân xanh ngoằn ngoèo.
"Mày đến đây để làm bảo vệ hay để tò mò chuyện thiên hạ?" Ông gắt lên, giọng the thé khác hẳn lúc nãy. "Chuyện nhà người ta, biết ít thì sống lâu. Tao chỉ dặn mày ba điều: Một, sau mười một giờ đêm, có nghe thấy ai gọi tên ngoài rào tôn cũng cấm được thưa. Hai, có tiếng gõ cửa hay tiếng bước chân trong nhà chính thì mặc xác nó, cứ ngồi yên trong bốt, bật cái đài cát-sét lên mà nghe. Ba, cấm tuyệt đối không được nhìn chăm chú lên ngọn đa quá năm giây."
Ông Thắng móc từ túi áo bảo hộ ra một chùm chìa khóa rỉ sét nặng trịch và một cuốn sổ bìa da simili màu xanh rêu đã sờn rách bốn góc, ném cộp xuống mặt bàn tre.
"Đây là sổ trực. Mỗi tiếng ghi lại tình hình một lần. Đúng bảy giờ sáng mai tao ra đổi ca và trả tiền tươi." Không đợi tôi đáp lại, ông Thắng thu dọn chiếc điếu cày, dắt chiếc xe máy Honda Dream lùn cà tàng ra khỏi cổng tôn. Tiếng máy xe nổ giòn rồi nhỏ dần khi ông ta rẽ ngoặt về hướng Hàng Gai.
Tiếng xích sắt khóa cổng lách cách vang lên, nhốt tôi lại trong khoảng sân vuông vức nồng nặc mùi vôi vữa ẩm mốc và mùn cưa mục rữa.
Tôi thở hắt ra một hơi, bước vào bên trong bốt tôn. Chiếc chõng tre kêu cót két dưới sức nặng của thân hình sáu mươi cân. Tôi với tay vặn chiếc đài bán dẫn chạy pin con thỏ mà ông Thắng để lại trên bàn. Một tràng âm thanh rè rè phát ra từ chiếc loa nhỏ bám đầy bụi, xen lẫn giọng nói đều đều của biên tập viên chương trình đêm khuya. Tiếng người phát thanh viên nghe xa xăm, đứt quãng, nhưng ít ra nó cũng xua bớt cái im lặng chết chóc đang đè nặng lên bốn góc sân.
Đồng hồ đeo tay chỉ chín giờ mười lăm phút.
Bên ngoài lớp tôn mỏng, phố Hàng Trống vẫn còn tiếng xe máy chạy qua lại. Tiếng còi xe bóp vội, tiếng cười nói của mấy đôi tình nhân rủ nhau đi dạo ven hồ Gươm, tiếng chuông leng keng từ chiếc xe kem dạo quen thuộc của đất Hà thành. Tất cả những âm thanh sinh hoạt đời thường ấy chỉ cách tôi một tấm tôn sóng dập dày chưa đầy một milimét, nhưng tôi cảm nhận một khoảng cách xa xôi kỳ lạ. Khoảng sân này, căn nhà này dường như thuộc về một thế giới khác, một vùng đất bị thời gian lãng quên và ruồng bỏ giữa lòng thủ đô tấp nập.
Tôi mở cuốn sổ trực cũ kỹ ra xem. Những trang đầu tiên ghi chép từ năm 2004, khi dự án giải phóng mặt bằng còn nằm trên giấy tờ khảo sát. Nét chữ ban đầu nắn nót, ghi rõ số lượng bao xi măng, số khối sắt thép tập kết. Nhưng càng lật về các trang sau, chữ viết càng trở nên xiêu vẹo, nguệch ngoạc.
"Ngày 14 tháng 8 năm 2005: 01 giờ sáng. Mất điện toàn bộ khu vực. Có tiếng trẻ con khóc trên mái ngói. Lên kiểm tra không thấy gì, chỉ thấy đất cát rơi xuống đầu."
