Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 3: Ba Đời Chủ Không Qua Nổi Nửa Năm

Mùi giấy mốc lâu năm xộc thẳng vào cánh mũi khi ngón tay tôi tách hai mép bìa các-tông đã bở vụn vì ẩm ướt. Căn bốt bảo vệ bằng tôn rung lên từng chập…

Nội dung chương

Mùi giấy mốc lâu năm xộc thẳng vào cánh mũi khi ngón tay tôi tách hai mép bìa các-tông đã bở vụn vì ẩm ướt. Căn bốt bảo vệ bằng tôn rung lên từng chập theo từng cơn gió lạnh thốc từ phía hồ Gươm sang. Bên ngoài, những cành đa cổ thụ trên nóc số nhà 138 vẫn cọ xát vào lớp ngói rêu phong, phát ra chuỗi âm thanh ken két nhức óc. Ngọn đèn tròn hai mươi lăm oát treo tòng teng giữa trần chòi hắt xuống mặt bàn gỗ một khoảng sáng đục ngầu, run rẩy theo nhịp gió lùa qua các khe hở kim loại.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt, kéo chiếc ghế gỗ tạp lại gần bàn rồi ngồi xuống. Đầu ngón tay tôi dính đầy bụi xám xịt của lớp vỏ hồ sơ. Tập tài liệu này dày chừng ba ngón tay, được kẹp lại bằng một chiếc nẹp sắt hoen gỉ đã ăn mòn cả viền giấy bên trong. Trên trang bìa, dòng chữ mực Cửu Long viết tay nắn nót ghi lại toàn bộ tiến trình pháp lý cùng những biến động địa chính của thửa đất số 136 và 138 phố Hàng Trống từ sau ngày tiếp quản thủ đô năm 1954 cho đến tận thời điểm chuẩn bị bàn giao giải tỏa năm 2006.

Đối với bất kỳ người dân Hà Nội nào, khu đất này là một khối tài sản khổng lồ. Vị trí nhìn thẳng ra mặt nước hồ Hoàn Kiếm, chỉ cần bước qua đường là chạm vào rặng liễu rủ ven bờ, nằm ngay vùng lõi buôn bán sầm uất bậc nhất quận Hoàn Kiếm. Giá trị của nó tính bằng từng lạng vàng ròng cho mỗi mét vuông mặt tiền. Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với sự đắt đỏ đến nghẹt thở ấy, căn nhà số 138 lại trơ trọi như một cái huyệt lộ thiên giữa lòng phố thị, cửa đóng then cài im ỉm suốt hàng chục năm ròng rã, để mặc cho rễ cây ký sinh nuốt chửng từng mảng tường vôi.

Tôi lật giở trang tài liệu đầu tiên. Tờ biên bản giám định hiện trạng kỹ thuật được lập vào đầu những năm chín mươi nằm kẹp bên cạnh một xấp trích lục bản đồ địa chính cũ. Giấy pơ-luya mỏng tang, vàng ệch và giòn rụm đến mức mỗi lần lật sang trang mới, tôi đều phải nín thở vì sợ làm rách những dòng chữ đánh máy bằng máy chữ cơ thuở trước.

Trước năm 1954, nơi này từng là một biệt thự hai tầng mang kiến trúc Pháp cổ kết hợp với nhà ống truyền thống, thuộc quyền sở hữu của một gia đình tiểu tư sản ngành dệt. Sau nhiều biến thiên của lịch sử, công trình được phân chia cho nhiều hộ gia đình cùng sinh sống dưới dạng nhà công tư hợp doanh thời kỳ bao cấp. Đó là giai đoạn căn nhà còn đông đúc người ra kẻ vào, tiếng trẻ con khóc, tiếng xoong chảo va đập lẫn trong mùi dầu hỏa và khói than tổ ong đặc quánh. Nhưng sự ồn ã đó không kéo dài mãi.

Khi thành phố bước vào thời kỳ đổi mới, căn nhà dần được gom lại quyền sở hữu thông qua những cuộc chuyển nhượng âm thầm. Đến giữa thập niên chín mươi, toàn bộ khuôn viên số 138 Hàng Trống chính thức thuộc về một chủ nhân duy nhất.

Người đầu tiên đứng tên trên giấy tờ sở hữu tư nhân toàn phần sau thời bao cấp là ông Vũ Đình Kính, một thương nhân buôn bán đồ cổ và vàng bạc có máu mặt tại phố Hàng Gai. Ngày nhận bàn giao nhà được ghi chép rất rõ ràng vào ngày mười lăm tháng tư năm 1994. Kèm theo hồ sơ là bản sao hợp đồng mua bán với số tiền thanh toán khiến tôi phải hoa mắt. Để thâu tóm được toàn bộ mặt bằng này từ các hộ dân diện chính sách cũ, ông Kính đã chi ra một gia tài khổng lồ, đủ để mua đứt cả một dãy nhà mặt phố ở những quận ngoài rìa trung tâm.

Mục đích của ông Kính khi mua căn nhà này được nêu rõ trong biên bản xin phép cải tạo: tầng một dùng làm cửa hàng kinh doanh đồ cổ mỹ nghệ cao cấp phục vụ khách du lịch quốc tế, tầng hai làm không gian sinh hoạt của gia đình. Một kế hoạch kinh doanh hoàn hảo cho một vị trí đắc địa nhìn ra tháp Rùa.

Tôi lật tiếp những trang ghi chú viết tay của cán bộ phòng nhà đất quận thời bấy giờ. Những con chữ bắt đầu trở nên lộn xộn, ghi lại những đợt kiểm tra đột xuất do đơn thư khiếu nại của các hộ dân láng giềng.

Chỉ sau hai tháng dọn về ở, công việc sửa chữa của gia đình ông Kính buộc phải dừng lại toàn bộ. Đơn thư phản ánh từ các nhà số 134 và 140 Hàng Trống ghi nhận những tiếng động lạ phát ra từ căn nhà vào lúc nửa đêm: tiếng gạch vụn rơi rụng liên tục trên trần nhà, tiếng bước chân trần nện thình thịch từ tầng hai chạy dồn dập xuống cầu thang gỗ rồi biến mất ở góc hành lang. Nhưng kinh hãi nhất là lời khai của một người giúp việc cho ông Kính, được viên thanh tra ghi vắn tắt lại trong một tờ giấy biên nhận:

"Bà giúp việc tên H. khai báo, từ đêm rằm tháng năm, bà thường xuyên nhìn thấy bóng một người phụ nữ mặc áo dài xanh đứng nép sau cánh cửa vòm tầng hai nhìn xuống sân trong. Mỗi khi chập tối, trong nhà bốc lên mùi tanh nồng nặc của cá ươn trộn với mùi bùn hôi thối, dù gia đình không hề nấu nướng hải sản. Vợ ông Kính bắt đầu có biểu hiện hoảng loạn, đêm nào cũng la hét bảo có người giật tóc kéo bà xuống giường, sau đó bỏ ăn rồi phát bệnh tâm thần phân liệt, phải đưa vào Bệnh viện Bạch Mai điều trị nội trú."

Ánh mắt tôi dừng lại ở ngày ký chuyển nhượng tiếp theo của căn nhà. Ngày mười tám tháng mười năm 1994.

Đúng năm tháng lẻ ba ngày.

Ông Vũ Đình Kính - một con buôn khét tiếng từng lăn lộn qua bao phen sóng gió thương trường - đã vội vã bán tháo toàn bộ bất động sản này với mức giá chỉ bằng một phần ba số tiền ông bỏ ra ban đầu. Ông chấp nhận cắt lỗ hàng trăm cây vàng, không mang theo bất kỳ món đồ gỗ cổ nào đã kê vào nhà, vội vã đưa người vợ tâm thần cùng con cái bỏ vào Sài Gòn sinh sống ngay trong đêm.

Tôi run rẩy châm một điếu thuốc lá Thăng Long để xua bớt cái lạnh đang bám chặt lấy hai bờ vai. Khói thuốc xanh mờ bay là là dưới ánh đèn tròn, vương vất quanh những trang giấy cũ. Tiếng gió rít qua khe cửa bốt bảo vệ nghe như tiếng thở dài ảo não của ai đó đang ghé sát tai tôi thì thầm.

Tôi lật sang phần hồ sơ của đời chủ thứ hai.

Đó là một công ty trách nhiệm hữu hạn xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuật do một người đàn ông họ Trần làm giám đốc. Sau khi mua lại khu đất từ ông Kính vào cuối năm 1996, vị giám đốc này quyết định không dùng căn nhà để ở mà chuyển đổi thành văn phòng đại diện kết hợp kho chứa hàng mẫu linh kiện điện tử cao cấp. Rút kinh nghiệm từ đời chủ trước, công ty này không cho công nhân đập phá cấu trúc cổ mà chi một khoản tiền lớn mời các thầy pháp từ Bắc Ninh về làm lễ trấn trạch.