"Ngày 22 tháng 9 năm 2005: Không ai dám nhận ca đêm. Thằng Tuấn bỏ ca lúc 2 giờ sáng, bảo nhìn thấy bóng áo xanh ngồi trên chạc ba cây đa."
"Ngày 03 tháng 11 năm 2005: Đã mời thầy về cúng thí thực dưới gốc đa. Thầy bảo đất này nặng nghiệp oán, người chết không đi được, cây đa này là nơi tụ linh. Không đốn hạ được nếu chưa mở cửa ngục."
Đến những trang gần cuối, các dòng nhật ký chỉ còn là những ký hiệu gạch chéo vội vã. Trang cuối cùng ghi cách đây đúng một tuần, chữ viết run rẩy đến mức rách cả giấy: "Nó ở trên trần. Nó nhìn xuống. Nó không cho ngủ."
Gáy tôi bỗng lạnh toát. Tôi vội vàng gập phắt cuốn sổ lại, đẩy nó sang mép bàn. Một luồng gió lạ không biết luồn vào từ ngóc ngách nào làm ngọn đèn dây tóc lắc lư qua lại. Cái bóng của tôi in trên vách tôn méo mó, dập dềnh như một bóng ma đang chực nuốt chửng lấy gian phòng chật hẹp.
Tôi với tay lấy phích nước, rót một cốc nước ấm tráng miệng rồi cắn một miếng bánh mì nguội ngắt. Vị patê khô khốc đọng lại nơi đầu lưỡi. Để trấn an bản thân, tôi lôi chiếc đèn pin vỏ sắt ba pin đại của Trung Quốc ra kiểm tra. Nút bấm trượt lên kêu cạch một tiếng, chùm sáng trắng gom lại thành một vòng tròn rọi thẳng vào góc sân.
Mười một giờ đêm.
Tiếng chuông đồng hồ từ Bưu điện Hà Nội bên kia bờ hồ bắt đầu điểm. Từng tiếng *bính... boong...* ngân dài, trầm đục, vang vọng qua mặt nước hồ Hoàn Kiếm, dội thẳng vào con phố Hàng Trống lúc này đã vắng tanh không một bóng người qua lại. Tiếng chuông thứ mười một vừa dứt, toàn bộ các cửa hàng lưu niệm, hiệu tranh thêu dọc phố đồng loạt tắt ngọn đèn biển hiệu cuối cùng. Con phố chìm hẳn vào bóng tối quánh đặc.
Chỉ còn lại ngọn đèn cao áp ngoài vỉa hè hắt những vệt sáng vàng vọt xuyên qua kẽ rào tôn.
Chiếc đài bán dẫn bên cạnh tôi bỗng dưng nghẹt lại. Tiếng nhạc không lời êm dịu biến mất, thay vào đó là tiếng rít chói tai kéo dài như tiếng móng tay cào trên mặt bảng kim loại. Tôi vội vặn núm điều chỉnh tần số, nhưng loa chỉ phát ra những chuỗi âm thanh lẹt xẹt, xen lẫn tiếng thở dài thườn thượt của ai đó ghé sát vào micro.
"Xoẹt... xoẹt... hu... hu..."
Tôi tắt ngấm chiếc đài. Sự im lặng lập tức ập xuống, nặng nề đến khó thở.
Ngay trên trần ngói của căn nhà cổ, một âm thanh bắt đầu vang lên. Ban đầu, nó chỉ là tiếng lá khô cọ xát vào nhau xào xạc theo từng cơn gió lạnh. Nhưng rồi nhịp điệu của âm thanh ấy thay đổi. Đó không phải tiếng gió thổi vô tri. Đó là tiếng cào cấu. Mười đầu ngón tay với những móng tay dài đang miết mạnh trên những viên ngói máng phủ đầy rêu phong.
*Rột... rột... xoạt...*
Âm thanh di chuyển từ chóp nóc nhà xuống dần phía mép hiên tầng hai. Từng mẩu vôi vữa mục nát rơi lộp độp xuống mặt sân xi măng bên dưới.
Tim tôi đập thình thịch vào lồng ngực. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm lưng áo gió dù gió đêm ngoài hồ thổi vào buốt buốt. Lời dặn dò của ông Thắng vang vọng trong đầu tôi: "Tuyệt đối không được nhìn chăm chú lên ngọn đa quá năm giây." Nhưng nỗi sợ hãi tột cùng lại kéo theo sự tò mò ma quái của con người. Ánh mắt tôi như bị một lực hút vô hình kéo ngược lên phía trên khoảng sân tối om.
Tôi nhích từng bước ra khỏi bốt bảo vệ, ngửa cổ nhìn lên mép ban công gác hai.
Dưới ánh đèn cao áp yếu ớt từ ngoài đường hắt qua khe tôn, tán cây đa cổ thụ hiện rõ mồn một. Những chiếc lá đa hình bầu dục to bản, dày quặp, bóng nhẫy như bôi mỡ đang rung rinh dù xung quanh không hề có gió. Và ở chạc ba nhánh đa lớn nhất vươn ra khỏi mái hiên, một cái bóng màu xám tro đang ngồi bất động.
Cái bóng ấy có hình thù của một người phụ nữ. Tóc dài rũ rượi phủ kín từ đỉnh đầu xuống tận bậu cửa sổ mục nát, che lấp toàn bộ khuôn mặt. Hai cánh tay gầy guộc trắng bệch đưa lên đưa xuống một cách chậm rãi, đều đặn. Cứ mỗi lần cánh tay hạ xuống, một lọn tóc dài lại được vén sang một bên. Người đó đang ngồi chải tóc. Một chiếc lược bằng sừng hay bằng gỗ phát ra những tiếng *rột... roạt...* rờn rợn giữa đêm khuya thanh vắng.
Tôi đứng chết trân tại chỗ, hai chân như chôn chặt xuống nền đất lạnh buốt. Hơi thở tôi tắc nghẹn nơi cuống họng, không thể thốt ra thành tiếng.
Một giây. Hai giây. Ba giây.
Tôi nhớ đến lời dặn của ông Thắng. Cố hết sức bình sinh, tôi giật mạnh ánh mắt xuống đất, quay phắt người lại, lảo đảo lao về phía chiếc chõng tre trong bốt tôn. Tôi ngã dúi dụi vào mép bàn, làm đổ cả cốc nước nguội. Nước tràn ra mặt bàn, thấm ướt một góc cuốn sổ nhật ký trực.
Tôi run rẩy lấy hai tay bịt chặt tai lại, nhắm nghiền mắt, miệng lẩm bẩm những câu kinh Phật mà bà nội từng dạy hồi còn ở quê. Nhưng tiếng cào cấu trên mái ngói không hề dừng lại. Ngược lại, nó bắt đầu biến đổi.
*Bộp. Lẹp bẹp.*
Đó là tiếng bước chân trần.
Tiếng bước chân ướt át, nhơm nhớp bước đi trên những mảnh gạch vỡ nát bên trong lòng căn nhà hoang. Âm thanh ấy vang lên từ tầng hai, đi xuống cầu thang gỗ ọp ẹp, rồi tiến dần ra gian phòng khách tầng một - nơi chỉ cách bốt bảo vệ của tôi một cánh cửa gỗ lim then cài kỹ lưỡng.
Từng bước một. Nặng nề và lê lết.
*Kẹt... kẹt... lẹp bẹp...*
Mùi ẩm mốc bốc lên nồng nặc. Không đơn thuần là mùi vôi vữa của công trường phá dỡ, mà là mùi tanh nồng của bùn đáy hồ lâu năm trộn lẫn với mùi khét lẹt của hương tàn, tro lạnh và một mùi dầu hoa bưởi thoang thoảng chua lòm.