Trong tập tài liệu còn lưu lại biên lai thu tiền của đội dịch vụ bốc dỡ và cải tạo nội thất. Thậm chí có cả một bản vẽ tay ghi rõ vị trí chôn bốn chiếc bùa trấn trạch bằng đồng ở bốn góc móng nhà, cùng một chiếc gương bát quái bằng đồng treo chính giữa xà gồ tầng hai. Vị giám đốc tin rằng phong thủy căn nhà bị phạm vào thế sát do cây đa trên nóc đè nặng khí vận, nên đã ra lệnh cho thợ trèo lên chặt tỉa toàn bộ những cành nhánh vươn dài che khuất mặt tiền.

Thế nhưng, tờ biên bản nghiệm thu mặt bằng chưa ráo mực thì tai họa ập đến.

Người thợ đầu tiên leo lên chạc cây đa để cưa cành lớn đã trượt chân ngã từ mái ngói xuống sân trong, gãy lìa hai xương cẳng chân và chấn thương sọ não. Người thợ thứ hai được thuê đến thay thế kiên quyết từ chối trèo lên sau khi vừa đặt chân lên mái ngói, anh ta khai với cơ quan chức năng rằng nhìn thấy một dải vải tang màu trắng quấn chặt lấy cổ mình kéo giật ngược về phía sau. Việc đốn hạ cành đa buộc phải đình chỉ vô thời hạn.

Kể từ ngày văn phòng đi vào hoạt động vào tháng ba năm 1997, những hiện tượng quái gở tiếp tục leo thang. Hai nhân viên bảo vệ luân phiên trực đêm của công ty đều xin nghỉ việc sau chưa đầy một tuần nhận ca. Cả hai người đều có chung một bản tường trình gửi công an phường: cứ đúng nửa đêm, hệ thống máy vi tính và đèn chiếu sáng trong văn phòng tự động bật sáng rực rỡ, bàn phím gõ lách cách như có hàng chục người đang làm việc, nhưng khi bước vào phòng thì nhiệt độ hạ xuống lạnh buốt xương sống, không một bóng người, trên mặt bàn phủ đầy những chiếc lá đa khô úa dù các cửa sổ đều đóng kín then cài.

Biến cố thảm khốc nhất xảy ra vào tháng bảy năm 1997. Vị giám đốc họ Trần trong một chuyến hàng chuyển giao thiết bị từ Hải Phòng về Hà Nội đã vướng vào một vụ buôn lậu kim khí quý với quy mô cực lớn. Toàn bộ tài sản thế chấp bị phong tỏa, công ty tuyên ba phá sản chỉ sau một đêm. Bản thân ông Trần bị cơ quan cảnh sát điều tra bắt tạm giam tại Trại giam Hỏa Lò mới. Chưa đầy hai tháng sau ngày bị bắt, ông ta đã dùng một đoạn dây vải xé ra từ chăn trại giam để thắt cổ tự vẫn ngay trong buồng biệt giam, để lại một khoản nợ khổng lồ không thể chi trả.

Thời gian vị giám đốc sở hữu và sử dụng căn nhà số 138 Hàng Trống: bốn tháng mười chín ngày.

Lưng tôi ướt đẫm mồ hôi dù làn gió đêm từ mé hồ Gươm thổi vào mỗi lúc một buốt giá. Căn nhà này không đơn thuần là một công trình vô tri vô giác làm bằng vôi cát và gạch nung. Nó hành xử giống như một sinh thể u ám, một cái bẫy khổng lồ luôn tìm cách bài xích, xua đuổi hoặc nuốt chửng mọi kẻ trần tục nào dám đặt chân đến cư ngụ hay mưu toan biến nó thành nơi kiếm lợi nhuận.

Tôi nhìn xuống xấp giấy cuối cùng trong tập hồ sơ. Đời chủ thứ ba.

Trái tim tôi bỗng thắt lại khi nhìn thấy hai tấm ảnh thẻ cỡ ba nhân bốn được ghim ở góc trên tờ khai nhân khẩu năm 1999. Đó là một đôi vợ chồng còn rất trẻ. Người chồng tên Phạm Duy Cường, hai mươi tám tuổi, gương mặt sáng sủa, là kỹ sư địa chất của một liên doanh khai khoáng thường xuyên phải đi công tác xa ở các tỉnh vùng cao Tây Bắc. Người vợ tên Nguyễn Thị Bích Liên, hai mươi tư tuổi, giáo viên dạy tiểu học tại một trường dân lập gần phố Lò Đúc. Nụ cười của người phụ nữ trong tấm ảnh thẻ đen trắng dịu dàng và đượm vẻ cam chịu đặc trưng của những cô gái phố cổ.