Tiếng bước chân dừng lại ngay phía sau cánh cửa gỗ lim dày cộp của ngôi nhà số 138.
Tôi nín thở. Mọi tế bào trên da gà tôi dựng đứng hết cả lên. Không gian quanh tôi chìm vào một thứ im ắng đến ngạt thở, chỉ còn lại tiếng đồng hồ quả lắc từ một nhà dân nào đó sâu trong ngõ Hàng Trống gõ từng nhịp *tắc... tắc...* rời rạc.
Đột ngột, từ mặt trong của cánh cửa gỗ, ba tiếng gõ vang lên đanh gọn:
*Cộc! Cộc! Cộc!*
Mặt gỗ lim dày mấy tấc rung lên bần bật. Những hạt bụi vôi trắng xóa từ trên khung cửa sổ rớt lả tả xuống bậc thềm tam cấp.
Tôi co rúm người trên chõng tre, hai tay ôm chặt lấy đầu gối. Tôi tự nhủ mình không được cử động, không được lên tiếng. Lão Thắng đã bảo rồi, có tiếng gõ cửa thì mặc xác nó, tuyệt đối không được đáp lời.
Nhưng tiếng gõ không tiếp tục vang lên theo nhịp ba tiếng nữa. Thay vào đó là một chuỗi âm thanh cào cấu dữ dội vào then cài bằng sắt. Tiếng kim loại rỉ sét cọ vào nhau rít lên từng hồi ghê rợn, như thể có ai đó đang dùng hết sức tàn để giật tung chốt khóa từ bên trong để lao ra ngoài sân.
*Rầm! Rầm!*
"Ai... ai ở ngoài đó..." Một giọng nói khàn đặc, yếu ớt của một người phụ nữ vọng ra qua khe hở của cánh cửa mục. Giọng nói mang âm sắc phố cổ rất nhẹ, nhưng lạnh lẽo như thể được phát ra từ đáy một cái giếng sâu hoắm. "... Mở cửa giùm tôi... Chồng tôi... chồng tôi đi làm chưa về..."
Toàn thân tôi run lẩy bẩy như cầy sấy. Chiếc đèn pin đặt trên bàn bỗng dưng tự lăn tròn một vòng rồi rơi tũm xuống nền đất, công tắc trượt bật lên, rọi một vệt sáng thẳng vào khe hở dưới chân cánh cửa chính của căn nhà cổ.
Dưới khe cửa hẹp ấy, một vệt nước màu đỏ sẫm nhờn nhợt đang từ từ rỉ ra, bò loang lổ trên nền xi măng ẩm ướt, hướng thẳng về phía chân tôi.
Tôi lùi lại hết mức có thể, lưng dán chặt vào tấm vách tôn lạnh ngắt của chốt trực. Đúng lúc ấy, trên đỉnh đầu tôi, một giọt nước lạnh buốt rơi trúng ngay sau gáy.
*Tách.*
Cảm giác buốt nhói chạy dọc sống lưng xuống tận gót chân. Tôi đưa tay quệt nhẹ lên gáy. Dưới ánh sáng vàng vọt của bóng đèn dây tóc hai mươi lăm oát, ngón tay tôi dính một chất dịch nhờn nhầy màu xanh đen, bốc lên mùi lá đa vò nát lẫn với mùi tóc ướt để lâu ngày trong bóng tối.
Tôi ngước mắt nhìn lên trần bốt bảo vệ. Tấm tôn lợp phía trên có một lỗ thủng rỉ sét to bằng miệng bát ăn cơm.
Qua lỗ thủng ấy, một chùm rễ đa đen ngòm như những ngón tay khẳng khiu đã luồn qua tự lúc nào, buông thõng xuống ngay phía trên đỉnh đầu tôi. Và giữa những thớ rễ bện chặt ấy, một con mắt mở trừng trừng, đỏ ngầu những tia máu, đang nhìn thẳng xuống mặt tôi không hề chớp.