Họ mua lại ngôi nhà thông qua một cuộc phát mãi tài sản thi hành án của ngân hàng vào cuối năm 1999 với hy vọng tìm kiếm một chốn an cư lạc nghiệp để chuẩn bị đón đứa con đầu lòng. Vì kinh tế còn hạn hẹp, hai vợ chồng chỉ dọn dẹp tạm gian phòng khách ở tầng một để ở, khóa chặt cầu thang gỗ dẫn lên gác hai và khu vực mái ngói nơi cây đa cổ thụ đang vươn rễ chằng chịt.

Trang hồ sơ này không có nhiều biên bản kiểm tra xây dựng hay đơn thư khiếu nại dân sự như hai đời chủ trước. Thay vào đó, kẹp bên trong là một bản trích lục hồ sơ điều tra hình sự của Công an quận Hoàn Kiếm, đóng dấu mộc đỏ tươi nhưng đã phai màu thành một quầng nâu sẫm.

Mắt tôi lướt nhanh qua những dòng chữ in nghiêng lạnh lùng:

"Hồi 23 giờ 15 phút ngày 29 tháng 10 năm 2000. Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại số nhà 138 Hàng Trống về việc xảy ra án mạng đặc biệt nghiêm trọng..."

Một cơn gió mạnh bất ngờ ập tới làm tấm tôn vách bốt bảo vệ va vào khung sắt kêu rầm một tiếng khô khốc. Tôi giật bắn người, điếu thuốc lá trên tay rơi xuống sàn gạch, tàn lửa đỏ vụn vỡ văng tung tóe. Tôi vội dẫm tắt đóm lửa, ngực đập thình thịch, hai tai lùng bùng những tiếng vo ve như có hàng ngàn con côn trùng đang bay lượn quanh đầu.

Tôi cúi xuống, tiếp tục đọc trong hơi thở dồn dập.

Đêm hôm đó trời mưa tầm tã, gió mùa đông bắc tràn về khiến nhiệt độ hạ thấp đột ngột. Người chồng đi công tác xa ở Lào Cai, xe khách bị hỏng trục láp giữa đường đèo nên phải gọi điện về báo sẽ về muộn hơn dự kiến. Người vợ một mình ở nhà, ngồi bên bàn đợi chồng trong gian phòng khách tầng một. Đến khoảng gần hai mươi ba giờ, lợi dụng ngõ vắng đêm mưa và vị trí ngôi nhà cách biệt với các nhà dân xung quanh, một nhóm ba đối tượng mang hung khí đã phá khóa cổng phụ lẻn vào bên trong nhằm cướp tài sản.

Bị người phụ nữ phát hiện và tri hô, những kẻ thủ ác đã ra tay tàn độc. Chúng dùng vật sắc nhọn đâm nhiều nhát vào ngực và bụng nạn nhân, sau đó cướp đi một số nhẫn cưới, dây chuyền vàng cùng chiếc xe máy bấy giờ rồi tẩu thoát qua lối cửa sau thông ra ngõ nhỏ.

Người chồng về đến nhà lúc rạng sáng, sau nhiều giờ vật lộn với chặng đường đèo sạt lở. Khi anh đẩy cánh cửa gỗ lim bước vào, người vợ đã tắt thở từ lâu trên vũng máu lạnh ngắt dưới chân bậc cầu thang, hai mắt vẫn mở trừng trừng nhìn về phía cánh cửa chính, hai bàn tay cào cấu xuống nền gạch đến mức mười đầu ngón tay bật máu, như thể trong những giây phút cuối cùng của sự sống, chị đã cố hết sức lết ra cửa để đón chồng.

Sau biến cố thảm khốc ấy, người chồng hoàn toàn sụp đổ. Anh không bán nhà, cũng không dọn dẹp hiện trường vụ án. Anh ta phát điên, ngày ngày lang thang quanh bờ hồ Hoàn Kiếm trong bộ quần áo rách rưới, miệng lẩm bẩm gọi tên vợ. Được vài tháng, người thân ở quê lên đưa anh về một cơ sở bảo trợ xã hội dưới Hải Dương, rồi anh ta bặt vô âm tín kể từ đó.

Từ sau đêm định mệnh năm 2000, căn nhà số 138 Hàng Trống chính thức bị niêm phong, rơi vào trạng thái vô chủ thực sự. Đôi vợ chồng trẻ đó là những cư dân cuối cùng sinh sống bên trong căn nhà. Thời gian họ ở đó: năm tháng hai mươi ngày.

Ba đời chủ.

Người thứ nhất: năm tháng ba ngày, tán gia bại sản, vợ phát điên. Người thứ hai: bốn tháng mười chín ngày, phá sản, thắt cổ tự vẫn trong tù. Người thứ ba: năm tháng hai mươi ngày, vợ chết thảm dưới tay giặc cướp, chồng hóa điên lang bạt kỳ hồ.

Không một ai sống sót hay tồn tại trọn vẹn quá sáu tháng dưới mái ngói của số nhà 138.

Một luồng hơi lạnh buốt từ phía sau lưng phả thẳng vào gáy tôi. Da gà da vịt trên hai cánh tay tôi nổi rộp lên từng mảng. Tôi cảm giác rất rõ có một cái bóng vô hình đang đứng sừng sững sau lưng mình, nhìn chăm chú qua vai tôi xuống những trang hồ sơ rách nát.

Tôi nuốt nước bọt cái ực, cố gắng trấn tĩnh bản thân. Tôi tự nhủ mình chỉ là một nhân viên bảo vệ hợp đồng tạm thời cho đơn vị phá dỡ, tôi không phải chủ nhà, tôi không có ý định chiếm đoạt hay ở lại mảnh đất này. Nhưng cảm giác ngột ngạt và sự đe dọa vô hình vẫn bóp nghẹt lồng ngực tôi.

Tôi lật đến trang cuối cùng của tập hồ sơ lưu trữ. Đó là một tờ giấy biên bản bàn giao đất trống của phòng quản lý đô thị lập vào năm 2002 khi công trình bắt đầu được đưa vào diện quy hoạch giải tỏa đặc biệt của thành phố để bảo tồn cảnh quan không gian Hồ Gươm.

Ở phần góc dưới cùng bên phải của tờ biên bản, ngay phía dưới chữ ký của người lập biên bản đã chuyển công tác, có một dòng chữ viết tay nguệch ngoạc bằng bút bi xanh đã ngả sang màu tím thẫm. Nét chữ run rẩy, vội vã như được viết trong một cơn hoảng loạn tột cùng:

"Nhà có tiếng khóc oán, không ai trụ nổi."

Dòng chữ bị gạch chân hai lần bằng những nét mực đè mạnh đến rách cả mặt giấy pơ-luya.

Tôi khép tập hồ sơ lại. Tiếng bìa các-tông va vào mặt bàn phát ra một âm thanh khô khốc giữa đêm vắng.

Lúc này, từ phía nóc nhà số 138, một tiếng động quen thuộc lại vang lên. Không phải tiếng cành cây lay động thông thường. Đó là tiếng những chiếc rễ đa dài ngoằng đang cọ quẹt trên mái ngói, từng nhịp, từng nhịp, chậm rãi và ma quái: *rột... roạt... rột... roạt...*

Kèm theo âm thanh ấy, sâu thẳm từ khoảng sân trong ngập tràn bóng tối của ngôi nhà hoang phế, một tiếng nấc nghẹn ngào vọng lại. Tiếng khóc nỉ non, ai oán của một người đàn bà, khi thì như trôi nổi trên những ngọn cây cao vút hứng trọn gió hồ, khi lại như rỉ ra từ chính những khe nứt ẩm mốc dưới chân tường gạch tầng một.

Lời nguyền ba đời chủ nhà không qua nổi nửa năm đang nằm hiển hiện trên từng trang giấy lạnh lẽo trước mặt tôi. Nhưng tập hồ sơ hành chính này chỉ ghi lại phần ngọn của tấn bi kịch, ghi lại những hậu quả bằng những con số ngày tháng vô hồn. Nó không giải thích được vì sao cây đa lại mọc lên từ một vết siết thòng lọng trên chạc cây, cũng không thể lý giải vì sao linh hồn của người vợ bị sát hại năm 2000 lại vẫn đêm đêm cào cửa tìm chồng.

Một nỗi bồn chồn khủng khiếp trỗi dậy trong lòng tôi. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ bốt gác, nơi ánh đèn đường cao áp vàng vọt của phố Hàng Trống đang rọi những vệt sáng nhờ nhợ qua hàng rào tôn.

Ngày mai, khi ca trực đêm kết thúc và mặt trời lên, tôi nhất định phải tìm gặp những người già sống lâu năm quanh khu vực này. Chỉ có ký ức của những bậc cao niên ngồi bên chén trà đặc nơi vỉa hè phố cổ mới có thể kể cho tôi nghe chân tướng về những thứ thực sự đang ẩn nấp dưới tán đa số 138 Hàng Trống.

Chương khác

Xem thêm